Giáo Hội
Dấu Chỉ Thời Đại Cánh Chung
|
Q |
ua ba buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống trong Tháng 4/2005, ở tần số 106.3 FM Nam California vào mỗi tối Thứ Sáu hằng tuần từ 9 đến 9:30 tối (những buổi phát thanh đồng thời cũng được phổ biến qua mạng điện toán toàn cầu www.tinmungsusong.org), căn cứ vào những “dấu chỉ thời đại”, dấu chỉ từ vị giáo hoàng trước, tôi đă suy đoán hay phỏng đoán, (hơn là tiên báo, v́ cũng có cả những điều hơi sai lẫn hoàn toàn chính xác), những ǵ chính yếu cũng đă thực sự xẩy ra cho vị cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI.
Về vị cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, theo tôi, trong buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 238, Thứ Sáu 1/4/2005, ngài sẽ qua đời vào Lễ Chúa T́nh Thương, Chúa Nhật 3/4/2005, và ngài đă tạ thế vào lúc 9 giờ 37 phút tối ngày Thứ Bảy 2/4, tức vào thời điểm áp Lễ Chúa T́nh Thương, và thực sự đă có một Thánh Lễ kính Chúa T́nh Thương được cử hành ở pḥng ngài lúc 8 giờ tối, trước khi ngài tạ thế nhắm mắt ĺa đời sau 26 năm rưỡi là hiện thân sống động của Ḷng Thương Xót Chúa, qua vai tṛ mục tử nhân lành của ḿnh, một vị chủ chiên đă đi khắp thế giới để trấn an và kêu gọi mọi người rằng “Đừng sợ… Hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô” (bài giảng Lễ đăng quang ngày 22/10/1978), v́ Người là “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần” (nhan đề của bức Thông Điệp đầu tiên của ngài ban hành Chúa Nhật 1 Mùa Chay 4/3/1979).
Về vị tân Giáo Hoàng Biển Đức, vào buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 240, Thứ Sáu 15/4/2005, tức vào thời điểm gần đến mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng (Thứ Hai 18/4/2005), căn cứ vào vinh hiển của giáo triều đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một vinh hiển tột đỉnh được thể hiện rạng ngời nơi lễ an táng của ngài có thể nói vô tiền khoáng hậu, chẳng khác nào như Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, tôi tự nhiên linh cảm thấy rằng vị tân giáo hoàng phải là một vị giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly, một bữa tiệc ly có liên quan tới vấn đề hiệp nhất Kitô giáo; để rồi, vào ngày 20/4/2005, Thứ Tư, cuối Thánh Lễ đầu tiên sau khi được bầu làm giáo hoàng, chính Vị Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă ngỏ lời cùng hồng y đoàn để minh định chủ trương và quyết tâm của ḿnh trong việc dân thân thực hiện ưu tiên đệ nhất của giáo triều ngài là vấn đề Đại Kết Kitô giáo.
Và vào buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 241, Thứ Sáu 22/4/2005, tôi đă kêu gọi thính giả đón đọc tác phẩm: “Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhật Kitô Giáo và của Một Tân Âu Châu” do tôi biên soạn sẽ được phổ biến trong Tháng 5/2005; thế rồi, vào ngày Thứ Tư 27/5/2005, trong buổi triều kiến chung đầu tiên của giáo triều ḿnh, vị Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă xác nhận ư nghĩa danh hiệu giáo hoàng Biển Đức của ngài, một danh hiệu chẳng những liên quan tới vị tiền nhiệm Biển Đức XV thời Thế Chiến Thứ Nhất trong Thế Kỷ 20, c̣n liên quan cả đến vị Thánh Quan Thày Âu Châu và là vị thánh h́nh thành văn hóa Âu Châu ngay từ ban đầu để làm cho Âu Châu trở thành một Khối Hiệp Nhất Âu Châu Kitô giáo.
Qua những suy đoán (nhờ theo dơi những dấu chỉ thời đại xẩy ra trong thời Giáo Hội hiện đại) không ngờ thật sự xẩy ra đúng như thế nơi cả vị cố giáo hoàng và tân giáo hoàng, tôi lại linh cảm thấy đó c̣n là những “dấu chỉ thời đại” cho thấy những ǵ sắp xẩy ra cho riêng Giáo Hội cũng như cho chung thế giới trong thế kỷ 21 mở màn cho đệ tam thiên niên kỷ thứ ba Kitô giáo nữa. Theo tôi, những ǵ sẽ xẩy ra thứ tự có thể diễn tiến như sau: thứ nhất, Hiệp Nhất Kitô giáo; thứ hai, dân Do Thái nhận biết Chúa Kitô, thứ ba, Tận Thế. Các suy đoán này được căn cứ vào lời tiên báo của Phúc Âm, của Thánh Phaolô, của Khải Huyền, của tiên tri Malachy, của Thánh Long Mộng Phố, của Bí Mật La Salette, của Bí Mật Fatima, của Thánh Nữ Faustina, và của Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo.
Lời tiên báo của Thánh Tông Đồ Phaolô:
“Tất cả dân Do Thái sẽ được cứu”
Trước hết, lời tiên báo của Thánh Tông Đồ Phaolô như thế này: “Dân Do Thái bị mù tối cho đến khi đủ số Dân Ngoại, th́ bấy giờ tất cả dân Do Thái sẽ được cứu” (Rm 11:25-26).
Qua câu tiên báo này, lời tiên báo xuất phát từ Thánh Kinh, từ những ǵ được Thánh Thần linh ứng viết ra và được Giáo Hội công nhận là chân thật, buộc phải tin tưởng, th́ không thể nào xẩy ra tận thế nếu dân Do Thái nói chung chưa trở lại, tức họ chưa tỏ ra nhận biết Chúa Kitô, và nếu dân Do Thái càng ngày càng xích lại gần Giáo Hội Công Giáo là dấu chứng tỏ tận thế đă đến gần.
Sách Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo cũng minh nhiên xác nhận sự kiện được mạc khải Thánh Kinh Tân Ước này khẳng định ở số 674 như sau: “Việc tái lâm của Chúa Kitô vinh hiển được tŕ hoăn ở hết mọi giây phút trong lịch sử, cho tới khi Người được ‘tất cả mọi người dân Yến Duyên’ nhận biết.”
Theo lịch sử thế giới th́ dân Do Thái đă bị phân tán đi khắp nơi trên thế giới sau khi Thành Thánh Giêrusalem và Đền Thờ Giêrusalem của họ bị tướng Titô của đế quốc Rôma tàn phá vào năm 70, đúng như những ǵ đă được Chúa Giêsu tiên báo trước về số phận của biểu tượng tôn giáo Do Thái này, lời tiên báo được Phúc Âm Thánh Marcô (được viết cũng vào khoảng năm 70) ghi nhận ở đoạn 13 câu 2: “Các con có thấy những dinh thự nguy nga ấy chăng? Tất cả sẽ bị hủy hoại, không c̣n một ḥn đá nào trên ḥn đá nào”.
Thế rồi, có ngờ đâu, gần 20 thế kỷ sau, thành phần Dân Chúa Cựu Ước này, chính sau khi bị Đức Quốc Xă thời Thế Chiến Thứ II diệt chủng, với con số lên tới 6 triệu người tại Âu Châu, đă chính thức lập quốc ở ngay chính mảnh đất hứa của họ, một quốc gia Do Thái được tổ chức Liên Hiệp Quốc công nhận năm 1948, một quốc gia Do Thái ở giữa thành phần dân Palestine Hồi giáo Ả Rập đă chiếm mảnh đất của họ nhưng cho tới nay, sau hơn nửa thế kỷ họ lập quốc (1948-2005), dân Palestine vẫn chưa thể nào trở thành một quốc gia như họ.
Với nỗ lực của vị Giáo Hoàng “đến từ một xứ sở xa xôi” là Balan, một xứ sở đă có trại tù diệt chúng Do Thái nổi tiếng là Auschwitz (nơi đă có hai vị Thánh là Têrêsa Benedicta Thánh Giá ḍng Carmêlô được phong thánh ngày 11/10/1998, và Thánh Maximilianô Kolbe ḍng Phanxicô được phong thánh ngày 17/10/1982), vị giáo hoàng đầu tiên đă vào Hội Đường của họ ở Rôma ngày 13/4/1984, nước Do Thái đă chính thức thiết lập bang giao với Ṭa Thánh Vatican vào ngày 30/12/1993.
Hy vọng, với nỗ lực của vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị giáo hoàng đến từ Đức quốc, một quốc gia, qua chủ nghĩa Đức Quốc Xă thời Thế Chiến Thứ II, đă chủ trương bài Do Thái và dă man thực hiện mưu đồ tru diệt dân Do Thái, dân Do Thái sẽ xích lại gần với Giáo Hội Công Giáo hơn. Cử chỉ đầu tiên được thể hiện đó là trong tất cả mọi thành phần lănh đạo Liên Tôn và Đại Kết, tân Giáo Hoàng Biển Đức, hôm 20/4/2005, chỉ đích thân viết mấy lời hồi âm vị tôn sư trưởng Riccardo di Segni về lời ông mừng chúc tân giáo hoàng, và đă chính thức ngỏ lời mời vị tôn sư trưởng ở Hội Đường Do Thái Rôma này đến tham dự Lễ Đăng Quang giáo triều của ngài vào Chúa Nhật 24/4/2005.
Tuy nhiên, để dân Do Thái có thể cùng với Kitô giáo nhận biết và tuyên xưng nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét rằng: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16), Kitô giáo nói chung, phải làm sao để tỏ ra cho Do Thái giáo thấy được rằng thực sự vị giáo tổ Giêsu của Kitô giáo quả là Đấng Thiên Sai họ đă phủ nhận và đ̣i đóng đanh trên thập tự giá ngày xưa. Đây là một công việc thật là khó khăn vượt sức tự nhiên của loài người. Ở chỗ, chính Chúa Giêsu ngày xưa, khi c̣n ở giữa dân Do Thái, mà c̣n không làm cho họ nhận biết Người, th́ làm sao Giáo Hội đầy những yếu đuối nơi các chi thể của ḿnh có thể qua mặt Thày ḿnh được chứ?
Vả lại, vấn đề dân Do Thái nhận biết Chúa Giêsu, giáo tổ của Kitô giáo chính là Đấng Thiên Sai họ đợi trông càng trở nên khó khăn hầu như bất khả hơn nữa, ở chỗ, giờ đây họ đang đóng vai tṛ chủ chốt ở Trung Đông nói chung và ở Thánh Địa nói riêng.
Thật thế, theo lịch sử cứu độ của ḿnh trong thời Cựu Ước, dân Do Thái chỉ mong vị cứu tinh khi nào họ bị khổ ải, bị đô hộ mà thôi; c̣n khi họ được bằng an thịnh trị họ lại đâm ra ngoại t́nh với các thần ngoại lai, với các ngẫu tượng của họ. Theo chiều hướng này th́ hiện nay, dân Do Thái có thể không c̣n hay ít thiết tha trông đợi Đấng Cứu Thế nữa, v́ họ, một quốc gia nhỏ bé ở giữa cả một khối Ả Rập Hồi giáo mấy chục quốc gia, trong đó có cả Ai Cập khổng lồ, nhất là từ sau khi phản công thắng thế trước cuộc đánh úp của lực lượng liên minh Ả Rập trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967, khối Ả Rập Hồi Giáo này đă phải cúi ḿnh khuất phục họ và cảm thấy vừa khiếp đảm vừa nhức nhối với cái gai tiểu quốc Do Thái nằm ngay giữa vùng đất này của ḿnh.
Hiện nay, nhất là từ sau biến cố 911, biến cố khủng bố tấn công Hoa Kỳ, một đệ nhất cường quốc về chính trị và kinh tế trên thế giới, thế giới đang chứng kiến thấy tỏ tường một hiện tượng có thể được một số Kitô hữu cảm thấy như là một thứ “nạn Hồi Giáo” Thiên Chúa quan pḥng vô cùng khôn ngoan muốn lợi dụng, như nạn Cộng Sản xưa, để “trừng phạt”, với mục đích “thanh tẩy”, thế giới Tây phương Kitô giáo, một thế giới đă và đang bị khủng hoảng đức tin, đang phá sản văn hóa Kitô giáo của ḿnh, và đang tự chôn vùi dưới nấm mộ “văn hóa sự chết”. Hiện nay, trong khi ở các quốc gia Hồi giáo, Kitô giáo đă bị mai một và không thể nào phát triển nổi, th́ ở các quốc gia Tây phương, nhờ chính sách dân chủ tự do tôn trọng nhân quyền và nhân phẩm của văn minh Tây phương, Hồi giáo lại càng ngày càng phát triển, nhất là ở Âu Châu vốn là cái nôi Kitô giáo.
Đó là lư do, chính v́ Khối Hiệp Nhất Âu Châu, một tổ chức hiệp nhất chỉ nhắm đến lănh vực chính trị và kinh tế, để trở thành một lực lượng sống c̣n, tranh thủ với hai khối khác được lănh đạo bởi Hoa Kỳ ở Mỹ Châu và Nhật Bản ở Á Châu, nhờ đó làm cho thị trường quốc tế được cân bằng vững chắc như chiếc kiềng ba chân, mà Giáo Hội Công Giáo nói riêng và khối Kitô Giáo Tây phương nói chung, cần phải đẩy mạnh tiến tŕnh Đại Kết Kitô Giáo đă được bùng lên mănh liệt từ sau Công Đồng Chung Vaticanô II (11/10/1962-8/12/1965), để làm cho Khối Hiệp Nhất Âu Châu có một hồn sống thực sự, nhờ đó, mới có thể kịp thời chặn đứng được “nạn Hồi Giáo”.
Biết đâu, v́ một lư do nào đó, do sự quan pḥng thần linh của Đấng Làm Chủ lịch sử thế giới, trước t́nh trạng sống hoang đường như không có Thiên Chúa của Tây Phương, sống cao ngạo như không mong cầu Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, “nạn Hồi Giáo” với hơn cả tỉ người thắng thế, làm chủ t́nh h́nh thế giới, thống trị được cả Do Thái lẫn Tây phương. Nếu bấy giờ Kitô giáo đă trở thành một Khối Hiệp Nhất, hay trong t́nh thế bị bắt bớ đẫm máu tử đạo của vô vàn Kitô hữu, Kitô Giáo trở thành Đại Kết, và chỉ duy lực lượng Kitô Giáo này bấy giờ mới có thể, như đă xẩy ra trong Thời Trung Cổ với các cuộc Thánh Chiến Quân, đương đầu nổi với “nạn Hồi Giáo” mà thôi, và cuối cùng sẽ chiến thắng, cứu được cả dân Do Thái, khiến họ nhận ra Chúa Giêsu, vị giáo tổ Kitô Giáo, chính là Đấng Thiên Sai của họ.
Lời Tiên Báo của Thánh Long Mộng Phố:
“Vương quốc của Tín Đồ Hồi Giáo”
Cuộc chiến thắng “nạn Hồi Giáo” để có thể làm cho dân Do Thái nhận biết Chúa Giêsu, vị giáo tổ Kitô giáo, là Đấng Thiên Sai, đă được Thánh Long Mộng Phố (Luois Montfort), trong cuốn Thành Thật Sùng Kính Mẹ Maria, được thánh nhân viết từ đầu thế kỷ 18 và được xuất bản vào giữa thế kỷ 19, ở khoản 54 nhất là 59, Mẹ Maria, vào thời điểm của Mẹ, sẽ chiến thắng 3 trận, trận đầu là chiến thắng Cộng Sản, trận thứ hai là chiến thắng Tư Bản, và trận cuối là chiến thắng Hồi Giáo, nguyên văn như sau:
“Quyền năng của Mẹ Maria trên tất cả mọi qủi ma sẽ đặc biệt chiếu sáng vào những thời buổi sau này, khi mà Satan giăng bẫy gót chân của Mẹ: tức là giăng bẫy các tôi tớ khiêm hạ và các con cái nghèo hèn của Mẹ, thành phần Mẹ sẽ lập nên để chống lại với hắn. Họ sẽ nhỏ bé và nghèo hèn trước mắt thế gian, hạ ḿnh xuống như gót chân trước tất cả mọi người, bị các phần thể khác giầy đạp và bắt bớ như một gót chân. Thế nhưng, nhờ vậy mà họ lại trở nên giầu sang trong ân sủng của Thiên Chúa, ân sủng Mẹ Maria sẽ ban phát cho họ một cách dồi dào. Họ sẽ nên cao cả và thăng tiến trong đường thánh đức trước nhan Thiên Chúa, vượt trên tất cả các tạo vật khác ở ḷng nhiệt thành sống động của họ, và được ơn phù trợ của Thiên Chúa nâng đỡ đến nỗi, hiệp với Mẹ Maria, bằng việc khiêm hạ như gót chân, họ sẽ đạp nát đầu ma qủi để mang lại chiến thắng cho Chúa Giêsu Kitô” (đoạn 54).
“Tóm lại, chúng ta biết rằng họ sẽ là thành phần môn đệ đích thực của Chúa Giêsu Kitô, bước theo gót chân nghèo hèn, khiêm hạ, bị thế gian khinh chê, yêu thương bác ái của Người; họ giảng dạy con đường hẹp của Thiên Chúa bằng sự thật nguyên vẹn của Thiên Chúa theo Phúc Aâm thánh hảo, chứ không theo những tâm niệm của thế gian... Họ sẽ ngậm nơi miệng của ḿnh thanh gươm hai lưỡi Lời Thiên Chúa. Họ sẽ vác trên vai ḿnh một thứ Thánh Giá đẫm máu, tay phải của họ cầm Tượng Chuộc Tội, tay trái của họ nắm Tràng Kinh Mân Côi, con tim của họ ghi Thánh Danh Chúa Giêsu và Mẹ Maria, hành vi cử chỉ của họ bộc lộ đức hạnh và khổ hạnh của Chúa Giêsu Kitô. Họ là những con người cao cả sẽ phải đến; c̣n Mẹ Maria, theo lệnh của Đấng Tối Cao, chính là vị sẽ trang bị cho họ, để vương quốc của Ngài bao trùm trên vương quốc của người vô đạo, vương quốc của kẻ tôn thờ ngẫu tượng và vương quốc của Tín Đồ Hồi Giáo” (số 59).
“Vương quốc của người vô đạo” được Thánh Long Mộng Phố nói đến đây là ǵ, nếu không phải là lực lượng cộng sản vô thần, một lực lượng quả thực đă bị triệt hạ ngay trong trận đầu bởi vị đă hiện ra ở Fatima năm 1917 với danh xưng “Đức Bà Mân Côi”. Thật vậy, chính Mẹ Maria, trong Bí Mật Fatima ở cuối phần thứ hai, đă tiên báo trận chiến thắng đầu tiên này là: “Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại và thế giới sẽ có một thời gian ḥa b́nh”.
Theo lịch sử Giáo Hội cho thấy, cuộc hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria đă được thực hiện nhiều lần mới thành. Vào ngày 13/6/1929, Mẹ Maria đă hiện ra với chị Lucia, một trong ba thụ khải ở Fatima năm 1917 c̣n sống sót bấy giờ đang là nữ tu Ḍng Đôrôthêu, ở Tuy nước Tây Ban Nha, lên tiếng kêu gọi và báo động là “đă đến lúc Thiên Chúa muốn Đức Thánh Cha hiệp cùng với các vị Giám Mục trên thế giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, Ngài hứa sẽ cứu Nước Nga bằng cách ấy”. Chị Lucia đă đệ tŕnh điều này, cùng với hai điều khác, lên Đức Thánh Cha Piô XII trong thư đề ngày 24/10/1940. Để rồi, sau đó, những lần hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria được tuần tự diễn tiến như được vị Giáo Hoàng “Totus Tuus” của Mẹ đề cập tới vào ngày 24/3/2004, nhân dịp kỷ niệm 20 ngài đáp ứng ư nguyện của Thiên Chúa ấy như sau:
· “Tôi đặc biệt nhớ đến ngày 25/3 năm 1984, Năm Thánh Cứu Chuộc. Hai mươi năm đă qua đi từ ngày ở Quảng Trường Thánh Phêrô, hiệp nhất về tinh thần với tất cả các giám mục trên thế giới được ‘triệu tập’ trước đó, Tôi đă hiến dâng tất cả loài người cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria để đáp ứng lời yêu cầu của Đức Mẹ ở Fatima”.
Tuy ở đây ĐTC không nói đặc biệt đến việc hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, nhưng Ngài đă xác nhận là Ngài có ư làm điều ấy “để đáp ứng lời yêu cầu của Đức Mẹ ở Fatima”, tức đáp ứng việc hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Đó là lư do trong lời hiến dâng của ḿnh bấy giờ, tức vào ngày 25/3/1984, Đức Thánh Cha đă nói một cách khôn khéo như sau:
· “Chúng con hôm nay đặt ḿnh trước nhan Mẹ trong năm mừng kỷ niệm ơn cứu rỗi. Chúng con xin hợp với tất cả mọi chủ chăn trong Giáo Hội làm thành một thân thể và một tập đoàn, đúng như ư của Chúa Kitô muốn các tông đồ hiệp nhất với thánh Phêrô. Trong mối liên kết hiệp nhất này, chúng con đọc những lời hiến dâng mà chúng con muốn bao gồm một lần nữa hy vọng của Giáo Hội cũng như lo âu đối với thế giới ngày nay. Bốn mươi năm về trước, rồi 10 năm sau đó, tôi tớ của Mẹ là Đức Giáo Hoàng Piô XII, chứng kiến cảnh khổ đau của gia đ́nh nhân loại, đă phó thác và hiến dâng cả thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ, đặc biệt là nhân dân mà Mẹ yêu thương và quan tâm cách riêng. Cũng thế giới của mọi người và mọi dân tộc này trước mắt của con hôm nay đây, con xin lập lại việc phó thác và hiến dâng mà vị tiền nhiệm của con đă thực hiện ở Ṭa Thánh Phêrô: thế giới của kỷ nguyên thứ hai đang kết thúc, thế giới tân tiến, thế giới của chúng con hôm nay! Một cách đặc biệt, chúng con xin phú thác và hiến dâng cho Mẹ tất cả những người và những dân nước cần được phú thác và dâng hiến. Chúng con chạy đến với sự bảo hộ của Mẹ, Thiên Chúa Thánh Mẫu: xin đừng chê chối lời cầu xin chúng con dâng lên Mẹ trong cơn khẩn trương của chúng con”.
Chính v́ Nước Nga đă được ĐTC GPII hiệp cùng với hàng giáo phẩm trên thế giới hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ đúng ư muốn và cách thức của trời cao như thế, Thiên Chúa đă thực hiện những ǵ Ngài hứa, như chị Lucia được Đức Mẹ tỏ cho biết vào ngày 13/6/1929, đó là Ngài sẽ làm cho Nước Nga trở lại, một sự kiện lịch sử đă hoàn toàn xẩy ra được diễn tiến tuần tự như sau:
Trước hết là biến cố bất ngờ xuất hiện nhân vật lịch sử Gaborchev, bất ngờ xuất hiện như trường hợp của chính ĐTC GPII trong Giáo Hội Công giáo, một vị giáo hoàng đến từ một nước cộng sản và không phải là người Ư. Nhân vật lănh tụ Khối Cộng Sản Liên Bang Sô Viết cuối cùng trẻ nhất trong số lănh tụ trước đó ấy đă xuất hiện vào tháng 3 năm 1985, tức sau đúng 1 năm Nước Nga được hàng giáo phẩm Giáo Hội Công giáo hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
Tiếp theo là Biến Cố Cộng Sản Đông Âu tự động sụp đổ một cách bất ngờ trước con mắt bàng hoàng sửng sốt của cả thế giới, nhất là thế giới tư bản, một khối tư bản chẳng những không thể làm ǵ nổi họ trong thời chiến tranh lạnh Cold War mà c̣n bị họ dần dần chiếm đất giành dân khắp nơi trên thế giới. Có cái lạ nữa là Biến Cố Đông Âu này được diễn tiến nói chung hoàn toàn bất bạo động theo đường hướng tranh đấu của Giáo Hội, chứ không phải theo kiểu tranh đấu giai cấp bạo động của cộng sản, và cuộc tranh đấu bất bạo động này đă được bắt nguồn ngay từ quê hương Balan của vị giáo hoàng đă đọc “Lời Nguyện Biến Đổi Thế Giới”.
Sau hết là Biến Cố Nước Nga trở lại vào chính Ngày Giáng Sinh 25/12/1991, khi vị lănh tụ cuối cùng của khối Cộng Sản Liên Bang Sô Viết là Gorbachev từ chức, vị đă chủ trương đường hướng Cởi Mở được gọi là Glasnot và Cải Tổ được gọi là Parestroika là những ǵ thực sự đă mang lại một biến động hoàn toàn đổi thay cho Khối Cộng Sản Đông Âu.
Vương quốc của Thiên Chúa, qua Mẹ Maria, quả thực đă “bao trùm vương quốc của người vô đạo” là như thế. Những quốc gia cộng sản c̣n tồn tại cho tới nay, (sau Biến Cố Đông Âu tự động sụp độ cuối năm 1989 và biến cố Nước Nga trở lại ngày 25/12/1991), như Trung Hoa, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba, là dấu chứng hết sức hùng hồn cho thấy không ǵ có thể dẹp được chế độ cộng sản, hay không phải Cộng Sản Âu Châu đă tới lúc “cùng tất biến”, trái lại, một khi tới thời điểm Thiên Chúa nhúng tay vào là nó phải biến mất.
Và chính v́ Cộng Sản Âu Châu, trong đó có cả Nga, bị sụp đổ là do Thiên Chúa chứ không phải do nhân loại, mà chủ nghĩa tư bản và dân chủ không thể huyênh hoang cho rằng ḿnh là kẻ chiến thắng, “bất chiến tự nhiên thành”. Trái lại, thực tế cho thấy, kể cả chủ nghĩa tư bản và chế độ dân chủ cũng cần phải cải tiến nữa, bằng không, một khi chủ nghĩa tư bản tiến đến chỗ “tân thực dân đế quốc” và chế độ dân chủ tiến đến chỗ “ư dân là ư trời” theo trào lưu tương đối về luân lư như hiện nay, th́ thứ văn hóa càng ngày càng duy nhân bản đến độ vô thần này chắc chắn sẽ đi đến chỗ tự diệt như cộng sản Âu Châu tự giải thể mà thôi.
Phải chăng biến cố 911 xẩy ra ngay giữa thanh thiên bạch nhật tại trung tâm chính trị và văn hóa của một đệ nhất cường quốc trên thế giới vừa khi mở màn cho một tân thiên niên kỷ và thế kỷ vừa rồi là tiếng súng lệnh vang lên từ trời cao báo cho con người biết rằng đă hết thời “thế giới được hưởng một thời gian ḥa b́nh” (10 năm từ 1991 khi Nước Nga trở lại) như Bí Mật Fatima tiên báo rồi, và bắt đầu đi vào thời “vương quốc của kẻ tôn thờ ngẫu tượng” duy nhân bản vô thần sắp sửa bị vương quốc của Thiên Chúa bao trùm. Bằng cách nào?
Có thể bằng cách Thiên Chúa để cho Tây Phương Kitô Giáo vị Ả Rập Hồi Giáo thống trị hay lất át cho đến khi thành phần Kitô Giáo Tây Phương cùng nhau Đại Kết quay về với Ngài, bấy giờ, “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần” mới ra tay cứu họ, ở chỗ, vương quốc của Ngài “bao phủ vương quốc của Tín Đồ Hồi Giáo”, tức làm cho cả người Hồi giáo cũng nhận biết Ngài mới thực sự là Allah của họ, và cũng nhờ đó, Do Thái giáo nhận biết Ngài là Giavê của ḿnh, một Emmanuel “Thiên Chúa ở giữa chúng sinh” (Is 7:14; Mt 1:23) nơi Lời Nhập Thể là Đức Giêsu Kitô của Kitô giáo.
Chúng ta thấy Biến Cố Thánh Mẫu Fatima năm 1917, vào tiền bán thế kỷ 20, h́nh như có những dấu hiệu liên quan tới Hồi giáo nói chung và “nạn Hồi giáo” nói riêng. Trước hết, danh xưng “Fatima” là tên gọi của người con gái giáo tổ Hồi Giáo Mohammed, sau nữa, Ali Agca là một người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ đă được thuê mướn để ám sát Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng, v́ thấy ḿnh bị ám sát vào chính ngày 13/5 (1981) kỷ niệm Mẹ Maria hiện ra ở Fatima lần đầu tiên, đúng như thị kiến ở phần thứ ba Bí Mật Fatima, đă quyết thực hiện trọn vẹn lời yêu cầu của Thiên Chúa liên quan đến việc cùng với hàng giáo phẩm Công giáo hoàn vũ hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
Lời tiên báo của Bí Mật Fatima phần thứ ba:
“Vị giám mục mặc áo trắng”
Cho dù ĐTC Gioan Phaolô II đă hợp cùng với hàng giáo phẩm Công giáo trên thế giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, sau khi ngài bị ám sát vào chính ngày có liên hệ đến Biến Cố Thánh Mẫu Fatima, v́ ngài thấy dường như ứng nghiệm những ǵ ba Thiếu Nhi Fatima được thị kiến thấy trong phần thứ ba của Bí Mật Fatima.
Thật vậy, phần thứ ba của Bí Mật Fatima này được chị Lucia viết ra vào ngày 3/1/1944. Thế nhưng, để viết phần bí mật này, một trong ba phần bí mật quan trọng nhất đă được Mẹ Maria căn dặn chung là “không được nói với ai”, song chính v́ hai phần kia đă được tiết lộ mà ai cũng muốn biết thêm về phần bí mật c̣n lại này, kể cả giáo quyền địa phương bấy giờ, đến nỗi đă ngỏ ư muốn chị viết ra, nên để giải tỏa bối rối cho Lucia, Mẹ Maria đă phải hiện ra với chị ngày 2/1/1944, bảo chị biết rằng đă đến lúc chị nên viết ra phần bí mật c̣n lại này để tŕnh lên giáo quyền.
Đức giám mục sở tại nhận được phần bí mật thành văn này ngày 17/6 cùng năm 1944, song măi tới năm 1957 Ṭa Thánh mới để ư tới nó và lưu giữ nó từ ngày 4/4 năm 1957. Như chị Lucia cho biết, th́ phần bí mật này chỉ có một ḿnh Đức Thánh Cha mới được phép tiết lộ, nhưng hoàn toàn tùy ư ngài. Các Đức Thánh Cha Gioan XXIII và Phaolô VI cũng đă đọc phần bí mật này song không công bố ǵ cả. Theo ư của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh ṭa thánh là Angelo Sodano đă công bố phần bí mật này vào lúc kết thúc Thánh Lễ Phong Á Thánh cho hai Thiếu Nhi Fatima Phanxicô và Giaxinta tại Đền Thánh Mẫu Fatima nmgày 13/5/2000. Sau đây là nguyên văn những lời của đức hồng y trực tiếp liên quan đến phần bí mật c̣n lại:
· “Bản văn này chất chứa một thị kiến tiên tri tương tự như những thị kiến trong Thánh Kinh, những thị kiến ấy không diễn tả những chi tiết về các biến cố tương lai bằng h́nh ảnh rơ ràng, mà là tổng hợp và tóm gọn các biến cố có cùng một bối cảnh, những biến cố trải rộng qua một thời gian liên tục và kéo dài không được xác định. Bởi thế, bản văn ấy cần phải được giải thích bằng một mấu chốt biểu tượng. Thị kiến Fatima này trước hết liên quan đến cuộc chiến gây ra bởi chế độ vô thần chống lại Giáo Hội cũng như thành phần Kitô hữu, thị kiến cũng diễn tả cho thấy cuộc khổ đau khôn xiết của các chứng nhân đức tin trong thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai. Đó là một Con Đường Thập Giá gian nan khốn khó mà các Vị Giáo Hoàng của thế kỷ 20 phải trải qua. Theo ‘các mục đồng nhỏ’ giải thích, mới đây cũng đă được Nữ Tu Lucia xác nhận, th́ vị ‘giám mục mặc áo trắng’, vị đang cầu nguyện cho tất cả mọi tín hữu là Đức Giáo Hoàng. Khi ngài đang t́m hết cách tiến đến Cây Thập Giá ở giữa các thi thể của những vị tử đạo (là các vị giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và nhiều giáo dân), th́ ngài cũng bị ngă xuống đất chết trước một phát súng nổ”.
Sau đây là nguyên văn chính của phần Bí Mật Fatima thứ ba, được Ṭa Thánh cho biết ngày 26/6/2000
· “Sau hai phần con đă diễn tả, th́ ở bên trái của Đức Mẹ và cao hơn một chút, chúng con thấy có một vị Thiên Thần cầm một lưỡi gươm cháy lửa nơi tay trái; thanh gươm chớp chớp phát ra những ngọn lửa như muốn thiêu đốt thế giới; tuy nhiên, những ngọn lửa ấy đă bị tắt mất trước ánh quang sáng ngời từ bàn tay phải của Đức Mẹ phát ra chiếu về phía vị Thiên Thần, bởi thế, lấy bàn tay phải của ḿnh mà chỉ xuống trái đất, vị Thiên Thần đă kêu lớn tiếng rằng: ‘Hăy ăn năn đền tội, hăy ăn năn đền tội, hăy ăn năn đền tội!’. Rồi chúng con thấy một vị Giám Mục mặc Áo Trắng, ‘mà chúng con có cảm nhận đó là Đức Thánh Cha’, trong một vùng sáng mênh mông là Thiên Chúa, ‘giống như người ta thấy ḿnh đi ngang qua trước một tấm gương soi’. Các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ khác đang tiến lên một ngọn núi dốc đứng, trên đỉnh có một cây Thập Giá lớn, được làm bằng những thân cây nứt nẻ như loại thân cây điên điển c̣n vỏ; trước khi tiến lên tới đỉnh núi, Đức Thánh Cha đă băng qua một thành phố lớn, một nửa đă bị tàn rụi, c̣n một nửa kia th́ đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ, Ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thi thể Ngài gặp thấy trên quăng đường đi; tiến tới đỉnh núi rồi th́ khi đang qú ở dưới chân cây Thập Giá lớn, Ngài đă bị ám sát bởi một nhóm lính bắn tới bằng các viên đạn và mũi tên, cũng lần lượt bị sát hại như thế có cả các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ cùng với thành phần giáo dân ở các tầng lớp và vai tṛ khác nhau. Dưới hai cánh Thập Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm trong tay ḿnh một b́nh nước thánh bằng pha lê để chứa đựng máu của các vị Tử Đạo và hai vị dùng máu ấy vẩy trên những linh hồn đang t́m đường đến cùng Thiên Chúa”.
Phần Bí mật Fatima thứ ba này, riêng câu: “Đức Thánh Cha đă băng qua một thành phố lớn, một nửa đă bị tàn rụi, c̣n một nửa kia th́ đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ, Ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thi thể Ngài gặp thấy trên quăng đường đi”, chúng ta thấy thích hợp với những ǵ đă được suy đoán ở phần lời tiên tri của Thánh Long Mộng Phố trên đây.
Trước hết, nếu câu “Ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thi thể Ngài gặp thấy trên quăng đường đi” thuộc “một nửa đă bị tàn rụi” đây có thể được hiểu là ĐTC đă hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, th́ theo tôi, “thành phố lớn” đây là thế giới tân tiến, thế giới được Công Đồng Chung Vaticanô II cảm nhận về vai tṛ của Giáo Hội là một “Giáo Hội trong Thế Giới Tân Tiến” (nội dung của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Vui Mừng và Hy Vọng Gaudium et Spes, ban hành ngày 7/12/1965, ngày áp bế mạc công đồng lịch sử này).
Chắc có thể v́ ư nghĩa này, ư nghĩa của “thành phố lớn” là thế giới tân tiến như thế theo Công Đồng Chung Vaticanô II, một công đồng được nhóm họp vào tiến bán thập niên 1960, mà Bí Mật Fatima có thể được tiết lộ cho thế giới biết từ “sau năm 1960”, thời điểm chị Lucia đă viết ở ngoài phong thư đựng phần bí mật cuối cùng trước khi gửi đến giáo quyền hồi ấy, thời điểm được chị, trong cuộc trao đổi với hai vị đại diện do Đức Thánh Cha gửi đến gặp chị tại đan viện của chị ở Coimbra ngày Thứ Năm 27/4/2000, thú nhận rằng: “Con linh cảm thấy người ta sẽ không hiểu được phần bí mật này trước năm 1960 mà chỉ sau đó thôi”.
Thật vậy, thời điểm “sau năm 1960” là thời điểm Cuba, quốc gia cuối cùng theo chế độ Cộng Sản vào năm 1959 và chính thức bang giao với Liên Bang Sô Viết vào tháng 2 năm 1960, nghĩa là một thế giới “một nửa đă bị tàn rụi” dưới chế độ Cộng Sản, “c̣n một nửa kia th́ đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ”, nghĩa là một nửa thế giới tư bản c̣n lại cũng đang bị phá sản tâm linh và đi đến chỗ tự diệt vong trong nấm mộ “văn hóa sự chết” của ḿnh, ở chỗ “không biết từ bỏ con đường tội lỗi, hận thù, báo oán, bất công, những vi phạm đến nhân quyền, những việc vô luân và bạo lực v.v.” (trích Thư chị gửi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 12/5/1982 về việc t́m hiểu ư nghĩa Bí Mật Fatima phần thứ ba).
“Một thành phố lớn, một nửa đă bị tàn rụi, c̣n một nửa kia th́ đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ” như thế đáng lẽ đă bị trừng phạt hay tự hủy diệt rồi, như h́nh ảnh mở đầu thị kiến phần bí mật thứ ba cho thấy: “có một vị Thiên Thần cầm một lưỡi gươm cháy lửa nơi tay trái; thanh gươm chớp chớp phát ra những ngọn lửa như muốn thiêu đốt thế giới”, một h́nh ảnh đă được Giáo Hội, qua Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin giải thích là “biểu hiệu cho phán quyết đe dọa giáng xuống trên thế giới. Ngày nay vấn đề thế giới có thể trở thành tro bụi bởi một biển lửa dường như không c̣n chỉ là một tưởng tượng nữa, ở chỗ, chính con người từng cố ư đúc cho ḿnh thanh kiếm cháy lửa này”. Thế mà, cho tới nay nó vẫn c̣n tồn tại, là v́, “những ngọn lửa ấy đă bị tắt mất trước ánh quang sáng ngời từ bàn tay phải của Đức Mẹ phát ra chiếu về phía vị Thiên Thần, bởi thế, lấy bàn tay phải của ḿnh mà chỉ xuống trái đất, vị Thiên Thần đă kêu lớn tiếng ‘Hăy ăn năn đền tội, hăy ăn năn đền tội, hăy ăn năn đền tội!’”.
Tuy nhiên, để trả giá, tức “để cứu họ”, cho một thế giới chẳng những không chịu “ăn năn đền tội, ăn năn đền tội, ăn năn đền tội!”, như lời Mẹ Maria đă từng kêu gọi như thế ở Lộ Đức từ ngày 24/3/1858, một ngày trước khi Mẹ công nhận “Ta là Đấng đầu thai vô nhiễm tội”, trái lại, c̣n “cố ư đúc cho ḿnh thanh kiếm cháy lửa này”, th́ một số Kitô hữu chứng nhân, thuộc đủ mọi thành phần, từ Giáo Hoàng trở xuống, đă phải kiên tŕ sống đức tin đến cùng, một thái độ được thị kiến diễn tả như “đang tiến lên một ngọn núi dốc đứng, trên đỉnh có một cây Thập Giá lớn”, đến độ trở thành những tế vật hy sinh cứu độ, đúng như phần giữa của thị kiến rơ ràng đă cho thấy: “trước khi tiến lên tới đỉnh núi, Đức Thánh Cha đă băng qua một thành phố lớn, ...; tiến tới đỉnh núi rồi th́ khi đang qú ở dưới chân cây Thập Giá lớn, Ngài đă bị sát hại bởi một nhóm lính bắn tới bằng các viên đạn và mũi tên, cũng lần lượt bị sát hại như thế có cả các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ cùng với thành phần giáo dân ở các tầng lớp và vai tṛ khác nhau”.
Tế vật hy sinh cứu độ điển h́nh nhất của thị kiến bí mật được tỏ ra từ ngày 13/7/1917 là biến cố Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II “đă bị sát hại” bằng súng tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981. Và chính v́ và chính nhờ ở tế vật tử đạo Kitô giáo nói chung và ĐTC nói riêng như thế, loài người nói chung và thế giới tư bản nói riêng mới được cứu độ, như phần kết thúc toàn bộ Bí Mật Fatima cho thấy: “Dưới hai cánh Thập Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm trong tay ḿnh một b́nh nước thánh bằng pha lê để chứa đựng máu của các vị Tử Đạo và hai vị dùng máu ấy vẩy trên những linh hồn đang t́m đường đến cùng Thiên Chúa”.
Chúng ta nên lưu ư ở đây là, “vị giám mục mặc áo trắng” là Đức Thánh Cha đây bị ám sát chết chứ không phải c̣n sống như trường hợp Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 13/5/1981. Nếu quả đúng như thế th́ Biến Cố Thánh Mẫu Fatima nói chung, Sứ Điệp Fatima nói riêng và đặc biệt là Bí Mật Fatima vẫn chưa hoàn toàn kết thúc, tức sẽ kéo dài cho tới tận thế, cho tới khi vị giáo hoàng của Giáo Hội Công Giáo bị tử nạn, như Chúa Giêsu bị tử nạn mới cứu độ được thế gian. Đó là viễn ảnh có thể xẩy ra trong thời của “nạn Hồi Giáo” được đề cập đến trên đây, viễn ảnh về thời Kitô giáo bị bắt bớ và sát hại khắp nơi, thậm chí Giáo Đô Vatican, biểu hiệu của một Giêrusalem xưa, cũng bị xâm chiếm và tán phá, đến nỗi, vị lănh đạo của Quốc Đô Vatican bị sát hại, đúng như những ǵ Mẹ Maria đă tiên báo ở Bí Mật La Salette từ năm 1846:
"Vị Đại Diện Con Mẹ sẽ chịu nhiều đau khổ, v́ Giáo Hội sẽ chịu đựng bắt bớ lớn lao một thời, thời tối tăm, và Giáo Hội sẽ chứng kiến một cuộc khủng hoảng rùng rợn… Rôma sẽ mất đức tin và sẽ trở nên ngai ṭa của Phản Kitô”.
Lời tiên báo của tiên tri Malachy:
“Về Một Cuộc Nhật Thực”
Nếu căn cứ theo Sấm Truyền nổi tiếng (xuất bản từ năm 1559), mà người ta cho là của vị thánh tổng giám mục người Ái Nhĩ Lan và gọi ngài là tiên tri Malachy (1095-1148), th́ có tất cả là 112 vị giáo hoàng, kể từ đời Đức Cêlestinô II (1143-1144).
Thật ra, chỉ có Lời Chúa, Thánh Truyền và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội mới là những ǵ đáng tin và buộc phải chấp nhận mà thôi. Tuy nhiên, người ta cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy những lời sấm Malachy không phải hoàn toàn là sai trệch cho đến thời 33 ngày của Đức Gioan-Phaolô I mà lời sấm ám chỉ như là hiện tượng "về nửa vầng trăng" (De Medietate Lunae). Sau đó, cũng theo lời sấm này, c̣n ba đời giáo hoàng nữa thôi, được ám chỉ bởi ba biểu hiệu chưa ứng nghiệm: "De Labore Solis", "Gloria Olivae" và "Petrus Romanus".
"Gloria Olivae": nghĩa là "vinh quang của cây Ô-Liu". Phải chăng câu này ám chỉ về giáo triều tột đỉnh vinh quang của Đức Gioan-Phaolô II trước lịch sử thế giới trong một giai đoạn đầy những biến động và đổi thay từ sau Công Đồng Chung Vatican II. Điển h́nh là biến cố Đông Âu xẩy ra vào cuối năm 1989 và khối Cộng Sản Liên bang Sô Viết sụp đổ năm 1991, mà những hoạt động trong phạm vi thuần túy tôn giáo của ngài chẳng khác ǵ cành Ô-Liu ḥa b́nh được chim câu tha về con tầu Noe cứu rỗi (x. Gen 8:11). Nhờ đó, như Chúa Giêsu từ trên núi Ô-Liu xuống (x. Lc 19:37) vinh quang tiến vào thành Giêrusalem thế nào, vị lănh đạo tối cao thứ 264 của Giáo Hội Công Giáo cũng được toàn thể thế giới ngưỡng mộ và nghênh đón như vậy, như được tỏ hiện rơ ràng nhất qua Thánh Lễ an táng của ngài vào Thứ Sáu 8/4/2005.
Phải chăng vị giáo hoàng thứ 264 là Đức Gioan Phaolô II này là vị giáo hoàng đóng vai tṛ như “Giáo Hội trong thế giới tân tiến”, một vị giáo hoàng đă đưa Giáo Hội tiến vào ngàn năm thứ ba Kitô giáo qua ngưỡng cửa Đại Năm Thánh 2000, và là vị giáo hoàng, qua giáo triều dài 26 năm rưỡi của ḿnh, đă làm đủ thứ và rất là nhiều sự cho cả Giáo Hội lẫn thế giới này chính là vị giáo hoàng, vào một ngày kia, chị Thánh Faustina đă được Chúa Giêsu tiên báo cho biết, như chị ghi lại trong Nhật Kư của ḿnh như sau:
· “Khi tôi đang cầu nguyện th́ tôi nghe thấy những lời của Chúa Giêsu như sau: ‘Cha đặc biệt yêu thương Balan, mà nếu Balan tuân theo ư muốn của Cha th́ Cha sẽ nâng Balan lên trong quyền năng và thánh thiện. Từ Balan sẽ phát ra một tia sáng để sửa soạn thế giới cho lần đến cuối cùng của Cha - From her will come forth the spark that will prepare the world for My final coming”. (Nhật Kư về Ḷng Chúa Thương Xót trong Hồn Tôi của chị Faustina, khoản số 1732)
Đúng thế, vị giáo hoàng “đến từ một xứ sở xa xôi” là Balan này, như ngài nói ngay sau khi được giới thiệu là vị tân giáo hoàng 264 của Giáo Hội ngày Thứ Hai 16/10/1978, đă kêu gọi Giáo Hội nói riêng và thế giới nói chung qua bài giảng cho Thánh Lễ đăng quang giáo triều của ḿnh hôm Chúa Nhật 22/10/1978 là “Đừng sợ! Hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô”. Trong khi đó, chính Chúa Giêsu, qua “vị thánh đầu tiên của đệ tam thiên niên kỷ”, như chị được vị giáo hoàng đồng hương gọi như thế trong bài giảng phong thánh Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh 30/4/2000, và qua dịp phong thánh này ngài cũng đă chính thức lập Lễ Chúa T́nh Thương như Chúa muốn vào Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, Người đă khẳng định về ngày cùng tháng tận, về dấu báo ngày cùng tháng tận này, đặc biệt về ư nghĩa của “cửa” được vị giáo hoàng của Ḷng Thương Xót Chúa đă kêu gọi trên đây như sau:
· "Hăy nói cho thế giới biết về t́nh thương của Cha; tất cả loài người hăy nhân biết t́nh thương khôn ḍ của Cha. Đó là dấu hiệu cho ngày cùng tháng tận; sau đó sẽ là ngày của công lư - Speak to the world about My mercy; let all mankind recognize My unfathomable mercy. It is a sign for the end times; after it will come the day of justice”. (Nhật Kư, 848)
· "Con hăy viết xuống như sau: trước khi Cha đến như một quan phán công chính, trước hết Cha mở rộng cửa t́nh thương của Cha. Ai không chiu qua cửa t́nh thương của Cha th́ phải qua cửa công lư của Cha... Write: before I come as a just Judge, I first open wide the door of My mercy. He who refuses to pass through the door of My mercy must pass through the door of My justice..." (Nhật Kư, 1146)
· “T́nh thương của Cha hoạt động nơi tất cả mọi tâm hồn mở cửa đón nhận nó. Cả tội nhân lẫn chính nhân đều cần đến t́nh thương của Cha. Việc hoán cải cũng như việc bền đỗ đều là ân huệ của t́nh thương Cha - My mercy works in all those hearts which open their doors to it. Both the sinner and the righteous person have need of My mercy. Conversion, as well as perseverance, is a grace of My mercy.” (1577)
"De Labore Solis": câu này có hai nghĩa, một là "về cuộc nhật thực", hai là "từ cuộc khổ ải của vầng dương". Vào buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 240, Thứ Sáu 15/4/2005, trước khi diễn ra cuộc mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng ngày 18/4/2005, tôi đă suy đoán về vị tân giáo hoàng thế này:
“Nếu chiều hướng của vị giáo hoàng quá cố là ‘thả lưới ở chỗ nước sâu - duc in altum’, một chiều hướng ngài phác họa cho cả Giáo Hội vào thời điểm trước ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba Kitô giáo, như Tông Thư Vào Lúc Mở Màn Cho Một Tân Thiên Niên Kỷ ban hành vào Ngày Lễ Hiển Linh 6/1/2001 để bế mạc Đại Năm Thánh 2000, th́ vị giáo hoàng thay ngài phải là vị giáo hoàng nội tâm hơn hoạt động, đau khổ nhiều hơn thành đạt. Có thể nói, nếu giáo triều Gioan Phaolô II là giáo triều huy hoàng nhất lịch sử Giáo Hội Công giáo, chẳng khác nào như Chúa Kitô tiến vào thành thánh Giêrusalem, th́ vị giáo hoàng sau ngài sẽ là vị giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly (có thể đó là lư do Năm Thánh Thể chưa kết thúc, liên quan đến Hiệp Nhất Kitô giáo, theo lời nguyện kết thúc Bữa Tiệc Ly của Chúa Kitô), vị giáo hoàng của Vườn Nhiệt (với những nhức nhối nội bộ) và của Khổ Nạn (gây ra bởi cả dân Chúa lẫn thế giới)”.
Giáo Hội đă cảm thấy được “cuộc khổ ải của vầng dương” Biển Đức XVI, vị giáo hoàng đại thần học gia với kiến thức “tín lư đức tin” chiếu sáng như mặt trời này đă trải qua “cuộc khổ ải” gây ra bởi truyền thông cũng như bởi thành phần thần học gia cấp tiến trong Giáo Hội ngay khi tên tuổi của ngài gắn liền với vị tân giáo hoàng 265 của giáo hội hôm 19/4/2005. Ngoài ra, “cuộc khổ ải của vầng dương” này c̣n được hiểu về cả những nỗ lực rất ư là khốn khổ trong vấn đề Đại Kết Kitô Giáo là những ǵ ngài đă quyết tâm thực hiện trên hết và trước hết trong giáo triều của ngài, như ngài công khai và mănh mẽ bày tỏ trong sứ điệp ngỏ cùng Hồng Y đoàn cuối Thánh Lễ hôm 20/4/2005, ngay sau ngài được bầu làm giáo hoàng.
"Petrus Romanus": có nghĩa là "Phêrô người Rôma". Về vị lănh đạo sau hết mang cùng danh với vị lănh đạo đầu tiên này, theo Lời Sấm Truyền kết thúc th́: "Trong cuộc bắt bớ cuối cùng của Hội Thánh Rôma sẽ là triều đại của Phêrô người Rôma, vị sẽ chăn nuôi đàn chiên ḿnh giữa những tai biến, sau đó, thành đô có 7 ngọn đồi sẽ bị phá hủy và có Vị Thẩm Phán đáng sợ sẽ xét xử dân gian". (The Prophecies of Malachy, Tan Books and Publishers, Illinois 61105, 1973, trang 96).
Căn cứ vào ư nghĩa khác của "De Labore Solis" là "về một cuộc nhật thực", và theo những lời cuối cùng kết thúc của Sấm Truyền Malachy trên đây về vị giáo hoàng cuối cùng "Phêrô người Rôma", “vị sẽ chăn nuôi đàn chiên ḿnh giữa những tai biến, sau đó, thành đô có 7 ngọn đồi sẽ bị phá hủy và có Vị Thẩm Phán đáng sợ sẽ xét xử dân gian”, phải chăng đoạn Bí Mật La Salette (Apparition of the Blessed Virgin on the Mountain of La Salette, published by the Shepherdess of La Salette, 1879, simple reproduction from Gregorian Press, trang 19-20) kết thúc sau đây đă bắt đầu được ứng nghiệm.
“Giáo Hội sẽ lâm vào t́nh trạng nhật thực, thế giới sẽ ở trong t́nh trạng hoảng sợ. Thế nhưng bấy giờ Ênóc và Êlia sẽ đến, đầy Thần Linh Thiên Chúa. Các vị sẽ dùng quyền năng Thiên Chúa mà rao giảng, và con người thiện tâm sẽ tin vào Thiên Chúa, nhiều linh hồn sẽ được an ủi. Họ sẽ đạt được những bước tiến cao nhờ nhân đức của Thánh Linh và sẽ lên án những mưu mô qủi quyệt của tên Phản Kitô. Khốn thay những dân cư trên mặt đất! Sẽ có những trận chiến đẫm máu và đói khát, dịch tễ và những bệnh truyền nhiễm.
“Sẽ có mưa đá rùng rợn những con thú vật. Sẽ có những trận sấm sét làm rung chuyển cả những thành phố, các trận động đất sẽ nuốt trửng những xứ sở. Trên không trung có những tiếng phát ra. Con người sẽ đập đầu vào tường t́m kiếm cái chết, trong khi cái chết lại là một cực h́nh của họ. Máu sẽ lênh láng mọi phiá. Ai sẽ là kẻ thắng cuộc nếu Thiên Chúa không rút ngắn cuộc thử thách lại? Tất cả máu lệ và nguyện cầu của kẻ lành làm Thiên Chúa nương tay. Ênóc và Êlia sẽ bị giết. Rôma vô đạo sẽ biến mất. Lửa Trời sẽ đổ xuống thiêu hủy 3 thành phố. Tất cả vũ trụ sẽ bị một trận kinh hoàng và nhiều người sẽ để ḿnh bị lừa đảo lầm lạc v́ họ không tôn thờ Chúa Kitô đích thực là Đấng ở giữa họ. Thời điểm là đây 'mặt trời đang mờ tối' chỉ c̣n Đức Tin là sống sót.
“Đây là thời điểm hố thẳm đang mở ra. Ḱa Vua các Vua tăm tối, ḱa Con Mănh Thú với bọn lâu la của hắn, xưng ḿnh là Đấng Cứu Thế. Hắn sẽ nghênh ngang vươn ḿnh trên không trung, lên đến tận Trời. Hắn sẽ bị hạ bởi hơi thở của Thánh Tổng Thần Micae. Hắn sẽ rơi xuống, và trái đất, nơi sẽ xẩy ra một loạt biến hoá liên tục trong ba ngày, sẽ mở toang những bụng lửa của ḿnh ra để đời đời hắn cùng với bọn bộ hạ của hắn sẽ bị d́m ngập trong hỏa ngục muôn kiếp. Đoạn nước và lửa sẽ tẩy rửa trái đất và sẽ tiêu hủy tất cả những công tŕnh h́nh thành do sự kiêu ngạo của con người, rồi tất cả sẽ được đổi mới. Thiên Chúa sẽ được phụng thờ và tôn vinh”.
Phải chăng những tiên báo của Bí Mật La Salette trên đây đang ứng nghiệm một cách chính xác hơn bao giờ hết những ǵ đă được Chúa Giêsu cảnh báo trong Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 24 (10-14) sau đây:
· “Thật vậy, v́ Thày các con sẽ bị tất cả mọi dân nước thù ghét. Bấy giờ sẽ có nhiều người vấp ngă, họ phản bội và thù ghét nhau. Rất nhiều tiên tri giả sẽ xuất hiện để lừa đảo nhiều người. V́ sự dữ gia tăng mà ḷng mến nơi nhiều người trở nên nguội lạnh. Tuy nhiên, ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ. Tin mừng về vương quốc của Thiên Chúa sẽ được loan báo khắp thế giới như chứng từ cho tất cả mọi dân tộc. Chỉ sau đó mới tới ngày cùng tháng tận”.
Theo tôi, nếu cuối cùng, như Sách Khải Huyền tiên báo về Giáo Hội cánh chung xuất hiện như “một Giêrusalem, thành thánh, xuống từ nơi Thiên Chúa, diễm lệ như cô dâu sửa soạn nghênh đón phu quân của ḿnh” (Rev 21:2), th́ Công Đồng Chung Vaticanô II (11/10/1962-8/12/1965) chính là Công Đồng về Giáo Hội, Công Đồng chủ trương canh tân Giáo Hội để Giáo Hội trở thành “Ánh Sáng Muôn Dân” (Lumen Gentium), mang “Vui Mừng và Hy Vọng” (Gaudium et Spes) cho Thế Giới Tân Tiến, bằng “Lời Chúa” (Dei Verbum) và đời sống hiệp thông Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium).
Trong 16 văn kiện (4 Hiến Chế, 9 Sắc Lệnh và 3 Tuyên Ngôn) của Công Đồng canh tân Giáo Hội này, 4 Hiến Chế có tên được kể đến ngay đoạn trên đây là trụ cột của Công Đồng. Công Đồng Chung này đă được Đức Gioan XXIII (28/10/1958-3/6/1963) khai mở, sau đó được Đức Phaolô VI (21/7/1963-6/8/1978) tiếp nối và áp dụng, để rồi cả Đức Gioan Phaolô II (16/10/1978-2/4/2005) lẫn tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI (19/4/2005) đều minh nhiên chủ trương áp dụng Công Đồng. Căn cứ vào đường hướng của mỗi giáo triều từ Công Đồng này th́:
Giáo triều Đức Phaolô VI là giáo triều của Hiến Chế tín lư về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân”, với thông điệp đầu tiên của ngài về Giáo Hội mang tên “Giáo Hội của Người” (ban hành ngày Lễ Chúa Biến H́nh 6/8/1964), đă tuyên tụng Mẹ Maria là “Mẹ Giáo Hội trong cuộc ban hành Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội Lumen Gentium ngày 21/11/1964, và đă qua đời vào chính Lễ Chúa Biến H́nh (bức thông điệp đầu tiên cũng vào Lễ Biến H́nh).
Giáo triều Đức Gioan Phaolô II là giáo triều của Hiến Chế mục vụ về Giáo Hội “Vui Mừng và Hy Vọng” của “Giáo Hội trong Thế Giới Tân Tiến”, với lời kêu gọi thế giới ngay khi khai triều (22/10/1978) của ḿnh là “Đừng sợ, hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô”, “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần” (Thông Điệp đầu tiên ngày 4/3/1979), và đă thực hiện 104 cuộc tông du khắp thế giới để đưa con người “vượt qua ngưỡng cửa hy vọng” (tác phẩm về triết lư thời sự xuất bản năm 1994) là Đại Năm Thánh 2000 hầu tiến vào Ngàn Năm Thứ Ba Kitô Giáo.
Giáo triều Giáo Hoàng Biển Đức XVI là giáo triều của Hiến Chế Phụng Vụ Thánh và Lời Chúa, v́ giáo triều này được bắt đầu ngay giữa Năm Thánh Thể, và vị giáo hoàng 265 này chẳng những đă đặt ưu tiên hàng đầu mối hiệp thông Giáo Hội (trực tiếp liên quan đến Đại Kết Kitô giáo) theo chiều hướng Thánh Thể là Bí Tích Hiệp Thông, mà c̣n nhận danh hiệu giáo hoàng là Biển Đức, vị Thánh Tổ Phụ của Ḍng Khổ Tu Tây Phương là vị thánh chủ trương “tuyệt đối không coi ǵ hơn Chúa Kitô”.
Giáo triều "trong cuộc bắt bớ cuối cùng của Hội Thánh Rôma sẽ là triều đại của Phêrô người Rôma, vị sẽ chăn nuôi đàn chiên ḿnh giữa những tai biến...", như Giáo Hội Công Giáo (Giáo Lư số 675) đă tự cảm nhận về số phận ḿnh: “Trước khi Chúa Kitô đến lần thứ hai, Giáo Hội phải trải qua một cuộc thử thách sau cùng, một cuộc thử thách sẽ làm lay chuyển đức tin của nhiều tín hữu (x. Lk 18:8; Mt 24:12). Bách hại đi kèm theo cuộc lữ hành của Giáo Hội trên mặt đất (x. Lk 21:12; Jn 15:19-20) sẽ tỏ ra cho thấy ‘mầu nhiệm của gian tà’ nơi h́nh thức lừa bịp về đạo giáo, ở chỗ nó cống hiến con người một giải đáp trước mắt cho những vấn nạn của họ với giá họ phải trả là chối bỏ sự thật. Cái lừa bịp về đạo giáo thượng hạng là cái lừa bịp Phản Kitô, một chủ trương ngụy kitô làm con người tôn vinh ḿnh hơn Thiên Chúa và hơn Đấng Thiên Sai đến trong xác thịt (x. 2Thess 2:4-12;1Thess 5:2-3;2Jn 7;1Jn 2:18,22)”.
Nếu Giáo Hội là phản ảnh Chúa Kitô Vượt Qua từ Tử Giá đến Phục Sinh, th́ Giáo Hội lữ hành cũng “diễm lệ như cô dâu điểm tô nghênh đón phu quân” vinh hiển ngự đến!
Khởi soạn ngày Giáo Hội có Tân Giáo Hoàng 19/4/2005,
Kết bút ngày 30/4/2005, Kỷ Niệm Quốc Nạn 30 Năm
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL