VỊ GIÁO HOÀNG CỦA

“ĐẤNG CỨU CHUỘC NHÂN TRẦN”

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Viết để Tưởng Kính đầy năm khổ nạn cuối đời của

Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II

 

Nh

“Sự thật về Mầu Nhiệm Cứu Chuộc và Đấng Cứu Chuộc” nơi Đức Gioan Phaolô II

 

Có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, căn cứ vào những chủ hướng minh nhiên và hoạt động hiển nhiên trong một thời gian dài 26 năm rưỡi của mình, một thời gian kéo dài đứng vào hàng thứ 3 của lịch sử Giáo Hội Công Giáo, thì cốt lõi của giáo triều Đức Gioan Phaolô II chính là Mầu Nhiệm Cứu Chuộc.

 

Phải chăng chính Đức Gioan Phaolô II đã chính thức xác nhận điều này khi ngài tự thú trong tác phẩm “Tặng Ân và Mầu Nhiệm Gift and Mystery” (ấn bản Anh Ngữ 1996), một tác phẩm được xuất bản để mừng kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục của ngài, (ở trang 82) như sau:

 

Chúa Kitô là một vị linh mục vì Người là Đấng Cứu Chuộc của thế giới. Chức linh mục của tất cả thành phần giáo sĩ thuộc về mầu nhiệm Cứu Chuộc. Sự thật này về Mầu Nhiệm Cứu Chuộc và Đấng Cứu Chuộc đã từng là những gì trọng yếu đối với tôi; sự thật ấy đã luôn tồn tại trong tôi qua tất cả những năm tháng ấy, nó đã thấm nhập vào tất cả mọi kinh nghiệm mục vụ của tôi, và nó đã tiếp tục cho tôi thấy những điều phong phú mới mẻ.

 

“Trong 50 năm làm linh mục này, tôi đã nhận thức được rằng, Việc Cứu Chuộc, cái giá phải trả cho tội lỗi, bao gồm cả một thứ phục hồi mới, một loại ‘tân tạo’ nơi toàn thể lãnh vực tạo sinh, ở chỗ, nó là những gì tái phục hồi con người là một ngôi vị, phục hồi con người được Thiên Chúa dựng nên có nam có nữ, một phục hồi của chân lý sâu xa nhất về tất cả mọi hoạt động của con người, về văn hóa và văn minh của con người, về tất cả những gì họ chiếm đạt cùng với các khả năng sáng tạo của họ.

 

“Sau khi tôi được bầu làm Giáo Hoàng, cái động lực thiêng liêng đầu tiên tôi cảm thấy đó là hướng về Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc. Đó là nguồn gốc của bức Thông Điệp ‘Redemptor Hominis – Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần’”. Như tôi đã chia sẻ về tất cả những biến cố này, tôi thấy rõ hơn bao giờ hết cái liên hệ chặt chẽ giữa sứ điệp của bức Thông Điệp này với hết mọi sự ở trong tâm can của con người qua việc họ được thông dự vào chức linh mục của Chúa Kitô”.

 

Thật vậy, nếu Mầu Nhiệm Cứu Chuộc là những gì trực tiếp liên quan đến Tác Nhân Cứu Chuộc là chính Đấng Cứu Chuộc, đến đối tượng được cứu chuộc cho khỏi tội lỗi và sự dữ nhất là trong thời điểm văn hóa sự chết ngày nay là con người hiện đại, và đến đường lối cứu chuộc hiện đại là Người Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, thì quả nhiên “Mầu Nhiệm Cứu Chuộc là Cốt Lõi của Giáo Triều Đức Gioan Phaolô II”.

 

Đúng thế, Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần chính là Đấng đã chi phối cả giáo triều của Đức Gioan Phaolô II, từ đầu cho đến cuối, cả về lãnh vực hoạt động lẫn tâm tưởng của ngài.

 

1)         Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần chi phối Hoạt Động cả giáo triều của Đức Gioan Phaolô II

 

Trước hết, để mở màn, cho giáo triều của mình, Đức Gioan Phaolô II đã chính thức ban hành bức thông điệp gói ghém tất cả chủ hướng của giáo triều mình vào ngày Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay 4/3/1979, với tựa đề “Redemptor Hominis - Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”.

 

Sau hết, để kết thúc cho giáo triều của mình, ngài đã mở Năm Thánh Thể, năm hướng về, nhận biết và cử hành Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, Đấng vẫn còn hiện diện trên trần gian qua Bí Tích Thánh Thể và vẫn tiếp tục công cuộc cứu chuộc nhân trần qua Phụng Vụ Thánh Thể.

 

Trong giáo triều của mình, Đức Gioan Phaolô II còn mở Năm Cứu Chuộc 1983-1984, mừng 1950 năm Ơn Cứu Chuộc, một năm được kết thúc vào ngày Lễ Mẹ Thai Lời 25/3/1984, với việc Ngài hiến dâng chung thế giới và riêng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Đấng Cứu Chuộc.

 

Nhưng biến cố quan trọng nhất đó là ngài đã mở Đại Năm Thánh 2000 để toàn thể Giáo Hội hoàn vũ long trọng mừng Mầu Nhiệm Giáng Sinh của Lời Nhập Thể là Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, một Đại Năm Thánh đã được ngài hướng về ngay từ đầu giáo triều của ngài, như chính ngài đã đề cập tới ở đoạn đầu bức Thông Điệp “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần” của ngài, một thời điểm kéo dài cả 21 năm nữa trời (1979-2000), không biết ngài có còn sống tới đó hay chăng.

 

Để sửa soạn cho Đại Năm Thánh 2000 được tổ chức một cách trọng thể vô tiền (có thể nói cả khoáng hậu) này, ngài đã chẳng những ban hành vào ngày 10/11/1994 bức Tông Thư “Tiến Đến Ngàn Năm Thứ Ba – Tertio Millennio Adveniente” để phác họa chương trình sửa soạn xa (1994-1996) và gần (1997-1999), mà còn triệu tập các cuộc Thượng Nghị Châu Lục về những chủ đề liên quan đến Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần:

 

Thượng Nghị Giám Mục Phi Châu, với 242 vị nghị phu, nhóm họp tại Rôma trong thời khoảngï 10/4-8/5/1994, về chủ đề "Giáo Hội ở Phi Châu với sứ mệnh truyền bá Phúc Âm hướng về năm 2000: 'Các con sẽ là nhân chứng của Thày'", một chủ đề đã được ngài đúc kết trong tông huấn “Ecclesia in AfricaGiáo Hội ở Phi Châu” ban hành ngày 14-9-1995, tại Yaoundé nước Cameroon

 

Thượng Nghị Giám Mục Mỹ Châu, với 233 vị nghị phụ, nhóm họp tại Rôma trong thời khoảng 16/11-12/12/1997, với chủ đề "Gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô hằng sống: Con đường dẫn đến Hối Cải, Hiệp Thông và Đoàn Kết", một chủ đề đã được ngài đúc kết trong tông huấn “Giáo Hội ở Mỹ Châu - Ecclesia in America” ban hành dịp ngài thăm Mỹ Châu, tại Mexicô City ngày 22-1-1999;       

 

Thượng Nghị Giám Mục Á Châu, với 191 vị nghị phụ, nhóm họp tại Rôma trong thời khoảng 19/4-14/5/1998, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế với Sứ Mệnh Yêu Thương và Phục Vụ của Người ở Á Châu", một chủ đề được ngài đúc kết trong tông huấn “Giáo Hội ở Á Châu - Ecclesia in Asia” ban hành ngày 6/11/1999, dịp ngài thăm Á Châu ở Tân Đề Li Ấn Độ;       

 

Thượng Nghị Giám Mục Đại Dương Châu, với 117 vị nghị phụ, nhóm họp tại Rôma trong thời khoảng 23/11-12/12/1998, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô và nhân dân Đại Dương Châu - 'Đi Con Đường của Người, nói Sự Thật của Người và sống Sự Sống của Người'", một chủ đề được ngài đúc kết trong tông huấn “Giáo Hội tại Đại Dương Châu - Ecclesia in Oceania” ban hành ngày 22/11/2001, và được ngài, lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, ban hành và gửi đi bằng hệ thống điện toán toàn cầu cho tất cả mọi giáo phận địa phương thuộc châu lục này.           

 

Thượng Nghị Giám Mục Âu Châu, với 117 vị nghị phụ, nhóm họp lần thứ hai, (lần nhất với 137 vị, vào thời điểm sau Biến Cố Đông Âu 1989, trong thời khoảng 28/11-14/12/1991, ngay trước Biến Cố Nước Nga từ bỏ chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản 25/12/1991), vào thời khoảng 1-23/10/1999 tại Rôma, với chủ đề "Chúa Giêsu Kitô vẫn sống nơi Giáo Hội, Nguồn Mạch Hy Vọng cho Châu Âu", một chủ đề được ngài đúc kết trong tông huấn “Giáo Hội tại Âu Châu - Ecclesia in Europe” ban hành ngày 28/6/2003.

 

Để kết thúc Đại Năm Thánh 2000 cũng là để mở màn cho một tân thiên kỷ thứ ba Kitô Giáo, Đức Gioan Phaolô II đã ban hành bức Tông Thư “Mở Màn Cho Một Tân Thiên Kỷ – Novo Millennio Ineunte” vào chính ngày Lễ Hiển Linh 6/1/2001, trong đó, ngài nhấn mạnh đến chủ đề “Duc in altum – Hãy ra chỗ nước sâu thả lưới đánh cá”, ở chỗ, (phần 1) gặp gỡ Chúa Kitô (trong năm Thánh 2000); (phần 2) chiêm ngưỡng Dung Nhan Chúa Kitô; (phần 3) bắt đầu lại từ Chúa Kitô; (phần 4) Chứng nhân tình yêu.

 

Sau hết, để kết thúc giáo triều của mình, (một kết thúc chính ngài cũng không biết sẽ xẩy ra thế nào và bao giờ), ngài đã mở Năm Thánh Thể và ban hành bức Thông Điệp thứ 14, bức thông điệp cuối cùng về Chúa Kitô. Cái trùng hợp ở đây là, trong 14 bức Thông Điệp là các văn kiện có tầm vóc quan trọng vào bậc nhất của thẩm quyền Giáo Hoàng, hai văn kiện đầu và cuối của ngài đều về Chúa Kitô: Nếu bức Thông Điệp thứ nhất về Chúa Kitô, “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần – Redemptor Hominis”, có liên quan tới toàn thể nhân loại, thì bức Thông Điệp thứ 14 về Chúa Kitô có liên quan tới Giáo Hội, tới việc nội bộ Giáo Hội cần phải “duc in altum” để có thể truyền bá phúc âm hóa thế giới tân tiến. Đó là lý do bức Thông Điệp cuối cùng về Chúa Kitô này mới mang tựa đề “Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể – Ecclesia de Eucharistia”.

Trên đây là những chứng cớ hiển nhiên cho thấy Mầu Nhiệm Cứu Chuộc là Cốt Lõi của Giáo Triều Đức Gioan Phaolô II, một mầu nhiệm, trước hết, liên quan trực tiếp tới tác nhân cứu chuộc là Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, Đấng đã chi phối toàn thể hoạt động của giáo triều của vị giáo hoàng thứ 264 này. Sau đây là những tâm tưởng và thâm tín của vị giáo hoàng này về Chúa Giêsu Kitô, những gì được ngài bày tỏ trong 2 văn kiện tiêu biểu Người nói rõ ràng đến chủ đề Mầu Nhiệm Cứu Chuộc của ngài, đó là Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần và Tông Thư Tiến Đến Ngàn Năm Thứ Ba.

 

(Những chỗ in nghiêng và đậm trong phần trích dịch và trích dẫn ở toàn bài viết này là do người dịch muốn nhấn mạnh đến chủ trương cứu chuộc và ý nghĩa cứu chuộc của vị Giáo Hoàng luôn qui hướng về Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần).

 

2)    Những tâm tưởng và thâm tín của vị giáo hoàng này về Chúa Giêsu Kitô trong Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần:

 

"Đấng Cứu Chuộc Nhân Loại là Chúa Giêsu Kitô, trung tâm điểm của vũ trụ và của lịch sử" (đây là câu mở đầu cho cả bức thông điệp).

 

Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần - Trung Tâm Điểm Của Vũ Trụ:

 

"Đấng Cứu Chuộc của thế gian! Nơi Người tỏ hiện, bằng một đường lối mới mẻ và tuyệt vời hơn, chân lý nền tảng liên quan đến việc tạo dựng mà Sách Khởi Nguyên chứng tỏ qua những lần lập đi lập lại: 'Thiên Chúa thấy nó tốt lành' (đoạn 1). Sự tốt lành bắt nguồn nơi Đức Khôn Ngoan và Tình Yêu Thương. Nơi Chúa Giêsu Kitô, thế giới hữu hình mà Thiên Chúa dựng nên cho con người (x.Gen 1:26-30), một thế giới khi tội lỗi đột nhập 'đã lụy thuộc vào sự hư hoại' (Rm 8:20, x.Rm 8:19-22), phục hồi được mối liên hệ với nguồn mạch thần linh nguyên thủy của Đức Khôn Ngoan và của Tình Yêu Thương...

 

"Khi phân tách một cách sâu xa 'cái thế giới tân tiến này', Công Đồng Chung Vaticanô II đã tiến đến một điểm quan trọng nhất của thế giới hữu hình, đó là con người, bằng cách, như Chúa Kitô, tiến sâu vào ý thức con người, và bằng cách chạm đến mầu nhiệm nội tại của con người, cái mà ngôn ngữ thánh kinh cũng như không phải thánh kinh đã diễn tả bằng chữ 'trái tim'. Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc thế gian, là Đấng đã thấu nhập vào mầu nhiệm của con người một cách đặc thù và dứt khoát, cũng như Người đã đi vào 'tâm can' của họ. Bởi thế, Công Đồng Vaticanô II đã có lý khi dạy rằng: 'Sự thật đó là chỉ có ở nơi mầu nhiệm của Lời Nhập Thể mà mầu nhiệm của con người mới được sáng tỏ. Vì Adong, con người đầu tiên, kiểu mẫu của Đấng phải đến (Rm 5:14) là Chúa Kitô. Chúa Kitô, một tân Adong, trong việc mạc khải mầu nhiệm về Cha và về tình yêu của Cha, đã hoàn toàn tỏ cho con người biết về chính con người họ và làm sáng tỏ ơn gọi cao cả nhất của con người'. Công Đồng tiếp: 'Đấng là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Col 1:15), tự Mình là một con người hoàn hảo, Đấng đã phục hồi nơi giòng dõi Adong cái tương tự giống như Thiên Chúa đã từng bị nguyên tội làm biến dạng đi. Bản tính loài người, nhờ được mặc lấy chứ không bị mất đi trong Người, đã được nâng lên nơi chúng ta tới một phẩm vị khôn sánh. Vì, nhờ Việc Nhập Thể của Người, Người, là Con Thiên Chúa, một cách nào đó, đã hiệp nhất mình với mỗi một người. Người đã làm việc với đôi tay nhân loại, Người đã suy nghĩ với trí khôn nhân loại. Người đã tác động với ý muốn nhân loại, và Người đã yêu thương với trái tim nhân loại. Được sinh hạ bởi Trinh Nữ Maria, Người thực sự là một ngưòi trong chúng ta, giống như chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi' (Gaudium et Spes, đoạn 22). Người là Đấng Cứu Chuộc Nhân Loại". (đoạn 8).

 

Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần - Trung Tâm Điểm Của Lịch Sử

 

"Thiên Chúa đã đi vào lịch sử nhân loại, và như là một con người, Ngài đã trở nên một người đi làm lịch sử này, một người trong muôn ngàn triệu triệu con người, song đồng thời cũng Chuyên Biệt! Qua việc Nhập Thể, Thiên Chúa đã ban cho sự sống con người một chiều kích mà Ngài đã định ban cho con người ngay từ ban đầu: Ngài đã ban cho họ chiều kích này một cách dứt khoát - bằng một đường lối dành riêng cho một mình Ngài mà thôi, hợp với tình yêu và lòng thương vĩnh hằng của Ngài, hợp với niềm tự do của Thiên Chúa - và Ngài cũng đã ban nó bằng một lòng bao dung để chúng ta, khi xét đến nguyên tội và suốt giòng lịch sử tội lỗi của nhân loại, cũng như xét đến những lầm lẫn của trí khôn con người, ý muốn và con tim của mình, có thể bồi hồi lập lại những lời của phụng vụ thánh: 'Ôi lỗi lầm diễm phúc... đã làm cho chúng ta được một Đấng Cứu Chuộc cao cả như vậy' (Tụng Ca Lễ Vọng Phục Sinh)..." (đoạn 1).

 

"Thập giá trên đồi Canvê mà Chúa Giêsu Kitô - một Con Người, Con của Trinh Nữ Maria, được nghĩ là con của Giuse Nazarét - 'để lại' cho thế giới này, cũng là một biểu hiện mới mẻ về tình phụ tử đời đời của Thiên Chúa, Đấng mà trong Người, một lần nữa, đến gần nhân loại, gần với mỗi một con người, khi ban cho Người 'Thần chân lý' (Jn16:13) ba lần thánh.

 

"Việc mạc khải này của Cha và việc tuôn đổ Thánh Linh để đóng một niêm ấn không phai nhòa trên mầu nhiệm cứu chuộc đã nói lên ý nghĩa của cây thập giá và cái chết của Đức Kitô. Vị Thiên Chúa của việc tạo dựng được mạc khải như là một Vị Thiên Chúa của việc cứu chuộc, như Vị Thiên Chúa 'trung tín với chính mình' (1Thes 5:24), cũng như trung tín với tình yêu thương của Ngài đối với nhân loại và thế gian, một tình yêu Ngài đã mạc khải vào ngày tạo dựng. Tình yêu của Ngài là một tình yêu không rút lui trước bất cứ một cái gì đòi Ngài phải dùng đến phép công thẳng. Bởi thế, 'vì chúng ta, (Thiên Chúa) đã làm cho Người (Con) là Đấng không biết đến tội lỗi thành tội lỗi' (2Cor 5:21; x.Gal 3:13). Nếu Người 'thành tội lỗi', Người là Đấng không bao giờ có một tội lỗi nào, thì tỏ ra rằng tình yêu luôn luôn cao trọng hơn tất cả mọi tạo vật, một tình yêu là chính Mình Người, vì 'Thiên Chúa là tình yêu' (Jn 4:8,16). Trên tất cả mọi sự, tình yêu vĩ đại hơn cả tội lỗi, hơn cả yếu đuối, hơn cả 'tình trạng hư hoại của tạo vật' (Rm 8:20); nó mạnh hơn cả sự chết; nó là một tình yêu luôn luôn sẵn sàng để nâng cao và tha thứ, luôn luôn sẵn sàng để đi gặp người con hoang đàng (x.Lk 15:11-32), luôn luôn mong đợi 'cuộc thể hiện của con cái Thiên Chúa' (Rm 8:18) là thành phần được kêu gọi 'đến vinh quang sẽ được tỏ hiện' (Thánh Tomas tiến sĩ). Việc mạc khải của tình yêu này cũng được diễn tả như mạc khải của lòng thương xót; và trong lịch sử của con người, mạc khải của tình yêu và lòng thương xót này đã mặc một hình thức và mang một danh hiệu: đó là Giêsu Kitô" (đoạn 9).

 

"Con người không thể nào sống mà không yêu thương. Họ mãi là một hữu thể không hiểu được mình, đời sống của họ vô nghĩa, nếu tình yêu không tỏ hiện cho họ thấy, nếu họ không gặp gỡ tình yêu, nếu họ không cảm nghiệm được nó và làm cho nó thành của mình, nếu họ không mật thiết liên kết với nó. Đó là, như đã nói đến, lý do tại sao Đức Kitô Đấng Cứu Chuộc 'hoàn toàn tỏ cho con người biết về chính con người họ'. Nếu chúng ta cần diễn tả, thì đây là chiều kích nhân loại của mầu nhiệm của việc cứu chuộc. Trong chiều kích này, con người, một lần nữa, tìm được sự cao cả, phẩm vị và giá trị thuộc về nhân tính của họ. Nơi mầu nhiệm của việc cứu chuộc, con người được 'thể hiện' một cách mới mẻ, và, một cách nào đó, được tạo dựng một cách mới mẻ. Con người được tạo dựng một cách mới mẻ! 'Không còn Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ; vì anh em tất cả là một trong Đức Giêsu Kitô' (Gal 3:28). Con người muốn hiểu mình hoàn toàn - không chỉ hợp với những tiêu chuẩn và mức độ trực tiếp, bán phần, thường nông cạn, hay ảo tưởng về hữu thể mình - họ phải đến gần Chúa Kitô, với nỗi khắc khoải và lo âu của họ, cả với nỗi yếu đuối và tội lỗi của họ, với sự sống và cái chết của họ. Như thế, họ phải vào trong Người với tất cả cái tôi riêng của họ, họ phải 'thích hợp' và đồng hóa với toàn thể thực tại của mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc để tìm thấy chính mình. Nếu tiến trình sâu xa này xẩy ra nơi họ, thì họ mới sinh hoa trái, chẳng những nơi việc tôn thờ Thiên Chúa, mà còn nơi cả sự bỡ ngỡ lạ lùng về mình nữa. Con người quí hóa là chừng nào trước mắt của Hóa Công, khi họ 'được một Đấng Cứu Chuộc cao cả như vậy' (tụng ca Lễ Vọng Phục Sinh), và một khi Thiên Chúa 'đã ban Con duy nhất của mình' là để con người 'không phải chết nhưng được sự sống đời đời' (Jn 3:16)”. (đoạn 10).

 

3)     Những tâm tưởng và thâm tín của vị giáo hoàng này về Chúa Giêsu Kitô trong Tông Thư Tiến Đến Ngàn Năm Thứ Ba:

 

“Chúa Giêsu Kitô là một khởi sự mới cho tất cả mọi sự … là mãn nguyện của ước vọng cho mọi tôn giáo trên thế giới” (đoạn 6).

“Chúa Kitô, đấng cứu chuộc thế giới, là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, nên không có một danh hiệu nào khác ở dưới gầm trời này có thể cứu được chúng ta (x.Acts 4:12). Như chúng ta đọc thấy trong Thư gửi cho các tín hữu Êphêsô: ‘Nơi Đức Kitô, chúng ta nhờ máu của Người mà được ơn cứu chuộc, được ơn tha thứ những lỗi phạm của mình, theo ân sủng dồi dào Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên chúng ta. Vì Thiên Chúa đã tỏ cho chúng ta, bằng tất cả khôn ngoan và sáng suốt... mục đích của Ngài đã phác họa nơi Chúa Kitô một dự án cho thời điểm viên trọn, mục đích đó là hiệp nhất tất cả trong Người, những sự trên trời cùng những sự dưới đất’ (1:7-10). Vì thế, Chúa Kitô, Ngôi Con là một với Chúa Cha, là Đấng mạc khải dự án của Thiên Chúa cho tất cả mọi tạo vật, đặc biệt là cho con người. Theo một câu đáng nhớ của Công Đồng Chung Vaticanô II thì Chúa Kitô ‘hoàn toàn tỏ cho con người biết về chính con người và làm sáng tỏ ơn gọi cao trọng của họ’ (hiến chế Gaudium et Spes, đoạn 22). Người tỏ cho chúng ta ơn gọi này bằng việc mạc khải mầu nhiệm về Cha và về tình yêu của Cha” (đoạn 4).

“Đức Kitô, Thiên Chúa thật và là người thật, Chúa của vũ trụ, cũng là Chúa của lịch sử, một lịch sử mà Người là ‘Alpha và Omega’ (Rev.1:8;21:6), là ‘nguyên thủy và là cùng đích’ (Rev.21:6). Nơi Người, Chúa Cha đã nói lên một lời thực sự về con người và về lịch sử của họ. Lời này được diễn tả một cách tóm gọn và hùng hồn qua Bức Thư gửi cho giáo đoàn Do Thái: ‘Bằng nhiều thể nhiều cách, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta nhờ các tiên tri; thế nhưng, trong những ngày sau hết này, Ngài đã nói với chúng ta qua Người Con’ (Heb.1:1-2)” (đoạn 5).

“Chúa Giêsu được sinh ra từ dân tuyển chọn để hoàn tất lời hứa mà Abraham đã lãnh nhận và các tiên tri liên tục nhắc nhớ. Các tiên tri nhân danh Thiên Chúa và thay cho Ngài mà nói. Thật vậy, công cuộc của Cựu Ước được sắp xếp chính là để sửa soạn và loan truyền cho việc Đức Kitô đến, Đấng cứu chuộc hoàn vũ, cũng như cho vương quốc mà Người thiết lập. Bởi thế, những cuốn sách của Cựu Ưùớc mãi mãi là một chứng cớ cho một giáo thuyết thần linh xác thực (x. hiến chế Mạc Khải đoạn 15). Giáo thuyết này đã đạt mục tiêu của nó nơi Đức Kitô: đúng thế Chúa Giêsu không chỉ ‘nhân danh Chúa’ mà nói như các vị tiên tri, mà Người chính là Thiên Chúa nói bằng Lời hằng sống nhập thể của mình. Ở đây chúng ta chạm đến một điểm chính yếu làm cho Kitô giáo khác với tất cả mọi tôn giáo khác, những tôn giáo diễn tả việc con người tìm kiếm Thiên Chúa từ những thời cổ xưa nhất. Khởi điểm của Kitô giáo bắt nguồn từ việc Lời nhập thể. Như thế, không phải là con người tìm kiếm Thiên Chúa, mà là Thiên Chúa đích thân đến nói với chính con người, và chỉ cho con người đường nẻo để con người có thể đến với Ngài. Đó là điều đã được công bố trong Phần Nhập Đề của Phúc Âm thánh Gioan: ‘Chưa có ai đã từng thấy được Thiên Chúa; Người Con duy nhất, Đấng ở trong lòng Cha, Người đã tỏ Cha ra’ (Jn.1:18). Như thế, Lời nhập thể làm thỏa nguyện ước vọng nơi tất cả các đạo giáo của nhân loại. Chính Thiên Chúa đã làm cho con người được thỏa nguyện, ngoài mọi ước mong của con người. Đó là một mầu nhiệm của ân sủng.

“Nơi Chúa Kitô, tôn giáo không còn là một ‘cuộc kiếm tìm Thiên Chúa một cách mù quáng’ (Acts 17:27) nữa, mà là một đáp ứng của đức tin vào Thiên Chúa là Đấng tỏ mình ra. Nó là một đáp ứng mà con người nói với Thiên Chúa như với Hóa Công, với một Người Cha, một đáp ứng đã thành hiện thực nhờ một con người cũng chính là Ngôi Lời, mà nơi Người, Thiên Chúa đã nói với từng người, và nhờ Người mỗi người có thể đáp lại Thiên Chúa. Còn nữa, cũng ở nơi con người này mà mọi tạo vật đáp lại Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là một khởi sự mới cho tất cả mọi sự. Nơi Người, tất cả mọi sự có; chúng được thăng hóa rồi được trả về cho Hóa Công là Đấng dựng nên chúng. Như thế, Đức Kitô là mãn nguyện của ước vọng cho mọi tôn giáo trên thế giới, nên Người làụ tầm mức viên trọn đích thực duy nhất của họ. Thiên Chúa nói thẳng với con người nơi Đức Kitô thế nào, tất cả loài người và toàn thể tạo vật cũng tự mình nói với Thiên Chúa trong Đức Kitô như vậy, thực sự đó là việc tự hiến mình cho Thiên Chúa. Mọi vật trở về với cội nguồn của mình là vậy. Chúa Giêsu Kitô làm cho mọi sự tái tạo (x.Eph.1:10), đồng thời làm hoàn tất mọi sự trong Thiên Chúa: một hoàn tất làm vinh danh Thiên Chúa. Tôn giáo có nền tảng nơi Đức Kitô là một tôn giáo vinh quang; nó là một tầm vóc mới mẻ của sự sống để chúc tụng vinh quang Thiên Chúa (x.Eph.1:12). Tất cả mọi tạo vật thực sự là một biểu hiện của vinh quang Người. Đặc biệt con người (vivens homo) là sự hiển linh của vinh quang Thiên Chúa, một loài được kêu gọi để sống bằng sự sống viên trọn trong Thiên Chúa” (đoạn 6)

“Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa chẳng những nói với loài người mà còn tìm kiếm họ nữa. Việc Con Thiên Chúa nhập thể chứng tỏ là Thiên Chúa đi tìm kiếm con người. Chúa Giêsu nói về việc tìm kiếm này như tìm kiếm một con chiên lạc đàn (x.Lk.15:1-7). Đó là một cuộc tìm kiếm mà khởi điểm bắt đầu từ cõi lòng của Thiên Chúa và đích điểm ở nơi việc nhập thể của Ngôi Lời. Nếu Thiên Chúa đi tìm con người, loài được dựng nên theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài, là vì đời đời Ngài yêu thương họ nơi Ngôi Lời, và trong Đức Kitô Ngài muốn nâng họ lên danh phận làm một người con được thừa nhận. Thế nên, Thiên Chúa đi tìm kiếm con người là sở hữu đặc biệt của Ngài bằng một đường lối không giống như các tạo vật khác. Con người là sở hữu của Thiên Chúa bởi việc yêu thương chọn lựa: Thiên Chúa tìm kiếm con người theo tấm lòng hiền phụ rung cảm của mình.

“Tại sao Thiên Chúa lại tìm kiếm con người? Là vì con người đã bỏ Ngài mà đi, ẩn mình đi như Adong đã làm trong Vườn Địa Đàng (x.Gn.3:8-10). Con người đã để cho mình bị kẻ thù của Thiên Chúa (x.Gn.3:13) làm lạc hướng. Satan đã đánh lừa con người, làm cho con người tin rằng họ cũng là một thần linh, như Thiên Chúa, họ có khả năng biết lành biết dữ, cai trị thế giới theo ý mình mà không cần phải căn cứ vào ý muốn thần linh (x.Gn.3:5). Đi tìm kiếm con người qua Con của mình như thế là Thiên Chúa muốn chinh phục con người, để họ rời bỏ những đường nẻo gian ác đã dẫn họ càng ngày càng đi sai lạc. ‘Làm cho họ rời bỏ’ những đường nẻo này nghĩa là làm cho họ hiểu được rằng họ đang đi sai đường lạc hướng; nghĩa là chế ngự sự dữ ở bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử loài người. Chế ngự sự dữ: đó là ý nghĩa của việc cứu chuộc. Điều này đã được thực hiện nơi việc hy sinh của Đức Kitô, nhờ đó loài người được cứu cho khỏi nợ nần tội lỗi và được hòa giải cùng Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã làm người, nhận lấy một thân xác và một linh hồn trong cung lòng một Trinh Nữ, chính vì: để trở nên một hy tế cứu độ hoàn hảo. Tôn giáo của mầu nhiệm Nhập Thể là một tôn giáo của ơn cứu thế, nhờ hiến tế của Đức Kitô, một hiến tế chiến thắng sự dữ, tội lỗi và chính sự chết. Chấp nhận cái chết trên thập giá là Đức Kitô cùng một lúc vừa tỏ bày sự sống vừa thông ban sự sống, vì Người đã sống lại và sự chết không còn làm gì được Người nữa” (đoạn 7).

Tóm lại, vì Mầu Nhiệm Cứu Độ là Cốt Lõi của Giáo Triều Gioan Phaolô II theo chiều kích “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần” là Lời Nhập Thể này, mà vị Giáo Hoàng đã từng là Nghị Phụ góp phần soạn thảo Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội “Vui Mừng Và Hy Vọng”, như ngài thú nhận trong cuốn Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (ấn bản Anh Ngữ, trang 159), và quyết tâm áp dụng đường hướng cùng giáo huấn của Công Đồng có tính cách mục vụ hướng ngoại như một Giáo Hội Trong Thế Giới Tân Tiến này, đã liên tục giảng dạy và mạnh mẽ hoạt động cho văn hóa sự sống, tức cho những gì hợp với phẩm vị cao quí của con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa nơi Mầu Nhiệm Tạo Dựng, mà còn được cứu chuộc bởi Thiên Chúa nơi Mầu Nhiệm Vượt Qua nữa, và chống văn hóa sự chết là những gì không hợp với thiên chức cùng ơn gọi làm người đã được hoàn toàn sáng tỏ nơi Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa.

Thật thế, về việc giảng dạy văn hóa sự sống chống văn hóa sự chết, trong 16 bức Thông Điệp của mình, ngoài những Thông Điệp về tín lý thần học, như bộ ba Thông Điệp về Ba Ngôi Thiên Chúa: Redemptor Hominis (4/3/1979), Dives in Misericordia (30/11/1980), và Dominum et Vivificantem (18/5/1986), hay bộ 3 Thông Điệp về hoạt động của Giáo Hội: Redemptoris Missio về truyền giáo (7/12/1990), Ut Unum Sint về hiệp nhất (25/5/1995) và Ecclesia de Eucharistia về nội tâm (17/4/2003), còn có 3 Thông Điệp về xã hội: Laborem Exercens (14/9/1981), Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987), và Centesimus Annus (1/5/1991), và 3 Thông Điệp về luân lý: Veritatis Splendor (6/8/1993), Evangelium Vitae (25/3/1995) và Fides et Ratio (14/9/1998). Trong hai bộ ba Thông Điệp về xã hội và luân lý này, ngài đã chính thức loan truyền “Phúc Âm Sự Sống”, nhất là, như các tín điều Thánh Mẫu được hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài dùng quyền tối cao tuyên tín, (Đức Piô IX với Tín Điều Vô Nhiễm ngày 8/12/1854, và Đức Piô XII với Tín Điều Thánh Mẫu Mông Triệu ngày 1/11/1950), ngài cũng đã mạnh mẽ chính thức sử dụng quyền bính tối cao của mình để tuyên tín luân điều của Giáo Hội về sự sống buộc phải tuân giữ, (một sự kiện tuyên tín về luân lý như thế chưa từng xẩy ra trong lịch sử Giáo Hội), trực tiếp liên quan tới vấn đề cấm phá thai (Thông Điệp Evangelium Vitae, khoản 62), cũng như tới hành động không được triệt sinh an tử (khoản 65).

Về những hoạt động cho văn hóa sự sống chống văn hóa sự chết, lịch sử thế giới không thể chối cãi được vai trò ngài đã đóng như “Nguyên Tố gây Sụp Đổ Đông Âu”, “Sứ Giả Hòa Bình Thế Giới ở Thánh Địa và Iraq”, “Khởi Xướng Chiến Dịch Bãi Nợ Quốc Tế”, “Đẩy Mạnh Phong Trào Hủy Bỏ Án Tử Hình”, và “Vô Địch Thủ của Hội Nghị Dân Số Cairô”, (những vấn đề đã được người viết bài này trình bày khá đầy đủ trong cuốn “Đức Gioan Phaolô II: Sống Là Chúa Kitô – Chết Là Vinh Thắng” (Cao-Bùi, 5/2005). Ngài chẳng những hoạt động từ chính Ngai Tòa Phêrô của mình ở Giáo Đô Vatican, mà còn đi khắp thế giới, theo chiều hướng Giáo Hội Trong Thế Giới Tân Tiến, mang “Vui Mừng và Hy Vọng” đến cho loài người, qua 104 chuyến tông du mục vụ, để cổ võ công lý và hòa bình, kêu gọi hết mọi thành phần “Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô”. Bởi vì, theo ngài, con người được Thiên Chúa dựng nên không thể nào được cứu độ và được thăng hóa nếu không có “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”, như được ngài vừa đặt vấn đề vừa giải đáp trong tác phẩm “Vược Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng”, (bản Anh Ngữ, trang 197), như sau:

“Con người là ai, một khi Người Con đi mặc lấy bản tính của con người? Con người này phải là ai, nếu Con Thiên Chúa lại phải trả giá cao nhất cho phẩm vị của họ đây?... Đấng Cứu Chuộc củng cố quyền lợi của con người chỉ nguyên bằng việc phục hồi tính cách trọn vẹn của phẩm vị mà con người đã lãnh nhận khi Thiên Chúa tạo dựng nên họ theo hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài”.
 

Mầu Nhiệm Cứu Độ nơi Đức Gioan Phaolô II: Sống là Chúa Kitô – Chết là Vinh Thắng (x Phil 1:21)

Nếu Mầu Nhiệm Cứu Chuộc, theo cảm nhận và chia sẻ của Đức Gioan Phaolô II được trích dẫn và chứng thực trong bài viết này, là mầu nhiệm liên quan đến Mầu Nhiệm Vượt Qua, tức chẳng những liên quan đến tội lỗi và sự chết, mà còn liên quan đến cả sự sống và vinh quang nữa, thì chính bản thân và cuộc đời Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II đã chứng thực như thế, và do đó, lại càng là một chứng cớ hùng hồn cho khẳng định: Mầu Nhiệm Cứu Chuộc là Cốt Lõi của Giáo Triều Đức Gioan Phaolô II.

Trước hết, về khía cạnh đau khổ và sự chết liên quan tới Mầu Nhiệm Cứu Chuộc, mầu nhiệm mà chính Con Thiên Chúa đã phải trải qua cuộc Khổ Nạn và Tử Giá vô cùng tang thương, nơi cuộc đời làm Giáo Hoàng của ngài, không phải hay sao, chính bản thân của ngài đã bị ám sát, gây ra bởi một tội ác, có thể nói, mở màn cho nạn khủng bố sau này, và cho dù có thoát chết, từ đó, bị ảnh hưởng bởi cuộc ám sát này, sức khỏe của một con người yêu thích thể thao như ngài đã bị sa sút, đến nỗi, nhiều lần dư luận đã cho rằng ngài sắp chết, vì ngài đã được mang vào bệnh viện đến 10 lần, thứ tự như sau: ngày 13/5/1981 ở bệnh viện Gemelli sau khi bị ám sát chết hụt ở Quảng Trường Thánh Phêrô; ngày 20/6/1981, tái nhập bệnh viện này và chịu một cuộc giải phẫu thứ hai vào ngày 5/8, Lễ Đức Mẹ Xuống Tuyết; ngày 15/7/1992, nhập cùng bệnh viện để được mổ vì cục bưới lành ở ruột; ngày 2/7/1993, được chụp CAT scan xem tình hình ra sao sau cuộc giải phẫu năm 1992; ngày 11/11/1993, cũng tại cùng bệnh viện sau khi bị gãy xương vai bên phải; ngày 29/4/1994, lại nhập bệnh viện này vì bị ngã gay xương đùi tối hôm trước; ngày 14/8/1996, nhập bệnh viện Regina Apostolorum Clinic ở Albano để được chụp CAT scan; ngày 8/10/1996, nhập bệnh viện Gemelli để cắt ruột dư; ngày 1/2/2005, nhập bệnh viện Gemelli vì bộ phận hô hấp bị nhiễm trùng cấp tính, cho đến ngày 10/2; và lần cuối cùng cấp tốc trở lại bệnh viện này vào ngày 24/2, vì cúm tái phát gây khó thở, và ở đó cho tới ngày 13/3. Để rồi, vào ngày 31/3, bị nhiễm trùng đường tiểu, và cuối cùng đã qua đời sau đó mấy ngày tại tông phòng của ngài ở Vatican.

Vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, trước khi được trúng tuyển làm giáo hoàng 13 ngày, tức vào hôm 8/4/2005, ở phần cuối bài giảng của mình, đã nhận định về chung con người và về riêng cuộc khổ nạn cuối đời của Đức Gioan Phaolô II như sau:

“Bằng việc chăn dắt đàn chiên của Chúa Kitô, Thánh Phêrô đã đi vào mầu nhiệm vượt qua, thánh nhân đã tiến về phía thập tự giá và về cuộc phục sinh. Chúa Kitô đã nói về điều này bằng những lời: ‘… khi con còn trẻ, con thường tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý con muốn’ (Jn 21:18). Trong những năm đầu của giáo triều mình, những năm còn trẻ trung và đầy nhiệt huyết, Đức Thánh Cha đã đi đến tận cùng trái đất theo sự dẫn dắt của Chúa Kitô. Thế nhưng sau đó, ngài càng ngày càng đi sâu vào cuộc hiệp thông khổ đau với Chúa Kitô; càng hiểu được sự thật của những lời này: ‘Người ta sẽ thắt lưng cho con’. Và trong chính cuộc hiệp thông đau khổ này với Chúa Kitô một cách liên tục và càng gia tăng hơn, ngài đã loan báo Phúc Âm, loan báo mầu nhiệm về một tình yêu thương cho đến cùng tận (x Jn 13:1).

“Ngài đã giải thích cho chúng ta mầu nhiệm vượt qua như là một mầu nhiệm của lòng thương xót Chúa. Trong tác phẩm cuối cùng của mình, ngài đã viết: Cái giới hạn áp đặt trên sự dữ ‘tối hậu là Lòng Thương Xót Chúa’ (Hồi Niệm và Căn Tính, trang 60-61). Và khi suy nghĩ về biến cố mạng sống ngài bị cố sát, ngài đã nói: ‘Trong việc hy hiến mình cho tất cả chúng ta, Chúa Kitô đã cống hiến cho đau khổ một ý nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một trật tự mới, đó là trật tự của yêu thương… Chính cái đau khổ này đốt cháy và thiêu rụi đi sự dữ bằng ngọn lửa yêu thương và rút ran gay từ tội lỗi cả một cuộc bừng nở đầy những thiện hảo’ (cùng nguồn, trang 189-190). Được thôi thúc bởi nhãn quan ấy, vị Giáo Hoàng này đã chịu đựng khổ đau và đã yêu qúi việc hiệp thông với Chúa Kitô, nên đó là lý do tại sao sứ điệp về khổ đau của ngài cùng việc thinh lặng của ngài là những gì thất là sống động và hiệu năng.

Không ai trong chúng ta có thể quên được cảnh tượng diễn ra hôm Chúa Nhật Phục Sinh vừa rồi trong cuộc đời của ngài, Đức Thánh Cha, đầy những đớn đau, lại tiến đến cửa sổ Tông Dinh của mình để ban phép lành ‘urbi et orbi – cho thành Rôma và cho thế giới’ một lần cuối cùng”.

Tưởng cũng nên nhắc đến ở đây một chi tiết liên quan đến khổ đau và sự dữ trong Mầu Nhiệm Cứu Chuộc là Cốt Lõi của Giáo Triều Đức Gioan Phaolô II, đó là, ngoài khổ đau và sự dữ mà chính bản thân ngài phải chịu trong cuộc đời làm Giáo Hoàng của mình, như giá trả thiết yếu trong việc đồng công với Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần để giải thoát con người hiện đại nói chung và Khối Đông Âu nói riêng khỏi sự dữ Cộng Sản vô thần duy vật, ngài còn thiết lập Ngày Bệnh Nhân Thế Giới nữa, từ ngày 13/5/1992, và Ngày Bệnh Nhân Thế Giới đầu tiên được tổ chức tại chính Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức vào chính Lễ Mẹ Lộ Đức 11/2/1993, và sau đó, hằng năm, cũng vào chính ngày Lễ Mẹ Lộ Đức 11/2 này, Giáo Hội cử hành Ngày Thế Giới Bệnh Nhân tại các Đền Thánh Mẫu khắp các châu lục, chẳng hạn như năm 2005 được tổ chức tại Đền Thánh Mẫu ở Yaounde Cameroon, Phi Châu.

Ngoài ra, ngài còn ban hành bức Tông Thư “Khổ Đau Cứu Độ - Salvifici Doloris” ngày Lễ Mẹ Lộ Đức 11/2/1984 trong chính Năm Thánh Cứu Chuộc., vì đau khổ của loài người có liên hệ mật thiết với Mầu Nhiệm Cứu Chuộc của “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”. Sau đây là những lời mở đầu cho bức Tông Thư chất chứa phần nào nội dung của nó:

“Khi loan báo về quyền năng của khổ đau cứu độ, Vị Tông Đồ Phaolô viết: ‘Tôi hoàn tất nơi xác thịt của tôi những gì còn thiếu nơi những cuộc khổ nạn của Chúa Kitô phải chịu vì thân thể của Người là Giáo Hội’ (Col 1:24)

“…Vị Tông Đồ này chia sẻ việc khám phá của mình và hân hoan với việc khám phá đó vì tất cả những ai việc khám phá này có thể giúp hiểu được – như nó đã giúp cho ngài – ý nghĩa cứu độ của khổ đau”. (đoạn 1)

“Đề tài đau khổ là những gì cần phải đặc biệt đối diện trong bối cảnh của Năm Thánh Cứu Chuộc, và sở dĩ như thế, trước hết là vì Việc Cứu Chuộc được hoàn tất nhờ Thập Giá của Chúa Kitô, tức là, nhờ khổ đau của Người. Đồng thời, trong Năm Cứu Chuộc, chúng ta cũng nhắc lại sự thật được diễn tả trong bức Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, đó là, nơi Chúa Kitô, ‘hết mọi người trở thành đường lối cho Giáo Hội’ (khoản 14,18,21,22). Có thể nói rằng, con người đặc biệt trở thành đường lối cho Giáo Hội khi khổ đau xẩy ra cho cuộc sống của họ”. (đoạn 3)

Chưa hết, vị Giáo Hoàng mà chính bản thân ngài cũng là một bệnh nhân trường kỳ đã giành riêng một Ngày Mừng Đại Năm Thánh 2000 cho thành phần bệnh nhân là ngày Lễ Mẹ Lộ Đức 11/2/2000, và đã xức dầu cho riêng 200 bệnh nhân tiêu biểu rồi gặp gỡ chung họ với những lời huấn dụ theo chiều hướng của bức Tông Thư “Khổ Đau Cứu Độ”, như sau:

“Đau đớn và bệnh nạn là số phận nơi mầu nhiệm của con người trên trái đất này. Dĩ nhiên con người vẫn có quyền chiến đấu với bệnh nạn, vì sức khỏe là một tặng ân của Thiên Chúa. Thế nhưng, người ta cũng cần phải làm sao có thể nhận ra dự án của Thiên Chúa mỗi khi đau khổ đến gõ cửa nhà của chúng ta nữa. ‘Chìa khóa’ để có thể nhận thức được điều này ở nơi Thập Giá của Chúa Kitô. Lời nhập thể đã ôm lấy nỗi yếu đuối của chúng ta, mang lấy nó trong mầu nhiệm Thập Giá. Từ bấy giờ, tất cả mọi khổ đau có một ý nghĩa khả dĩ làm cho nó có một giá trị đáng kể. Từ ngày của Cuộc Khổ Nạn, qua 2000 năm rồi, Thập Giá vẫn chiếu sáng như là một cuộc bộc lộ tối hậu mối tình của Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Những ai có thể chấp nhận nó trong đời sống của mình đều cảm thấy rằng, theo ánh sáng đức tin, đau đớn đã trở thành nguồn hy vọng và cứu độ” (đoạn 3.1).

“Quí bệnh nhân thân mến, đây là giây phút tuyệt đỉnh của Cuộc Mừng Kỷ Niệm của anh chị em! Bằng việc bước qua ngưỡng Cửa Thánh, anh chị em hợp với tất cả những ai trên khắp thế giới đã bước qua đó và những ai sẽ bước qua đó trong Năm Mừng Kỷ Niệm này. Chớ gì việc bước qua Cửa Thánh là dấu hiệu của việc anh chị em thiêng liêng tiến vào mầu nhiệm của Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc tử giá và phục sinh, Đấng vì yêu đã mang lấy ‘những sầu thương và gánh chịu những buồn phiền của chúng ta’ (Is 53:4)” (đoạn 4.2).

Sau nữa, về khía cạnh sự sống và vinh quang liên quan tới Mầu Nhiệm Cứu Chuộc nơi cuộc đời làm Giáo Hoàng của ngài, không phải hay sao, trước hết, nhờ cuộc ám sát này, hay nhờ ngài đã đáp lại lời yêu cầu của Trời Cao, trong việc cùng với hàng giáo phẩm trên thế giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ ngày 25/3/1984, mà sau khi nhà lãnh đạo cuối cùng của Khối Cộng Sản Liên Bang Sô Viết xuất hiện đúng 1 năm sau đó, năm 1985, cũng vào Tháng 3, Nước Nga đã từ bỏ chế độ và chủ nghĩa Cộng Sản vào chính ngày Lễ Giáng Sinh 25/12/1991.

Thế rồi, nếu ngài đã bị bệnh vào ngay trước Mùa Chay, nhất là trong suốt Mùa Chay 2005, đến nỗi, vào Chúa Nhật Phục Sinh, ngài bắt đầu bị câm nín, không thể nói được nữa, (ngay khi ngài muốn lên tiếng trước máy vi âm để ban huấn từ Chúa Nhật Phục Sinh), một thời điểm Mùa Chay mà cách đó đúng 26 năm, ngài đã ban hành bức Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, thì ngài đã được về với Đấng tuyên phán: “Thày là sự sống lại và là sự sống” (Jn 11:25) ngay trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, áp Chúa Nhật Lễ Tình Thương.

Và Thánh Lễ An Táng của ngài, được diễn ra vào Thứ Sáu 8/4/2005, có thể nói, vinh quang của Giáo Hội Công Giáo đã lên đến tột đỉnh trong lịch sử của riêng Giáo Hội và của chung thế giới. Thi thể của vị Giáo Hoàng, như hạt múa miến bị mục nát đi mới sinh nhiều hoa trái này (x Jn 12:24), chẳng những đã được dân chúng chờ chực cả nửa ngày trời hay hơn để được kính viếng trong vòng nửa phút trong Đền Thờ Thánh Phêrô, mà cho tới nay, cả 9 tháng sau, Quảng Trường Thánh Phêrô, vẫn còn những hàng người nhẫn nại hằng ngày chờ chực lâu giờ, không phải để viếng Đền Thờ Thánh Phêrô như đã xẩy ra trong Đại Năm Thánh 2000, mà là để được kính viếng thi thể của vị Giáo Hoàng đã được châm chước thời hạn 5 năm trong tiến trình phong chân phước cho ngài, vị Giáo Hoàng “totus tuus” sống động và hiện thực Mầu Nhiệm Cứu Chuộc như Cốt Lõi của một Giáo Triều ở vào cuối thiên niên thứ hai và đầu thiên niên thứ ba Kitô Giáo.

Vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, trong bài chia sẻ ngày 19/4 tại Nguyện Đường Sistine với Hồng Y Đoàn ngay sau ngày được bầu làm Giáo Hoàng, cũng như trong Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật XXIX Thường Niên ngày 16/10/2005, kỷ niệm 27 năm Đức Gioan Phaolô II được bầu làm Giáo Hoàng, đã nhận định về sự kiện “chết là vinh thắng” của vị tiền nhiệm yêu dấu khả kính của mình, như sau:

“Vào lúc này đây, ký ức của tôi nhớ lại cảm nghiệm không thể nào quên được mà tất cả chúng ta đã trải qua với cái chết và lễ an táng cho Đức Gioan Phaolô II tiếc thương. Quanh thi thể của ngài, nằm trên mặt đất trống, các vị lãnh đạo chư quốc đã qui tụ lại, cùng với dân chúng thuộc tất cả mọi giai cấp xã hội, nhất là giới trẻ, để tỏ lòng mãi mãi gắn bó quí mến và ca ngợi ngài. Toàn thể thế giới đã tin tưởng nhìn vào ngài. Đối với nhiều người thì việc tham dự đông đảo này, một cuộc tham dự được các phương tiện truyền thông phóng đại đến cả những nơi xa xôi của hành tinh này, như thể là việc nhân loại văn minh tân tiến, một nhân loại bị hoang mang sợ hãi và bất ổn, đang tự hỏi mình về tương lai, muốn đồng thanh yêu cầu vị Giáo Hoàng này giúp đỡ” (với Hồng Y Đoàn).

“Trước ngôi mộ của ngài trong hầm mộ Vatican, nhiều tín hữu vẫn không ngừng tiếp tục tuốn đến kính viếng, và điều này cho thấy một dấu hiệu hùng hồn là Đức Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta đã đi vào lòng người như thế nào, trước hết, là vì chứng từ yêu thương của ngài và việc ngài sẵn sàng chấp nhận khổ đau. Nơi ngài, chúng ta có thể ca tụng sức mạnh của đức tin và lời nguyện cầu của ngài, và cách ngài hoàn toàn phó thác bản thân ngài cho Đức Maria Rất Thánh, vị luôn đồng hành với ngài và bảo vệ chở che ngài, nhất là trong những lúc khốn khó nhất và bi thảm nhất cuộc đời của ngài” (Huấn Từ Truyền Tin).

Trong bài diễn từ tất niên ngỏ cùng Giáo Triều Rôma ngày Thứ Năm 22/12/2005, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhận định về vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II của mình theo chiều kích Mầu Nhiệm Cứu Chuộc là mầu nhiệm đã được thể hiện qua chính cuộc đời và cảm nhận của vị tiền nhiệm của mình như sau:

“Không có một vị Giáo Hoàng nào như ngài đã để lại cho chúng ta một số lượng văn bản như ngài đã lưu lại cho chúng ta; không có một vị Giáo Hoàng nào như ngài đã có thể viếng thăm toàn thế giới và trực tiếp nói với dân chúng ở tất cả mọi châu lục.

“Thế mà, cuối cùng, số phận của ngài là một cuộc hành trình đau thương và câm nín. Chúng ta không thể nào quên được những hình ảnh Chúa Nhật Lễ Lá, lúc mà, cầm trong tay cành lá cây dầu và cảm thấy đớn đau, ngài đã tiến đến cửa sổ để Ban Phép Lành của Chúa như chính bản thân ngài sắp sửa bước tới cây Thập Tự Giá.

“Sau đó là cảnh ở trong Nguyện Đường Riêng của ngài, lúc mà, cầm Thánh Giá trong tay, ngài tham dự Đường Thánh Giá bấy giờ đang diễn tiến ở Hí Trường Colosseum, nơi ngài rất hay thường vác Thập Giá dẫn đầu đoàn người diễn hành theo sau.

“Sau hết là Phép Lành âm thầm của ngài hôm Chúa Nhật Phục Sinh, nơi phép lành âm thầm này chúng ta đã thấy niềm hứa hẹn của cuộc Phục Sinh, của sự sống đời đời, rạng ngời tỏa sáng qua tất cả mọi nỗi đớn đau của ngài. Bằng cả lời nói và hành động, Đức Thánh Cha đã cống hiến cho chúng ta rất nhiều điều cao cả; bài học này cũng không kém phần quan trọng được ngài ban cho chúng ta từ ngai tòa khổ đau và câm nín.

“Trong cuốn sách cuối cùng của ngài là “Hồi Niệm và Căn Tính” (Weidenfeld and Nicolson, 2005), ngài đã để lại cho chúng ta một dẫn giải về khổ đau, không phải như một thứ lý thuyết về thần học hay triết lý mà là một hoa trái chín mùi qua cuộc hành trình khổ đau của bản thân ngài, một cuộc hành trình khổ đau ngài đã quyết chịu bằng niềm tin tưởng vào Vị Chúa tử giá. Lời dẫn giải này, một việc dẫn giải được ngài khai triển bởi đức tin và là việc dẫn giải mang lại ý nghĩa cho khổ đau của ngài, một khổ đau được ngài chấp nhận trong mối hiệp thông với nỗi khổ đau của Chúa, là việc dẫn giải đã được vang lên qua thái độ âm thầm chịu đựng của ngài, khi ngài biến việc chịu đựng này thành một sứ điệp quan trọng.

“Cả ở phần mở đầu và lập lại một lần nữa ở cuối cuốn sách được đề cập tới trên đây, vị Giáo Hoàng này đã cho thấy rằng ngài cảm thấy rất thấm thía trước cảnh tượng của quyền lực sự dữ, một quyền lực sự dữ chúng ta đã trải qua một cách thê thảm trong thế kỷ vừa chấm dứt. Ngài nói trong cuốn sách này rằng: ‘Sự dữ này… không phải là một thứ sự dữ có tầm mức nhỏ hẹp… Nó là một sự dữ có những tầm vóc khổng lồ, một sự dữ được tổ chức đàng hoàng để thực hiện hoạt động gian ác của nó, một sự dữ trở thành một cơ cấu’ (trang 189).

“’Phải chăng sự dữ là những gì bất khả thắng? Phải chăng nó là một quyền năng tối hậu của lịch sử?’ Vì kinh nghiệm về sự dữ, mà đối với Giáo Hoàng Wojtyla, vấn đề cứu chuộc đã trở thành thiết yếu và là vấn đề trọng yếu trong đời sống của ngài và được suy tưởng như là một Kitô hữu. Có một giới hạn nào đó chống lại những gì bị quyền lực sự dữ này hủy hoại hay chăng? ‘Có chứ’, vị Giáo Hoàng này đã trả lời trong cuốn sách ấy của ngài cũng như trong Thông Điệp về việc cứu chuộc của ngài.

“Quyền năng hạn chế sự dữ này là Lòng Thương Xót Chúa. Bạo lực, hình thức thể hiện của sự dữ, bị Lòng Thương Xót Chúa chống lại qua giòng lịch sử. Chúng ta có thể nói theo Sách Khải Huyền là Con Chiên mạnh hơn con rồng.

“Ở cuối cuốn sách, bằng việc ôn lại quá khứ về cuộc tấn công vào ngày 13/5/1981, và dựa vào căn bản của kinh nghiệm nơi cuộc hành trình của ngài với Thiên Chúa cũng như với thế giới, Đức Gioan Phaolô II còn giải đáp vấn đề này một cách sâu xa hơn nữa.

“Cái hạn chế quyền lực sự dữ, cái quyền lực chế ngự nó, theo cách ngài nói, đó là nỗi khổ đau của Thiên Chúa, nỗi khổ đau của Người Con Thiên Chúa trên Thập Tự Giá: ‘Nỗi khổ đau của Vị Thiên Chúa Tử Giá không phải chỉ là một hình thức khổ đau duy nhất trong số những hình thức khổ đau khác…. Bằng việc hy sinh bản thân mình vì tất cả chúng ta, Chúa Kitô đã cống hiến cho đau khổ một ý nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một tầm vóc mới, đó là tầm vóc yêu thương…. Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trên Thập Giá là những gì cống hiến cho đau khổ một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ, biến đổi nó tự bản chất… Chính cái đau khổ này thiêu đốt và làm tiêu hao đi sự dữ, bằng ngọn lửa yêu thương…. Tất cả khổ đau của loài người, tất cả mọi đớn đau, tất cả mọi yếu đuối bạc nhược đều chất chứa nơi mình một hứa hẹn cứu độ; …. Sự dữ hiện diện trên thế giới một phần là để khơi động lên lòng yêu thương trong chúng ta, một tình yêu trao hiến bản thân mình trong việc phục vụ cách quảng đại và vô tư những ai bị khổ đau dằn vặt… Chúa Kitô đã cứu thế giới: ‘Chúng ta đã được chữa lành nhờ những vết thương của Người’ (Is 53:5) (trang 189 và sau đó).

“Tất cả những điều này không phải chỉ là một thứ thuần kiến thức về thần học, mà là một bày tỏ của một đức tin sống động và trưởng thành qua đau khổ. Chắc chắn là chúng ta cần phải làm mọi sự có thể để giảm bớt khổ đau và ngăn ngừa tình trạng bất công là những gì gây cho thành phần vô tội khổ đau. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải làm mọi sự trong tầm tay của mình để giúp con người có thể khám phá ra được cái ý nghĩa của khổ đau, nhờ đó, họ biết chấp nhận khổ đau của họ và liên kết nó với khổ đau của Chúa Kitô.

“Có thế, nó mới hòa nhập với tình yêu thương cứu chuộc và nhờ vậy mới trở thành một quyền năng chống lại sự dữ trên thế giới này.

“Việc đáp ứng khắp thế giới trước cái chết của vị Giáo Hoàng này là việc nhiệt liệt bày tỏ lòng tri ân về sự kiện là ngài đã hoàn toàn hiến thân cho Thiên Chúa vì thế giới, khi thi hành thừa tác vụ của ngài; một lời tạ ơn cho sự kiện là trong một thế giới đầy hận thù và bạo lực này, ngài đã dạy một cách mới mẻ tình yêu thương và khổ đau trong việc phục vụ tha nhân; có thể nói ngài đã tỏ cho chúng ta thấy trong xác thịt Đấng Cứu Chuộc, việc cứu chuộc, và đã cống hiến cho chúng ta niềm tin tưởng rằng, thật ra sự dữ không phải là phán quyết tối hậu trên thế gian này”.

Tóm lại, đối với Đức Gioan Phaolô II, tác giả cuốn sách triết học nhân bản “Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” năm 1994, và là Vị Giáo Hoàng của “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”, nhờ “Người Mẹ của Đấng Cứu Chuộc”, đã nỗ lực mang “Vui Mừng và Hy Vọng” đến cho thành phần Thụ Nhân Cứu Chuộc là nhân loại tân tiến cuối thiên kỷ thứ 2 và đầu thiên kỷ thứ 3 Kitô Giáo, thì ngay cuối đường hầm sự dữ le lói ánh sáng sự sống, ngay trong tận cùng khổ đau nung nấu mầm hy vọng, hay nói ngược lại, khổ đau là kích tố hy vọng, sự dữ là cuộc vượt qua để vào sự sống, và sự dữ cùng khổ đau hướng về việc cứu độ và niềm vui, như chính ngài đã xác tín, khẳng định và loan truyền như thế trong tác phẩm “Hồi Niệm và Căn Tính” cuối đời của mình, những lời sau hết (ở trang 168 ấn bản Anh Ngữ) được ngài viết ra chẳng những để hoàn toàn kết thúc một tác phẩm triết học luân lý (đã bắt đầu được thai nghén từ năm 1993) của mình, mà tự chúng còn chứng thực cảm nhận “Mầu Nhiệm Cứu Chuộc là Cốt Lõi của Giáo Triều Đức Gioan Phaolô II”:

“Tất cả mọi khổ đau của loài người, tất cả mọi nhược bại yếu hèn, đều chất chứa nơi chúng niềm hứa hẹn cứu độ, niềm hứa hẹn hoan lạc: ‘Tôi giờ đây hân hoan nơi những khổ đau của mình vì anh chị em’, Thánh Phaolô đã viết như thế (Col 1:24). Điều này áp dụng cho tất cả mọi hình thức khổ đau là những gì xuất phát từ sự dữ. Nó áp dụng cho cái sự dữ cả thể về xã hội lẫn chính trị đang xâu xé và hành hạ thế giới ngày nay: sự dữ chiến tranh, sự dữ đàn áp hành khổ cá nhân con người cùng các dân tộc, sự dữ của tình trạng bất công xã hội, của tình trạng phẩm giá của con người bị chà đạp, của tình trạng kỳ thị về chủng tộc và tôn giáo, sự dữ bạo động, khủng bố, thi đua võ trang – tất cả mọi sự dữ này, đang hiện diện trên thế giới đây, một phần, là để khơi động tình yêu của chúng ta, khơi động việc chúng ta hiến mình một cách quảng đại và vô vị lợi trong việc phục vụ những ai đang bị khổ đau day dứt. Nơi tình yêu xuất phát từ trái tim của Chúa Kitô, chúng ta thấy được niềm hy vọng của thế giới. Chúa Kitô đã cứu chuộc thế giới: ‘Chúng ta đã được chữa lành bởi các thương tích của Người’ (Is 53:5)”.


 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL