ĐTC GPII: 26 năm dẫn dắt Giáo Hội

Bản Văn ‘Rogito’ về đời sống và hoạt động của ĐTC GPII

được đặt trong quan tài của ngài;

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II:

Những gì đã hoàn tất và những gì còn dang dở… cho vị tân giáo hoàng

 

Vào lúc 4 giờ 45 chiều ngày 14/10/1978, 10 ngày sau lễ an táng cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I, 110 vị hồng y tuyển cử cùng với 88 người được chọn để giúp các vị, đã vào phòng mật nghị, hoàn toàn được niêm ấn không được liên lạc gì với thế giới bên ngoài, để tuyển bầu vị thừa kế Đức Gioan Phaolô I.

Vào lúc 6 giờ 18 phút chiều, ngày 16/10, khói trắng đã xuất hiện từ ống khói của Nguyện Đường Sistine báo hiệu rằng các vị hồng y tuyển cử đã chọn được một tân Giáo Hoàng Rôma. 27 phút sau, ĐHY Felici đã xuất hiện ở hàng lang chính bên ngoài Đền Thờ Thánh Phêrô để loan báo việc tuyển chọn Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lên Ngai Tòa Phêrô bằng những lời như sau: "Annuntio vobis gaudium magnum Habemus Papam Carolum Wojtyla, qui sibi nomen imposuit Ioannem Paulum II."

Vào lúc 7 giờ 15 tối, vị tân giáo hoàng, trong bộ phẩm phục trắng truyền thống của giáo hoàng, đã xuất hiện ở cùng một hành lang và nói bằng tiếng Ý những lời hiện nay đã trở thành quen thuộc với hằng chục triệu người trên thế giới: “Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô!”

“Anh chị em thân mến, tất cả chúng ta vẫn còn hết sức buồn đau về cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I rất thân thương. Và giờ đây chư vị hồng y rất khả kính đã kêu gọi được một vị tân giám mục Rôma. Các vị đã kêu gọi người từ một xứ sở xa xăm,… xa, nhưng lại bao giờ cũng gần gũi trong mối hiệp thông đức tin và truyền thống Kitô giáo. Tôi cảm thấy lo sợ khi lãnh nhận việc bổ nhiệm này, thế nhưng tôi chấp nhận trong tinh thần tuân phục Chúa của chúng ta cũng như bằng lòng tin tưởng trọn vẹn vào Đức Mẹ Rất Thánh Mẹ của Người.

“Tôi không biết tôi có thể bày tỏ rõ ràng bằng Ý ngữ của anh chị em, của chúng ta hay chăng. Thế nhưng, nếu tôi có nói sai cách nào, xin anh chị em sửa lại cho tôi. Vậy tôi xin tự giới thiệu mình với tất cả anh chị em, để tuyên xưng đức tin chung của chúng ta, niềm hy vọng của chúng ta, lòng tin tưởng của chúng ta vào Người Mẹ của Chúa Kitô cũng là Mẹ của Giáo Hội, đồng thời để bắt đầu lại con đường của lịch sử cũng như của Giáo Hội này với ơn trợ giúp của Thiên Chúa và sự hỗ trợ của con người”.

Đức Gioan Phaolô II, Hồng Y Karol Wojtyla, tổng giám mục Krakow, được tuyển bầu làm vị Giáo Hoàng thứ 264 vào đợt bỏ phiếu thứ hai trong ngày thứ hai của mật nghị thứ hai năm 1978, chỉ cách 5 tháng sau ngày sinh nhật thứ 58 của ngài. Sáu ngày sau, tức vào ngày 22/10/1978, ngài đã bắt đầu thừa tác vụ mục vụ của mình.

Tính từ ngày 22/10/1978 thì ngày ngài băng hà 2/4/2005 là ngày thứ 9.664 của giáo triều ngài.

Giáo triều của ngài là giáo triều dài thứ ba trong lịch sử giáo hoàng. Giáo triều dài nhất là giáo triều của Thánh Phêrô (số ngày không rõ), sau đó là Giáo Hoàng Piô IX (1846-1878: 31 năm, 7 tháng, 17 ngày).

Trong 26 năm rưỡi làm giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã tổ chức 9 mật nghị để phong tước cho 232 vị hồng y, trong đó có một vị ‘còn giữ kín’. Ngài đã phong tước hồng y cho tất cả (trừ 3 vị) trong 117 vị hồng y tuyển cử sẽ vào mật nghị lần này.

Từ khi bắt đầu giáo triều của mình, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm trên 3 ngàn rưởi trong số gần 4 ngàn 200 vị giám mục trên thế giới. Ngài đã gặp từng người trong các vị một số lần qua nhiều năm, nhất là khi các vị hoàn tất trách nhiệm viếng thăm tòa thánh ngũ niên của các vị “ad limina Apostolorum”.

Ngài đã viết 14 thông điệp, 14 tông huấn, 11 tông hiến, 42 tông thư và 22 tự sắc chưa kể đến hằng trăm sứ điệp và thư tín khác nữa. Để sửa soạn cho Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết Tông Thư “Tiến Đến Ngàn Năm Thứ Ba – Tertio Millennio Adveniente”, đề ngày 10/11/1994, và đã ban hành 4 ngày sau đó. Ngài cũng thiết lập một Tiểu Ban đặc trách Đại Năm Thánh 2000.

Ngài đã viết 5 cuốn sách: Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (1994), Tặng Ân và Mầu Nhiệm (1996), thi tập Roman Triptych (2003), Hãy Chỗi Dạy, Nào Chúng Ta Đi (2004), và Hồi Niệm và Căn Tính (2005).

Vị Giáo Hoàng 84 tuổi này đã chủ sự 15 thượng hội giám mục: 6 thường lệ (1980 về Gia Đình, 1983 về Thống Hối và Hòa Giải, 1987 về Giáo Dân, 1990 về linh mục, 1994 về tu sĩ, 2001 về Giám Mục), 1 ngoại lệ (1985 Công Đồng Chung Vaticanô II 20 năm sau) và 8 đặc biệt (1980 cho Netherlands, 1991 cho Âu Châu lần nhất, 1994 cho Phi Châu, 1995 cho Lebanon, 1997 cho Mỹ Châu, 1998 [2] cho Á Châu và Đại Dương Châu, 1999 cho Âu Châu lần hai).

Qua năm tháng, Đức Thánh Cha đã thực hiện 104 cuộc tông du mục vụ ngoài Ý quốc, cuộc cuối cùng là Lộ Đức vào Tháng 8/2004. Ngài đã thực hiện 143 cuộc viếng thăm trong Ý quốc và gần 700 trong thành và giáo phận Rôma, bao gồm những cuộc viếng thăm 301 trong 325 giáo xứ thuộc giáo phận ngài làm giám mục, không kể đến những dòng tu, đại học, chủng viện, nhà thương, dưỡng viện, nhà tù và trường học.

Với 247 chuyến viếng thăm mục vụ trong và ngoài Ý quốc, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đi 1.167.295 cây số hay 700.380 dặm, trên 28 lần chu vi trái đất hay 3 lần khoảng cách giữa trái đất và mặt trăng.

Trong khi đó, ở tại Rôma, vị Giáo Hoàng này đã tiếp trung bình một triệu người hằng năm, bao gồm giữa 400 đến 500 ngàn người tham dự các buổi triều kiến chung hằng tuần ngoài những ai đến hành sự các cử hành phụng vụ đặc biệt như Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, phong chân phước và hiển thánh. Ngài cũng tiếp khoảng từ 150 đến 180 ngàn người mỗi năm ở các cuộc triều kiến giành riêng cho các nhóm đặc biệt, các thủ lãnh các quốc gia và chính quyền.

Khi bắt đầu giáo triều Đức Gioan Phaolô II, Tòa Thánh Vatican đã có liên hệ ngoại giao với 85 quốc gia. Hiện nay Tòa Thánh liên hệ ngoại giao với 174 nước, cũng như với Khối Hiệp Nhất Âu Châu và Sovereign Military Order of Malta. Tòa Thánh có liên hệ một cách đặc biệt với Liên Bang Nga và Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO: Palestine Liberation Organization).

Theo Văn Phòng Cử Hành Phụng Vụ Giáo Hoàng, trên 26 năm qua, vị Giáo Hoàng này đã thực hiện 143 cuộc phong chân phước cho 1.339 vị và 52 cuộc phong hiển thánh cho 483 vị.

Ngài đã thành lập Viện Gioan Phaolô II đặc trách Sahel vào Tháng Hai năm 1984, và Tổ Chức “Populorum Progressio” đặc trách Các Dân Bản Xứ ở Mỹ Châu Latinh vào Tháng Hai năm 1992. Ngài cũng thành lập Các Giáo Hoàng Học Viện đặc trách Sự Sống và Các Khoa Xã Hội Học. Ngoài ra, ngài thiết lập Ngày Thế Giới Bệnh Nhân (được cử hành hằng năm vào ngày 11/2) từ năm 1993, và Ngày Giới Trẻ Thế Giới từ năm 1985. Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20 vào Tháng 8 này tại Cologne, Đức quốc. Chính Đức Giáo Hoàng chọn các đề tài và diễn giải nội dung của các đề tài ấy trong sứ điệp hằng năm gửi Giới Trẻ thế giới.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ tài liệu của mạng điện toán toàn cầu VIS của Tòa Thánh phổ biến qua điện thư ngày Thứ Hai 2/4/2005.

 

Bản Văn ‘Rogito’ về đời sống và hoạt động của ĐTC GPII được đặt trong quan tài của ngài

 

Sau đây là bản văn ‘Rogito’ về lịch sử và hoạt động của đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II, bản văn được ĐTGM Piero Marini, trưởng ban lễ nghi giáo hoàng, đọc trước khi hạ huyệt và sau đó được ký bởi tất cả những ai hiện diện bấy giờ trước khi đặt nó vào trong quan tài của vị giáo hoàng vừa quá cố.

OBITUS, DEPOSITO ET TUMULATO
IOANNIS PAULI PP II SANCTAE MEMORIAE

Trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh từ trong kẻ chết, vào ngày 2 Tháng Tư năm 2005 của Chúa, vào lúc 9 giờ 37 phút tối, khi mà ngày Thứ Bảy đang qua đi và chúng ta đã bắt đầu sang ngày của Chúa, kết tuần Bát Nhật Phục Sinh và là Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, vị mục tử thân yêu của Giáo Hội là Đức Gioan Phaolô II đã qua đời về cùng Cha. Bằng việc nguyện cầu, toàn thể Giáo Hội đã hỗ trợ cho cuộc ra đi của ngài.

Đức Gioan Phaolô II là vị Giáo Hoàng thứ 264. Hồi niệm về ngài vẫn còn tồn tại trong tâm khảm của Giáo Hội cũng như của toàn thể nhân loại.

Karol Wojtyla, vị đưoơc bầu làm Giáo Hoàng ngày 16/10/1978, đã vào đời ở Wadowice, một thành phố cách Krakow 50 cây số, vào ngày 18/5/1920, và được rửa tội hai ngày sau đó ở Nhà Thờ giáo xứ bởi linh mục Francis Zak.

Ngài đã rước lễ lần đầu khi lên 9 tuổi, và bí tích thêm sức khi được 18 tuổi. Việc học hành của ngài bị gián đoạn bởi việc các lực lượng Nazi chiếm đóng và đóng cửa đại học, ngài đã làm việc ở một mỏ đá, sau đó ở xưởng hóa chất Solway.

Vào năm 1942, biết mình co ơn gọi làm linh mục, ngài bắt đầu những khóa huấn luyện tại chủng viện chui ở Krakow. Ngài đã được thụ phong linh mục ngày 1/11/1946 bởi tay ĐHY Adam Sapieha. Thế rồi ngài được sai đi Rôma học và đã đạt được cấp bằng tiến sĩ về thần học, với luận án Giáo Huấn về Đức Tin nơi Thánh Gioan Thánh Giá "Doctrina de fide apud Sanctum Ioannem a Cruce."

Ngài đã trở lại Balan để thi hành một số nhiệm vụ mục vụ và dạy các khoa học thánh. Vào ngày 4/7/1958, ĐGH Piô XII đã bổ nhiệm ngài làm giám mục phụ tá Krakow. Ngài được Đức Phaolô VI chỉ định làm tổng giám mục của cùng giáo phận này vào năm 1964. Với tư cách giáo phẩm của mình, ngài đã tham dự Công Đồng Chung Vatican II. Đức Phaolô VI đã phong ngài làm hồng y ngày 26/6/1967.

Ngài đã được bầu làm Giáo Hoàng bởi các vị hồng y trong mật nghị ngày 16/10/1978, và đã lấy tên Gioan Phaolô II. Vào ngày 22/10, ngày của Chúa, ngài đã long trọng mở màn cho thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của ngài.

Giáo triều của Đức Gioan Phaolô II là một trong những giáo triều lịch sử Giáo Hội. Trong thời đoạn này, có nhiều sự thay đổi ở một số khía cạnh. Trong số đó được kể đến là việc sụp đổ của một số chế độ do chính ngài đã góp phần của ngài. Ngài đã thực hiện nhiều chuyến tông du đến các quốc gia khác nhau với mục đích để loan truyền Phúc Âm.

Đức Gioan Phaolô II đã thi hành thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của mình với một tinh thần truyền giáo không biết mệt mỏi, tận dụng tất cả mọi nghị lực của mình vì mối quan tâm duy nhất đối với giáo hội “sollicitudo omnium ecclesiarum”, cũng như vì đức ái cởi mở đối với toàn thể nhân loại. Hơn bất cứ một vị tiền nhiệm nào của mình, ngài đã gặp gỡ dân Chúa cũng như các vị lãnh đạo quốc gia, trong các cuộc cử hành, những buổi triều kiến chung và đặc biệt, và trong các cuộc thăm viếng mục vụ.

Việc ngài yêu thương giới trẻ đã khiến ngài khởi xướng Ngày Giới Trẻ Thế Giới, triệu tập cả hằng triệu giời trẻ ở các phần đất khác nhau trên thế giới.

Ngài đã phát động một cách hiệu quả vấn đề đối thoại với những người Do Thái cũng như với những vị đại diện các tôn giáo khác, triệu tập họ mấy lần đến các cuộc gặp gỡ nguyện cầu cho hòa bình, nhất là ở Assisi.

Ngài đã nới rộng Hồng Y Đoàn, khi thiết lập tất cả 231 vị hồng y (chưa kể 1 ‘còn giữ kín’). Ngài đã triệu tập 15 Thượng Hội Giám Mục, 7 thường lệ và 8 đặc biệt. Ngài đã thiết lập nhiều giáo phận, và các chia giáo phận nhất là ở Đông Âu.

Ngài đã canh tân Bộ Giáo Luật Tây và Đông phương, và đã thiết lập thêm 9 cơ cấu cùng tái tổ chức lại Giáo Triều Rôma.

Với vai trò tư tế “sacerdos magnus”, ngài đã thi hành thừa tác vụ phụng vụ ở Giáo Phận Rôma cũng như trên toàn thế giới, hoàn toàn trung thành với Công Đồng Chung Vaticanô II. Ngài đã phát động, một cách gương mẫu, đời sống phụng vụ và thiêng liêng cùng việc cầu nguyện chiêm niệm, nhất là việc tôn thờ Thánh Thể và cầu Kinh Mân Côi (x tông thư Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria"Rosarium Virginis Mariae").

Giáo Hội đã tiến vào ngàn năm thứ ba dưới sự lãnh đạo của ngài và đã cử hành Đại Năm Thánh 2000, theo những điều hướng dẫn được đề ra trong tông thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến "Tertio Millennio Adveniente." Thế rồi đối diện với thời đại mới Giáo Hội nhận được những điều hướng dẫn trong tông thư Vào Lúc Mở Màn Cho Một Tân Thiên Kỷ "Novo Millennio Ineunte" là những gì tín hữu thấy được đường đi nước bước của mình trong tương lai.

Với Năm Thánh Cứu Chuộc, Năm Thánh Mẫu và Năm Thánh Thể, ngài đã phát động việc canh tân thiêng liêng của Giáo Hội. Ngài đã đẩy rất mạnh việc phong hiển thánh và á thánh, cho thấy vô số những gương thánh đức ngày nay là những gì phấn khích cho con người ở thời đại chúng ta đây. Ngài đã công bố Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là Tiến Sĩ Giáo Hội.

Giáo huấn về tín lý của Đức Gioan Phaolô II rất ư là phong phú. Là người bảo quản kho tàng đức tin, với đức khôn ngoan và lòng can đảm, ngài đã làm hết sức để phổ biến tín lý về thần học, luân lý và tu đức Công giáo, cũng như trong suốt giáo triều của mình chống lại những khuynh hướng phản lại truyền thống đích thực của Giáo Hội.

Trong số những văn kiện chính của ngài có 14 thông điệp, 15 tông huấn, 11 tông hiến, 45 tông thư, không kể đến những bài giáo lý được ngài chia sẻ vào các buổi triều kiến chung và những bài diễn từ ngỏ khắp thế giới. Bằng giáo huấn của mình, Đức Gioan Phaolô II đã làm vững mạnh và soi động dân Chúa về tín lý thần học (nhất là nơi 3 thông điệp đầu tiên là Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần “Redemptor Hominis”, Giầu Lòng Xót Thương “Dives in Misericordia” và Là Chúa và là Đấng Ban Sự Sống “Dominum et Vivificantem’), về nhân loại học và về các vấn đề xã hội (về Việc Làm của Con Người "Laborem Exercens," về Mối Quan Tâm Xã Hội của Giáo Hội "Sollicitudo Rei Socialis", và Bách Niên Thông Điệp Tân Sự của Đức Lêô XIII "Centesimus Annus"), về luân lý (Rạng Ngời Chân Lý "Veritatis Splendor" và Phúc Âm Sự Sống "Evangelium Vitae"), về đại kết (Xin Cho Họ Được Hiệp Nhất Nên Một “Ut Unum Sint”), về truyền giáo (Sứ Vụ của Chúa Cứu Thế "Redemptoris Mission"), và về thánh mẫu học (Mẹ Đấng Cứu Chuộc “Redemptoris Mater”).

Ngài đã ban hành cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, theo chiều hướng truyền thống và được giải thích một cách đích thực theo Công Đồng Chung Vaticanô II. Ngài cũng đã phát hành một số sách với tư cách là một Tiến Sĩ.

Giáo huấn của ngài đã đạt đến tuyệt đỉnh, trong Năm Thánh Thể, nơi Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể “Ecclesia de Eucharistia” cũng như nơi Tông Thư Xin Chúa Ở Với Chúng Con “Mane Nobiscum Domine”.

Đức Gioan Phaolô đã lưu lại cho tất cả mọi người một chứng từ đáng khâm phục về lòng đạo đức, thánh thiện và tình cha chung.

 

(Chữ ký của những người chứng dự vào nghi thức an táng…)

CORPUS IOANNIS PAULI II P.M.
VIXIT ANNOS LXXXIV, MENSES X DIES XV
ECCLESIAE UNIVERSAE PRAEFUIT
ANNOS XXVI MENSES V DIES XVII

Semper in Christo vivas, Pater Sancte!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo bản dịch Anh ngữ của Zenit ngày 9/4/2005.

 

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II: Những gì đã hoàn tất và những gì còn dang dở… cho vị tân giáo hoàng

Những gì đã  hoàn tất:

1.     Ban hành Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần Redemptor Hominis ngày 4/3/1979, một thông điệp gồm tóm đường hướng của giáo triều của ngài;
2.     Tông du Balan lần nhất 2-10/6/1979, chuyến tông du quyết liệt cho Khối Công Đoàn Liên Đới quyết liệt tranh đấu bất bạo động cho tới biến cố sụp đổ của Cộng Sản Đông Âu 10 năm sau;
3.     Truyền bá Thần Học Thân Thể (theology of body) qua loạt bài giáo lý đầu tiên trong giáo triều của ngài, về tình yêu và trách nhiệm liên quan đến hôn nhân Kitô giáo, loạt bài kéo dài 5 năm trời, từ ngày 5/9/1979 đến 21/11/1984;
4.     Ban hành Bộ Tân Giáo Luật ngày 25/1/1983;
5.     Mừng Năm Thánh Cứu Chuộc từ ngày 25/3/1983-25/3/1984;
6.     Hiến Dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria vào ngày kết  thúc Năm Cứu Chuộc 25/3/1984, một biến cố đã làm cho Nước Nga trở lại ngày 25/12/1991;
7.     Lập Ngày Giới Trẻ Thế Giới vào Chúa Nhật Lễ Lá năm 1985;
8.     Thành lập Tổ Chức Phát Triển Các Dân Tộc Populorum Progressio Foundation đặc trách Các Dân Bản Xứ ở Mỹ Châu Latinh vào Tháng 2/ 1992;
9.     Ban hành Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ngày 11/10/1992;
10.     Lập Ngày Thế Giới Bệnh Nhân vào Lễ Mẹ Lộ Đức 11/2 hằng năm từ năm 1993;
11.     Lập Giáo Hoàng Học Viện Các Khoa Xã Hội Học 1/1/1994;
12.     Lập Giáo Hoàng Học Viện đặc trách Sự Sống 11/2/1994;
13.     Ban hành Tông Thư Ordinatio Sacerdotalis ngày 22/5/1994 dứt khoát không có vấn đề linh mục nữ;
14.     Vận động thành công trong việc ngăn chặn trào lưu văn hóa sự chết tại Hội Nghị Dân Số Cairô 1994;
15.     Ban hành Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống ngày 25/3/1995 để chống lại văn hóa sự chết và chính thức lấy quyền tối cao của mình để lên án vấn đề phá thai và triệt sinh an tử;
16.     Mừng Đại Năm Thánh 2000 từ Lễ Giáng Sinh 25/12/1999 đến Lễ Hiển Linh 1/6/2001;
17.     Lập Lễ Kính Chúa Tình Thương ngày 30/4/2000, dịp phong thánh cho nữ tu Faustina;
18.     Cử Hành Ngày Xin Lỗi “Day of Pardon”, Chúa Nhật I Mùa Chay 12/3/2000, chính thức thay mặt Giáo Hội lên tiếng xin lỗi những lỗi lầm của con cái Giáo Hội;
19.     Tổ chức Ngày Liên Tôn Cầu Cho Hòa Bình Thế Giới ở Assisi ngày 24/1/2002;
20.     Mở Năm Mân Côi từ ngày 16/10/2002 đến 19/10/2003, với Tông Thư Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria, ban hành vào đúng ngày ngài được bầu làm giáo hoàng 24 năm trước, trong đó ngài thêm 5 mầu nhiệm ánh sáng cho Kinh Mân Côi trọn vẹn là tóm lược Phúc Âm;
21.     Tái ấn định một số vấn đề cần phải tuân giữ hay tránh lánh liên quan đến Bí Tích Cực Linh, qua Bản Hướng Dẫn của Thánh Bộ Phượng Tự và Bí Tích soạn dọn ban hành ngày 23/4/2004;
22.     Mở Năm Thánh Thể từ ngày 10/10/2004 đến 29/10/2005, để đem Giáo Hội, nhờ Mẹ Maria qua Năm Mân Côi, trở về với Nguồn Sống Thần Linh của mình là Thánh Thể, theo chiều hướng “duc in altum”.

Những gì còn dở dang:

1.     Viếng Thăm Iraq, vùng Đất Thánh của Cựu Ước liên quan đến tổ phụ Abraham, nơi Ngài đã hụt đến trong Năm Thánh 2000;
2.     Viếng Thăm Nga Sô, theo lời mời của Tổng Thống Putin hai lần;
3.     Viếng thăm các giáo xứ Rôma, nơi ngài làm giám mục, ngài mới thăm 301 trong 325 giáo xứ;
4.     Năm Thánh Thể, mới được một nửa năm;
5.     Ngày Giới Trẻ Thế Giới 20 tại Cologne Đức Quốc vào Tháng 8/2005, với chủ đề “Chúng tôi đến triều bái Người”;
6.     Thượng Hội Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI 2-29/10/2005;
7.     Giáo Lý cầu nguyện bằng Thánh Vịnh bắt đầu từ ngày 28/3/2001, mới tới bài 131 cho Giờ Kinh Tối Thứ Sáu, tuần thứ hai trong 4 tuần Phụng Vụ Giờ Kinh, còn phải mất cả một năm nữa mới xong.


Tân Giáo Hoàng kế vị:

 

Nếu chiều hướng của vị giáo hoàng quá cố là “thả lưới ở chỗ nước sâu - duc in altum”, một chiều hướng ngài phác họa cho cả Giáo Hội vào thời điểm trước ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba Kitô giáo, như Tông Thư Vào Lúc Mở Màn Cho Một Tân Thiên Niên Kỷ ban hành vào Ngày Lễ Hiển Linh 6/1/2001 để bế mạc Đại Năm Thánh 2000, thì vị giáo hoàng thay ngài phải là vị giáo hoàng nội tâm hơn hoạt động, đau khổ nhiều hơn thành đạt.

 

Có thể nói, nếu giáo triều Gioan Phaolô II là giáo triều huy hoàng nhất lịch sử Giáo Hội Công giáo, chẳng khác nào như Chúa Kitô tiến vào thành thánh Giêrusalem, thì vị giáo hoàng sau ngài sẽ là vị giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly (đó là lý do Năm Thánh Thể chưa kết thúc), vị giáo hoàng của Vườn Nhiệt và của Khổ Nạn. Vị tân giáo hoàng có thể là vị hồng y trong mật nghị hồng y ngày 21/10/2003, một mật nghị chọn tuyển các tân hồng y sau khi ngài trả lời một vị giám mục Á Căn Đình ngày 12/2/2002 rằng người kế vị ngài chưa làm hồng y.
 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL