?

   

Bài Giảng Đăng Quang:

Hiệp Thông

nơi Hai Biểu Hiệu về Giáo Hoàng

 

 

 

Trọng kính Chư Huynh Hồng Y,

Chư huynh giám mục và linh mục,

Chư tôn vị thẩm quyền và chư vị thuộc ngoại giao đoàn,

Anh chị em thân mến.



 

T

rong những ngày đầy căng thẳng này đây, chúng ta đă hát kinh cầu các thánh vào 3 dịp khác nhau: vào dịp lễ an táng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II; vào dịp các vị hồng y nhập mật viện bầu giáo hoàng; và một lần nữa vào ngày hôm nay khi chúng ta hát lên với câu đáp ‘Tu illum adiuva’ – xin nâng đỡ phù tŕ vị tân Thừa Kế Thánh Phêrô. Vào mỗi dịp, tôi đều cảm thấy hết sức ủi an một cách đặc biệt khi nghe đến bài hát nguyện cầu này. Tất cả chúng ta đều cảm thấy lẻ loi cô quạnh làm sao ấy sau cuộc ra đi của Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng trên 26 năm trường đă là mục tử của chúng ta và dẫn dắt chúng ta tiến bước trong cuộc đời! Ngài đă vượt qua ngưỡng cửa của sự sống mai hậu, tiến vào mầu nhiệm Thiên Chúa. Thế nhưng ngài đă không bước đi một ḿnh. Những ai tin tưởng th́ chẳng bao giờ lẻ loi một ḿnh cả, cả khi c̣n sống lẫn khi qua đời. Vào lúc ấy, chúng ta có thể kêu cầu Chư Thánh thuộc mọi thời đại, bạn bè ḿnh, anh chị em ḿnh trong đức tin, biết rằng các vị sẽ theo nhau hộ tống ḿnh về thế giới bên kia, tiến vào vinh quang của Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng việc ngài trở về là những ǵ đă được đợi chờ. Giờ đây, chúng ta cũng biết rằng ngài đang ở nơi của ngài và thực sự là nhà của ngài.

 
 Chúng tôi c̣n được ủi an khi chúng tôi long trọng tiến vào cuộc mật nghị, để chọn bầu người được Chúa chọn. Làm sao chúng ta có thể biết được tên tuổi của con người này? Làm sao 115 vị giám mục, đến từ mọi nền văn hóa và mọi quốc gia, có thể nhận ra người Chúa muốn trao phó sứ vụ tháo cởi đây? Một lần nữa, chúng ta biết rằng chúng ta không lẻ loi một ḿnh, chúng ta biết rằng chúng ta được bao vây, dẫn dắt và hướng đạo bởi thành phần bạn hữu của Thiên Chúa. Và rồi giờ đây, trong lúc này đây, một người tôi tớ của Thiên Chúa như tôi đây lại phải gánh vác cả một công việc khổng lồ, một công việc thực sự vượt quá tất cả khả năng của loài người. Làm sao tôi có thể làm nổi việc này chứ? Làm sao tôi sẽ có thể làm được việc ấy chứ? Các bạn thân mến của tôi ơi, tất cả các bạn vừa kêu cầu cùng toàn thể chư thánh, được tiêu biểu bởi một số tên tuổi cao cả trong lịch sử của những ǵ Thiên Chúa tiếp xúc với loài người. Như thế, tôi cũng có thể nói bằng một niềm xác tín tái lập là: Tôi không lẻ loi một ḿnh. Tôi không mang vác một ḿnh những ǵ thực sự là tôi không bao giờ có thể một ḿnh mang vác. Tất cả Chư Thánh của Thiên Chúa đều hiện diện ở đó để bảo vệ tôi, để hỗ trợ tôi và để nâng đỡ tôi. Rồi các lời nguyện cầu của anh chị em, anh chị em thân mến, việc ưu ái của anh chị em, ḷng yêu thương của anh chị em, đức tin của anh chị em và niềm hy vọng của anh chị em là những ǵ hộ tống tôi. Thật vậy, việc các thánh cùng thông công không phải chỉ là việc hiệp thông của thành phần nam nữ cao cả đă ra đi trước chúng ta và là thành phần chúng ta biết đến tiếng tăm. Tất cả chúng ta đều thuộc về mối hiệp thông các thánh này, chúng ta là thành phần được lănh nhận phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, chúng ta là thành phần kín múc sự sống tự tặng ân Ḿnh Máu Chúa Kitô là phương tiện Người biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta nên giống như Người.

 
 Phải, Giáo Hội là những ǵ sống động – đó là một cảm nghiệm tuyệt vời trong những ngày này. Trong những ngày buồn thương trước t́nh trạng yếu liệt và qua đời của vị Giáo Hoàng, Giáo Hội đă trở thành hiển nhiên một cách tuyệt vời cho chúng ta thấy rằng Giáo Hội là những ǵ sống động. Và Giáo Hội th́ trẻ trung. Giáo Hội mang trong ḿnh tương lai của thế giới, và bởi đó, cho mỗi một người chúng ta thấy con đường dẫn đến tương lai. Giáo Hội sống động – Giáo Hội sống động v́ Chúa Kitô sống động, v́ Người thực sự đă sống lại. Nơi nỗi khổ đau chúng ta thấy trên gương mặt của Đức Thánh Cha vào những ngày Phục Sinh, chúng ta chiêm ngưỡng thấy mầu nhiệm của Cuộc Chúa Kitô Khổ Nạn và chúng ta đă chạm tới các thương tích của Người. Thế nhưng, qua những ngày ấy, chúng ta c̣n có thể, ở một ư nghĩa sâu xa, chạm đến được cả Đấng Phục Sinh nữa. Chúng ta đă có thể cảm nghiệm được niềm vui Người đă hứa hẹn như hoa trái của việc Người Phục Sinh sau một thời gian ngắn ngủi tối tăm.
 
 Giáo Hội sống động, với những lời này, tôi hết sức vui mừng và tri ân cảm tạ gửi lời chào đến tất cả mọi anh chị em tụ họp ở nơi đây, chư huynh hồng y và giám mục khả kính của tôi, chư linh mục, phó tế, phục vụ viên Giáo Hội, giáo lư viên thân mến của tôi. Tôi xin gửi đến anh chị em tu sĩ nam nữ, thành phần nhân chứng cho việc hiện diện rạng ngời của Thiên Chúa. Tôi xin gửi lời chào đến anh chị em, thành phần tín hữu giáo dân, trầm ḿnh nơi việc làm cao cả ở mọi lănh vực của cuộc sống để dựng xây Vương Quốc của Thiên Chúa đang lan rộng khắp nơi trên thế giới. Với ḷng cảm mến sâu xa tôi cũng gửi lời chào đến tất cả những ai được tái sinh trong Bí Tích Rửa Tội nhưng chưa hoàn toàn hiệp thông với chúng tôi; cả quí vị nữa, hỡi anh chị em nhân dân Do Thái, thành phần chúng tôi được chia sẻ cả một di sản thiêng liêng cao cả, một di sản được bắt nguồn từ những lời hứa bất khả văn hồi của Thiên Chúa. Sau hết, như một làm sóng góp lực, tôi nghĩ đến tất cả mọi con người nam nữ ngày nay, đến những anh chị em tín ngưỡng cũng như vô tín ngưỡng.
 
 Quí bạn thân mến! Vào lúc này đây tôi không cần phải tŕnh bày chương tŕnh hành vụ của tôi. Tôi đă nêu lên những ǵ tôi cảm thấy là công việc tôi phải làm ở Sứ Điệp hôm Thứ Tư 20/4, và sẽ c̣n có những dịp khác để nói lên điều này. Chương tŕnh hành vụ thực sự của tôi đó là không phải làm theo ư của tôi, không phải là theo đuổi những ư tưởng riêng của tôi, mà là lắng nghe, cùng với toàn thể Giáo Hội, lời Chúa và ư Chúa, để được Người hướng dẫn, nhờ đó, Chính Người Đích Thân dẫn dắt Giáo Hội ở vào thời điểm lịch sử này của chúng ta. Thay v́ nói về một chương tŕnh hành vụ, tôi chỉ muốn nhận định về hai biểu hiệu phụng vụ tiêu biểu cho lễ đăng quang của Thừa Tác Vụ Thừa Kế Thánh Phêrô; ngoài ra, cả hai biểu hiệu này phản ảnh rơ ràng những ǵ chúng ta đă nghe công bố trong các bài đọc hôm nay.

Biểu hiệu thứ nhất đó là giây choàng tông phẩm (petrine pallium), được thêu bằng lông thuần túy, một sợi giây được quàng lên đôi vai của tôi. Dấu hiệu cổ kính này, một dấu hiệu được các vị giám mục Rôma đeo từ thế kỷ thứ 4, có thể được coi là h́nh ảnh cái ách của Chúa Kitô, một cái ách mà vị giám mục của thành này, Tôi Tớ của mọi Tôi Tớ Chúa, gánh trên đôi vai của ḿnh. Ách của Thiên Chúa là ư muốn của Thiên Chúa, một ư muốn chúng ta chấp nhận. Và ư muốn này không đè nặng trên chúng ta, áp đảo chúng ta và làm cho chúng ta mất tự do. Biết được những ǵ Thiên Chúa muốn, biết được đâu là con đường sự sống, đó là niềm vui của dân Do Thái, đó là đại diễm phúc cho dân này. Đó cũng là niềm vui của chúng ta nữa: Ư muốn của Thiên Chúa không loại trừ chúng ta mà là thanh tẩy chúng ta, cho dù có đớn đau, nhờ đó ư muốn ấy dẫn chúng ta đến với bản thân ḿnh. Nhờ đó, chúng ta chẳng những phụng sự một ḿnh Người, mà c̣n phần rỗi của cả thế giới, của tất cả lịch sử nữa.


Biểu hiệu của giây choàng tông phẩm thậm chí c̣n có một ư nghĩa cụ thể hơn nữa, ở chỗ, lông của con cừu có mục đích tiểu biểu cho con chiên thất lạc, con chiên bệnh hoạn, hay con chiên yếu kém được vị mục tử vác trên vai mang đến gịng nước sự sống. Đối với các Vị Giáo Phụ của Giáo Hội, dụ ngôn con chiên lạc, con chiên được người mục tử t́m kiếm trong sa mạc, là h́nh ảnh của mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội. Nhân loại, tức mọi người trong chúng ta đây, là con chiên lạc mất trong sa mạc không c̣n biết đâu là phương hướng nữa. Con Thiên Chúa sẽ không để cho điều này xẩy ra; Người không thể bỏ rơi nhân loại ở trong một t́nh trạng quá ư là khốn nạn như thế. Người đă vội vă từ bỏ vinh quang trên trời để ra đi t́m kiếm con chiên này và theo đuổi nó cho tới Thập Tự Giá. Người đă vác nó trên hai vai của Người và ẵm bồng nhân loại của chúng ta; Người ẳm bế tất cả chúng ta – Người là vị mục tử nhân lành đă bỏ mạng sống ḿnh v́ chiên. Điều giây choàng tông phẩm trước hết và trên hết muốn nói tới đó là tất cả chúng ta đều được Chúa Kitô bồng bế. Thế nhưng, đồng thời nó cũng mời gọi chúng ta hăy bao bọc lẫn nhau. Thế nên giây choàng tông phẩm này trở thành một biểu hiệu cho sứ vụ của vị chủ chăn, một sứ vụ đă được bài đọc thứ hai và bài Phúc Âm nói đến. Vị mục tử cần phải được nhiệt huyết thánh hảo của Chúa Kitô tác động, ở chỗ, đối với vị mục tử này không có vấn đề dửng dưng trước rất nhiều người đang sống trong sa mạc. Có nhiều thứ sa mạc. Có thứ sa mạc bần cùng, sa mạc đói khát, sa mạc hoang vắng, sa mạc cô đơn, sa mạc trụy ái. Có thứ sa mạc tăm tối về Thiên Chúa, trống rỗng tâm hồn không c̣n biết phẩm giá của ḿnh hay mục đích của đời sống làm người nữa. Những thứ sa mạc bên ngoài trên thế giới này đang gia tăng, v́ những sa mạc nội tâm đă trở nên quá rộng lớn. Bởi thế mà những kho tàng của trái đất này không c̣n được dùng để giúp vào việc kiến tạo một khui vườn của Thiên Chúa cho tất cả mọi người sống nữa, trái lại, chúng đă được sử dụng để phục vụ cho các thứ quyền lực khai thác và hủy hoại. Giáo Hội nói chung và tất cả mọi vị mục tử của Giáo Hội, như Chúa Kitô, cần phải lên đường dẫn dắt con người ra khỏi sa mạc ấy, hướng đến nơi có sự sống, hướng đến t́nh nghĩa với Con Thiên Chúa, đến Đấng ban sự sống cho chúng ta, một sự sống sung măn.


Biểu hiệu con cừu c̣n có một ư nghĩa sâu xa hơn nữa. Ở Cận Đông ngày xưa, thành phần vua chúa vốn có thói quen tỏ ra là những người mục tử chăn dắt nhân dân của họ. Đó là h́nh ảnh cho thấy quyền lực của họ, một h́nh ảnh khinh miệt, ở chỗ, đối với họ, hạ thần của họ như thể chiên cừu, một thứ chiên cừu mà người mục tử có thể sử dụng tùy ư. Khi vị mục tử của toàn thể nhân loại là Thiên Chúa hằng sống, Đích Thân trở thành một con cừu, Người đă đứng về phía các con cừu, với thành phần bị chà đạp và sát hại. Đó là cách Người tỏ Ḿnh ra là người mục tử đích thực: ‘Tôi là Mục Tử Nhân Lành. Tôi bỏ mạng sống ḿnh v́ chiên’, Chúa Giêsu nói về Bản Thân ḿnh như thế (Jn 10:14ff). Chính yêu thương, chứ không phải là quyền lực, đă cứu chuộc chúng ta! Đó là dấu hiệu của Thiên Chúa: Chính Ngài là t́nh yêu. Đă bao nhiêu lần chúng ta muốn rằng giá mà Thiên Chúatỏ ḿnh ra mạnh mẽ hơn nữa, rằng giá mà Người ra tay một cách cương quyết hơn, khống chế sự dữ và tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn. Tất cả mọi thứ ư hệ về quyền lực đều biện minh ḿnh y hệt theo chiều hướng ấy, chúng biện minh cho việc hủy hoại bất cứ những ǵ chặn đường tiến bộ và giải phóng con người. Chúng ta cảm thấy khổ đau trước thái độ nhẫn nại của Thiên Chúa. Thế mà, chúng ta cần đến sự nhẫn nại của Người. Thiên Chúa, Đấng đă trở nên một con chiên con, nói với chúng ta rằng thế giới này được cứu độ bởi Đấng Chịu Đóng Đanh, chứ không phải bởi những ai đóng đanh Người. Thế giới này được cứu chuộc bởi sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Nó bị tiêu diệt bởi sự bất nhẫn của con người.

 
Một trong những đặc tính căn bản của một người mục tử đó là phải yêu thương thành phần được trao phó cho họ, thậm chí như họ yêu mến Chúa Kitô là Đấng họ phụng sự. ‘Hăy chăn chiên của Thày’, Chúa Giêsu đă nói với Thánh Phêrô như thế, và giờ đây, vào lúc này đây, Người nói câu đó với cả tôi nữa. Chăn nuôi nghĩa là yêu thương, và yêu thương cũng có nghĩa là sẵn sàng chịu đau khổ. Yêu thương nghĩa là cống hiến cho chiên những ǵ thực sự là thiện hảo, đó là thứ dưỡng chất chân lư của Thiên Chúa, dưỡng chất lời Chúa, dưỡng chất hiện diện của Người, một hiện diện Người tỏ ra cho chúng ta nơi Bí Tích thánh. Các bạn thân mến, vào lúc này đây tôi chỉ có thể nói rằng xin hăy nguyện cầu cho tôi, để tôi biết yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn. Xin hăy cầu nguyện cho tôi, để tôi biết yêu thương đàn chiên của Người mỗi ngày một hơn, nói cách khác, yêu thương anh chị em, Hội Thánh, mỗi một người trong anh chị em và tất cả mọi người trong anh chị em. Xin hăy nguyện cầu cho tôi, để tôi không tẩu thoát v́ sợ hăi khi thấy sói dữ. Chúng ta hăy cầu nguyện lẫn cho nhau, để Chúa bồng bế chúng ta và để chúng ta cũng biết bao bọc lẫn nhau.

 
Biểu hiệu thứ hai được phụng vụ hôm nay sử dụng để diễn tả việc bắt đầu thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô là việc trao chiếc nhẫn của người đánh cá. Lời kêu gọi Thánh Phêrô trở thành một vị mục tử, như chúng ta đă nghe trong Phúc Âm, xẩy ra sau tŕnh thuật về mẻ cá lạ, khi mà, sau cả một đêm các môn đệ thả lưới bị thất bại, họ thấy Chúa Kitô Phục Sinh ở trên bờ. Người bảo họ hăy thả lưới một lần nữa, và lưới đă đầy cá đến nỗi họ khó ḷng kéo nó lên; 153 con cá lớn: ‘mà mặc dù quá nhiều cá mà lưới vẫn không bị rách’ (Jn 21:11). Tŕnh thuật này, kể lại vào cuối cuộc hành tŕnh của Chúa Giêsu với các môn đệ của Người, tương quan với tŕnh thuật vào thuở ban đầu, cả vào lúc ấy nữa, các môn đệ thâu đêm không bắt được ǵ; cũng lúc ấy, Chúa Giêsu đă mời gọi Simon hăy thả lưới một lần nữa ở chỗ nước sâu. Và Simon, nhân vật bấy giờ chưa được gọi là Phêrô, đă đáp lại một cách tuyệt vời là ‘Thưa Thày, vâng lời Thày con xin thả lưới’. Thế rồi ngài đă được trao cho sứ vụ: ‘Đừng sợ. Từ nay con sẽ trở thành tay chài lưới người ta’ (Lk 5:1-11). Cả ngày nay nữa, Giáo Hội và thành phần kế thừa các Tông Đồ được kêu gọi hăy tiến vào biển sâu lịch sử mà thả lưới để chinh phục con người nam nữ về cho Phúc Âm – cho Thiên Chúa, cho Chúa Kitô, cho sự sống đích thực. Các Vị Giáo Phụ đă dẫn giải rất khéo về công việc đặc biệt này. Đây là những ǵ các ngài nói: đối với cá, loài được dựng nên v́ nước, nó sẽ chết nếu bị lấy ra khỏi biển khơi, bị đem ra khỏi yếu tố sống c̣n của nó để làm đồ ăn cho con người. Thế nhưng, nơi sứ vụ của một kẻ đánh cá người th́ ngược lại mới đúng. Chúng ta đang sống trong cảnh xa ĺa, trong những gịng nước mặn chết chóc và khổ đau; trong một biển cả tối tăm không ánh sáng. Lưới Phúc Âm đă kéo chúng ta đă kéo chúng ta ra khỏi những thứ nước chết chóc và mang chúng ta vào cảnh rạng ngời của ánh sáng thần linh, vào sự sống đích thực. Thật sự là như thế: khi chúng ta theo Chúa Kitô thực hiện sứ vụ này để trở thành những kẻ đánh cá người, chúng ta cần phải mang con người nam nữ ra khỏi biển khơi mặn mà đủ thứ h́nh thức xa ĺa và mang họ vào mảnh đất sự sống, vào ánh sáng của Thiên Chúa.

 
Thật sự là thế: mục đích đời chúng ta sống là để tỏ Thiên Chúa cho con người. Và chỉ có nơi nào thấy được Thiên Chúa mới bắt đầu có sự sống mà thôi. Chỉ khi nào chúng ta gặp được Thiên Chúa hằng sống nơi Chúa Kitô chúng ta mới biết sự sống là ǵ. Chúng ta không phải là một thứ sản phẩm ngẩu nhiên và vô nghĩa của tiến hóa. Mỗi một người trong chúng ta là thành quả của tư tưởng Thiên Chúa. Mỗi một người trong chúng ta đều được ước định, mỗi một người trong chúng ta đều được yêu thương, mỗi một người trong chúng ta đều cần thiết. Không có ǵ tuyệt vời hơn là cảm thấy bàng hoàng trước Phúc Âm, trước việc được hội ngộ Chúa Kitô. Không có ǵ tuyệt vời hơn là nhận biết Người và nói với kẻ khác về t́nh nghĩa của chúng ta đối với Người. Công việc của vị mục tử, công việc của vị đánh cá người, thường có thể là những ǵ mỏi mệt. Thế nhưng, nó là những ǵ đẹp đẽ và tuyệt vời, v́ nó thực sự là thứ việc phục vụ cho niềm vui, niềm vui của Thiên Chúa, một niềm vui cần được vang lên trong thế giới.
 
Đến đây tôi muốn thêm điều này nữa, đó là cả h́nh ảnh về người mục tử và h́nh ảnh về người đánh cá đều làm phát ra một tiếng mời gọi hiệp nhất tỏ tường. ‘Tôi c̣n có chiên khác chưa thuộc về đàn này; Tôi cần phải dẫn chúng nữa, và chúng sẽ lắng nghe tiếng Tôi. Rồi sẽ có một đàn chiên và một chủ chiên’ (Jn 10:16); những lời này của Chúa Kitô ở cuối bài giảng của Người về vị Chủ Chiên Nhân Lành. Và tŕnh thuật về 153 con cá lớn được kết thúc bằng câu nói hân hoan: ‘mặc dù quá nhiều cá mà lưới vẫn không bị rách’ (Jn 21:11). Than ôi, Chúa yêu ơi, giờ đây chúng con cảm thấy buồn ḷng mà nh́n nhận rằng nó đă bị rách rồi! Nhưng không – chúng con không được buồn! Chúng con hăy vui lên v́ Chúa đă hứa hẹn, một lời hứa không làm thất vọng, và chúng con hăy làm tất cả những ǵ chúng con có thể để theo đuổi con đường hướng đến hiệp nhất Chúa đă hứa. Chúng con hăy nhớ đến nó khi chúng con nguyện cầu cùng Chúa, khi chúng con nài xin Người: vâng, lạy Chúa, xin Chúa hăy nhớ lại lời Chúa hứa. Xin Chúa ban cho chúng con được trở thành một đàn chiên và một chủ chiên! Xin Chúa đừng để cho lưới của Chúa bị rách, xin hăy giúp chúng con trở thành những người tôi tớ của hiệp nhất!

 
Tới đây, tôi nghĩ về ngày 22/10/1978, ngày mà Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bắt đầu thừa tác vụ của ḿnh tại Quảng Trường Thánh Phêrô đây. Những lời của ngài vào dịp ấy vẫn liên tục vang vọng trong tai tôi: ‘Đứng sợ! Hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!’ Vị Giáo Hoàng này đă ngỏ cùng thành phần thế lực, thành phần quyền lực của thế giới này, những thành phần sợ rằng Chúa Kitô có thể lấy đi một cái ǵ đó khỏi quyền lực của họ nếu họ để cho Người vào, nếu họ để cho đức tin được tự do. Phải, Người chắc chắn sẽ lấy đi một cái ǵ đó khỏi họ: đó là cái thế lực hư hoại, cái mạo dụng luật lệ và tự do để làm những ǵ họ thích. Thế nhưng, Người sẽ không lấy đi bất cứ điều ǵ liên quan đến tự do và phẩm vị của con người, hay liên quan đến việc dựng xây một xă hội chân chính. Vị Giáo Hoàng này cũng nói điều đó với hết mọi người, nhất là giới trẻ. Không phải tất cả chúng ta đều hăi sợ một cách nào đó hay chăng? Nếu chúng ta để cho Chúa Kitô hoàn toàn đi vào cuộc đời của ḿnh, nếu chúng ta trọn vẹn cởi mở bản thân ḿnh cho Người, chúng ta có sợ rằng Người có thể sẽ lấy đi khỏi chúng ta một cái ǵ đó hay chăng? Chẳng lẽ chúng ta không sợ phải từ bỏ một cái ǵ đó quan trọng, một cái ǵ đó chuyên biệt, một cái ǵ đó làm cho đời sống hết sức tuyệt vời hay sao? Như thế chẳng lẽ chúng ta lại không liều ḿnh đi đến chỗ làm suy giảm đi hay làm hụt hẫng mất cái tự do của chúng ta hay sao? Một lần nữa, vị Giáo Hoàng này đă nói: Không đâu! Nếu chúng ta để cho Chúa Kitô đi vào cuộc sống của chúng ta th́ chúng ta chẳng những không bị mất đi một sự ǵ cả, không một sự ǵ, tuyệt đối là không có một sự ǵ, trái lại, nhờ đó c̣n làm cho cuộc của chúng ta được thanh thoát, tuyệt vời và cao cả. Không đâu! Chỉ có ở nơi mối thân t́nh này các cửa sự sống mới có thể rộng mở mà thôi. Chỉ có ở nơi t́nh nghĩa ấy khả năng cao cả của sự sống con người mới thực sự thể hiện mà thôi. Chỉ có ở trong t́nh nghĩa này chúng ta mới cảm thấy được vẻ đẹp và tự do mà thôi. Bởi thế, hôm nay đây, bằng quyền năng mănh liệt và bằng niềm xác tín vững chắc, căn cứ vào kinh nghiệm bản thân lâu đời của ḿnh, hỡi giới trẻ thân mến, tôi muốn nói cùng quí bạn rằng: Xin đừng sợ Chúa Kitô! Ngài không lấy đi một điều ǵ đâu, mà Người lại ban cho các bạn hết mọi sự. Khi chúng ta hiến ḿnh cho Người, chúng ta nhận lại được gấp trăm. Phải, hăy mở cửa, mở rộng cửa cho Chúa Kitô – và các bạn sẽ t́m thấy sự sống đích thực. Amen.

 

 

(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo điện thư của VIS ngày 24/4/2005, những chỗ in nghiêng và đậm là do ngươiø dịch muốn nhấn mạnh đến ư tưởng liên hệ)