SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XIV Thường Niên Năm A và Năm Lẻ

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


Chúa Nhật


Lời Chúa


 

Bài Ðọc I: Dcr 9, 9-10

"Này vua ngươi khiêm tốn đến với ngươi".

Trích sách Tiên tri Dacaria.

Ðây Chúa phán: "Hỡi thiếu nữ Sion, hãy nhảy mừng; hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy reo mừng! Này vua ngươi đến với ngươi. Người là Ðấng công chính và là Ðấng cứu độ; Người khiêm tốn ngồi trên lừa con, con của lừa mẹ. Người đã loại bỏ các chiến xa khỏi Ephraim, và ngựa khỏi Giêrusalem. Cung tên chiến trận sẽ được phá huỷ. Người sẽ công bố hoà bình cho các dân tộc. Quyền bính của Người sẽ bành trướng từ biển này đến biển nọ, từ sông cái đến tận cùng trái đất".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 144, 1-2. 8-9. 10-11. 13cd-14

Ðáp: Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời (c. 1).

Xướng: 1) Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa, con sẽ ca khen Chúa, và con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời. Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. - Ðáp.

2) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài. - Ðáp.

4) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng đứng thẳng lên. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Rm 8, 9. 11-13

"Nếu nhờ thần trí mà anh em đã giết được hành động của xác thịt, thì anh em sẽ được sống".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Ðức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người. Và nếu Thánh Thần của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðức Kitô từ cõi chết sống lại, cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em.

Anh em thân mến, chúng ta không phải là những kẻ mắc nợ xác thịt, để chúng ta sống theo xác thịt. Vì chưng, nếu anh em đã sống theo xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Trí mà anh em đã giết được các hành động (xấu xa của) thân xác, thì anh em sẽ được sống.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 10, 17

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 11, 25-30

"Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu lên tiếng nói rằng: "Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. - Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho.

"Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng".

Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm

 


"Những điều ấy" là những điều nào?

 

 

Có thể đặt nhan đề chung cho Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm A tuần này bằng ba chữ: "Những điều ấy", ba chữ được lấy từ câu đầu tiên của Bài Phúc Âm hôm nay.

 

Thật vậy, nếu 3 tuần vừa rồi, Chúa Nhật XI, Chúa Nhật XII và Chúa Nhật XIII, Giáo Hội đã chọn đọc đoạn 10 (không trọn cả đoạn) của Phúc Âm Thánh ký Mathêu cho chu kỳ phụng niên Năm A liên quan đến ơn gọi kèm theo sứ vụ rao giảng của các môn đệ tông đồ (Chúa Nhật Tuần XI), tinh thần và nội dung rao giảng của các vị (Chúa Nhật Tuần XII), và thái độ "đón tiếp" cần có ở nơi thành phần được nghe các môn đệ thừa sai rao giảng (Chúa Nhật Tuần XIV), thì Chúa Nhật Tuần XIV này bao gồm chính chủ thể được các môn đệ thừa sai rao giảng "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16).

 

Đúng thế, "những điều ấy" đây, những điều mà "Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết... mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn" được Chúa Giêsu muốn nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay đó chính "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống", Đấng đã khẳng định ngay trong Bài Phúc Âm hôm nay rằng: "không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho".

 

Chúa Kitô tự mình quả thực là một mầu nhiệm, loài người thiển cận và hạn hữu không thể nào tự mình có thể nhận biết được nếu không được "Cha Thày trên trời đã mạc khải cho biết" (Mathêu 16:17), và cho dù đã được mạc khải cho biết nhưng nếu con người được mạc khải ấy không lấy đức tin mà chấp nhận thì vẫn bị nhầm lạc như thường, như chính bản thân của vị tông đồ Phêrô tuyên xưng chính xác mạc khải thần linh ấy (xem Mathêu 16:23). Bởi thế Chúa Kitô mới nói đến thành phần "những kẻ bé mọn". Tại sao? Nếu không phải tại vì chính đối tượng đức tin, đến cốt lõi của mạc khải thần linh "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".

 

Có thể nói "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" là cốt lõi của mạc khải thần linh, bao gồm cả mạc khải Cựu Ước (hướng về và trông đợi "Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống" là tột đỉnh của Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái) lẫn Tân Ước, cả sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội cho đến tận thế. Chính Chúa Kitô, "vào thời điểm viên trọn" (Galata 4:4) của mình, cũng đã tự chứng nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét là bản thân Người chính là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống", bằng chính Cuộc Vượt Qua của Người, từ tử nạn như một "Đức Kitô" Thiên Sai và sống lại như "Con Thiên Chúa hằng sống".

 

Thế nhưng, kinh nghiệm phũ phàng cho thấy, thành phần "những người hiền triết và khôn ngoan", như phái Pharisiêu và luật sĩ thông luật, giữ luật và dạy luật chẳng những không chấp nhận nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" mà còn âm mưu sát hại Người cho bằng được: "Quí vị tìm Tôi (tức họ rất muốn biết Người là ai và từ đâu đến - xem Gioan 10:24) nhưng quí vị sẽ chết trong tội lỗi của quí vị (bằng cách lên án tử cho Người ngay sau khi Người tự xưng căn tính đích thực của Người để đáp ứng lệnh truyền của vị thượng tế nhân danh Thiên Chúa hỏi Người)" (Gioan 8:21; Mathêu 26:63-64).

 

Sở dĩ thành phần "những người hiền triết và khôn ngoan" thế gian không thể nhận biết nhân vật lịch sử Giêsu Nazzarét "là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống" là vì Người chẳng có tướng Thiên Sai tí nào trước con mắt trần tục và niềm mong đợi giải phóng đầy quyền lực của họ, trái lại, họ lại thấy "Người khiêm tốn ngồi trên lừa con, con của lừa mẹ", như Bài Đọc 1 hôm nay báo trước và Người quả thực là như thế trước mắt họ khi Người vinh quang tiến vào thành Giêrusalem là giáo đô của dân Do Thái (xem Mathêu 21:1-9).

 

Hiện tượng phủ nhận nhân vật Giêsu Nazarét "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" nơi thành phần "những người hiền triết và khôn ngoan" cũng dễ hiểu thôi, bởi họ sống theo xác thịt và không sống bởi Thánh Thần, đúng như những gì Thánh Phaolô đã đề cập đến trong Thư gửi Giáo đoàn Rôma ở Bài Đọc 1 hôm nay, những lời ngài đã vừa nhắc nhủ và vừa cảnh giác tín hữu giáo đoàn này: "Anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Ðức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người"; "nếu anh em đã sống theo xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Trí mà anh em đã giết được các hành động (xấu xa của) thân xác, thì anh em sẽ được sống".

 

Như thế, thành phần "những kẻ bé mọn" chẳng những được Cha Trên Trời mạc khải cho biết Con của Ngài mà còn có thể chấp nhận mạc khải thần linh của Cha là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" là vì họ không sống theo xác thịt và nhờ Thánh Thần tác động trong họ. Theo bản chất tự nhiên, họ cũng cảm thấy "khó nhọc và gánh nặng" của cuộc đời trần gian đầy gian nan thử thách, trước sức hấp dẫn của thế gian bên ngoài và khuynh hướng chỉ muốn buông thả bên trong khó lòng mà chống lại được với đủ mọi mưu chước cám dỗ quỉ quyệt của satan và thần dữ.

 

Thế nhưng, chính vì là thành phần "những kẻ bé mọn" mà họ không bao giờ cậy mình, trái lại, họ chỉ tin tưởng vào một mình Thiên Chúa là Đấng, như Bài Đáp Ca hôm nay xác tín và tuyên xưng: "nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa", "nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa".

 

Nhờ đó, nhờ lòng tin tưởng cậy trông vào một mình Thiên Chúa như thế, mà họ, "những kẻ bé mọn", đã được "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" "nâng đỡ bổ sức cho", đến độ khiến họ có thể dễ dàng "mang lấy ách" của Người là tất cả lề luật cùng giáo huấn trọn lành của Người, bằng tất cả tâm hồn "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" như Người, Đấng "đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập tự giá" (Philiphê 2:6), một tâm hồn "được bình an" bởi họ thực sự cảm nghiệm thấy "ách của (Người) thì êm ái và gánh của (Người) thì nhẹ nhàng" hợp với tầm vóc nhỏ bé nhưng nội công thâm hậu của họ nhờ quyền lực Thánh Thần ở trong họ. Họ quả đúng như lời Chúa phán trong câu Alleluia hôm nay: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

 


 


Thứ Hai

Như "cái thang" đưa con người từ đất lên trời


Bài Đọc I: (Năm I) St 28, 10-22a

Đáp Ca: Tv 90, 1-2. 3-4. 14-15ab
Phúc Âm: Mt 9, 18-26


Bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Mathêu thuật lại một sự kiện giống như Thánh ký Marcô đã thuật lại trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XIII Thường Niên Năm B tuần trước. Tuy nhiên, Thánh ký Mathêu thuật lại có vẻ ngắn gọn hơn, ít chi tiết hơn Thánh ký Marco, bao gồm một số chi tiết khác hẳn nhau:


Hai chi tiết hoàn toàn khác nhau, thậm chí nghịch nhau như sau: Chi tiết thứ nhất đó là người đến xin Chúa cứu đứa con gái của mình là "một vị kỳ mục" chứ không phải là một "trưởng hội đường" như Thánh Marco cho biết, và chi tiết thứ hai đó là "con gái tôi vừa mới chết" chứ không phải "đang hấp hối" như trong Phúc Âm Thánh ký Marco.


Ngoài ra, còn hai chi tiết khác cả hai bài Phúc Âm đều giống nhau, đó là chi tiết về người đàn bà loạn huyết 12 năm được Chúa Giêsu chữa lành nhờ bà có lòng tin: "Này con, hãy vững lòng. Đức tin của con đã cứu thoát con", và chi tiết về người con gái vừa qua đời được Người đến cải tử hoàn sinh cho: "'Các ngươi hãy lui ra, con bé không có chết đâu, nó ngủ đó thôi'. Họ liền nhạo cười Người. Và khi đã xua đám đông ra ngoài, Người vào cầm tay đứa bé và nó liền chỗi dậy"


Về hai chi tiết hoàn toàn khác nhau, thậm chí nghịch nhau giữa bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu hôm nay và bài Phúc Âm của Thánh ký Marco hôm Chúa Nhật XIII Thường Niên Năm B tuần trước, chúng ta có thể đặt vấn đề tại sao, nhưng cả hai chỉ là những chi tiết phụ thuộc không đáng lưu ý bằng những gì chính yếu hơn, đó là việc Chúa Giêsu tỏ mình ra qua cái chết của người con gái này nơi cả 2 bài Phúc Âm (cho dù là hấp hối hay vừa chết), chẳng những cho cha mẹ của em (cho dù người bố của em là trưởng hội đường hay kỳ mục) mà còn cho cả dân chúng bấy giờ nữa. 


Nếu bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay được trích từ Sách Khởi Nguyên về giấc chiêm bao của tổ phụ Giacóp "thấy một cái thang, chân thang chấm đất và đầu thang chạm đến trời: các thiên thần lên xuống trên thang ấy", thì ý nghĩa của bài đọc này có liên hệ gì với bài Phúc Âm hôm nay nói riêng và phụng vụ Lời Chúa nói chung (bao gồm cả bài Đáp Ca) hay chăng? Thưa có - ở chỗ như thế này:


Cả việc chữa lành cho người đàn bà loạn huyết 12 năm lẫn việc cải tử hoàn sinh cho người con gái của gia chủ thân phụ xin Chúa Giêsu cứu giúp, đều được Chúa Giêsu thực hiện bằng những thứ tiếp xúc khác nhau với thân xác của Người: Trước hết, người đàn bà loạn huyết 12 năm được chữa lành nhờ "chạm đến gấu áo Người. Vì bà nghĩ thầm rằng: Nếu tôi được chạm đến áo Người thôi, thì tôi sẽ được khỏi", còn người con gái được cải tử hoàn sinh nhờ "Người vào cầm tay đứa bé". 


Có nghĩa là quyền năng chữa lành bệnh nạn tật nguyền và cải từ hoàn sinh của Chúa Giêsu là những gì xuất phát từ thân xác của Người, thậm chí từ cả "gấu áo" Người mặc, hay nói cách khác, thân xác của Người và những gì liên hệ tới Người đều có thể trở thành phương tiện cứu độ con người, như "cái thang" đưa con người từ đất lên trời. 


Thật vậy, tổ phụ Giacóp đã mơ thấy hình bóng của một Vị Cứu Tinh nơi hình ảnh "cái thang" có "các thiên thần lên xuống trên thang ấy", ám chỉ nhân tính của Người nói chung và thân xác của Người nói riêng, một nhân tính và một thân xác được các thiên thần hầu cận và phục vụ, như trong biến cố Người chay tịnh 40 ngày trong hoang địa ngay sau khi Người bị cám dỗ (xem Mathêu 4:11), hay biến cố Người sầu thương trong Vườn Cây Dầu trước khi Người toát mồ hôi như máu nhỏ xuống đất (xem Luca 22:43), hoặc biến cố Người phục sinh từ trong cõi chết có hai thiên thần ngồi trong mồ một vị đằng đầu và một vị đằng chân của vị thế thi thể Người được mai táng (xem Gioan 20:12).


Tâm trạng của con người sống với bản tính đã bị hư hoại bởi nguyên tội và mang nơi thân xác của mình những hậu quả của nguyên tội là đau khổ (như người đàn bà loạn huyết 12 năm) và sự chết (như đứa con gái của gia chủ thân phụ) trong bài Phúc Âm hôm nay đều cảm thấy cần được Thiên Chúa cứu độ, Đấng thực sự đã thực hiện việc cứu độ họ qua Con Một của Ngài đã hóa thân làm người mặc lấy bản tính con người là Chúa Giêsu Kitô. Tâm trạng của họ có thể phản ảnh qua bài Đáp ca hôm nay:


1) Bạn sống trong sự che chở của Đấng Tối Cao, bạn cư ngụ dưới bóng của Đấng Toàn Năng, hãy thưa cùng Chúa: "Chúa là chiến lũy, nơi con nương náu; lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài".


2) Vì chính Ngài sẽ cứu bạn thoát lưới dò của kẻ bẫy chim, và thoát khỏi quan ôn tác hại. Ngài sẽ che chở bạn trong bóng cánh của Ngài, và dưới cánh Ngài, bạn sẽ nương thân: lòng trung tín của Ngài là mã giáp và khiên thuẫn. 


3) Vì người quý mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời; Ta sẽ ở cùng người trong lúc gian truân. 



Thứ Ba


Một con người dám đấu với Thiên Chúa và 

"có sức mạnh chống lại Thiên Chúa"

 


Bài Đọc I: (Năm I) St 32, 22-32

Đáp Ca: Tv 16, 1. 2-3. 6-7. 8b và15

Phúc Âm: Mt 9, 32-38

 


Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho Thứ Ba Tuần XIV Thường Niên hôm nay bao gồm 2 sự kiện khác nhau: trước hết về việc Chúa Giêsu trừ quỉ, và sau đó về tình trạng chiên cần chủ chiên.


Về việc Chúa Giêsu trừ quỉ, Thánh ký Mathêu thuật lại ở phần trên của bài Phúc Âm hôm nay thế này: "Khi ấy, người ta đem đến Chúa Giêsu một người câm bị quỷ ám. Khi đã trừ quỷ, thì người câm nói được, đám đông dân chúng kinh ngạc và nói rằng: 'Chưa bao giờ thấy xảy ra như vậy trong dân Israel'. Nhưng các người biệt phái nói rằng: 'Ông ta đã nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ'".


Về tình trạng chiên cần chủ chiên, Thánh ký Mathêu thuật lại ở phần dưới của bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn. Người liền bảo môn đệ rằng: 'Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa'".


Ý tưởng chính yếu của bài Phúc Âm hôm nay đó là câu Thánh ký Mathêu ghi nhận về Chúa Giêsu rằng: "Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn". 


Đúng thế, tất cả những gì Thiên Chúa làm cho con người đều do bởi tình thương của Ngài trước thân phận tháp hèn và khốn khổ của con người, thành phần không thể tự cứu được mình mà chỉ hoàn toàn trông chờ vào Ngài, Đấng quả thực đã sai Con của Ngài đến với loài người, cũng chỉ vì thương con người, và Con của Ngài trở thành hiện thân sống động của tình thương Ngài đối với chung nhân loại và riêng thành phần nạn nhân của "mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền" hay bị quỉ ám về thể lý, như "người câm bị quỷ ám" trong bài Phúc Âm hôm nay, nhất là thành phần đáng thương tiêu biểu của nhân loại ngay trước mắt Người bấy giờ không được ai giúp đỡ và phục vụ


Bởi thế, trong dự án thần linh của mình, Người cần tuyển mộ thêm một số cộng sự viên đắc lực với Người trong sứ vụ cứu độ bất khả thiếu của Người. Đó là lý do Người "liền bảo với các môn đệ" là thành phần được Người gọi theo Người, chứ không bảo chung dân chúng, rằng: '"Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa".


"Lúa chín đầy đồng" đây nghĩa là gì, nếu không phải là thành phần dân chúng đáng thương cần được cứu vớt, họ là thành phần bình dân chất phác thường cởi mở và dễ tin tưởng vào Chúa cùng chấp nhận Lời Chúa hơn thành phần luật sĩ và biệt phái vốn hay tự phụ kiêu căng nên khó tin, khó chấp nhận những gì không hợp với họ hay họ có thành kiến, ngay cả khi họ thấy Người trừ quỉ câm trong bài Phúc Âm hôm nay mà họ vẫn cho rằng "Ông ta đã nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ'". 


Và cũng vì thế mới xẩy ra tình trạng "thợ gặt thì ít", nghĩa là những người lãnh đạo tinh thần cho dân chúng thì nhiều đấy nhưng về phẩm thì vẫn quá ít ỏi và hiếm hoi, hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả (xem Gioan 10:8 - "tất cả những kẻ đến trước Tôi đều là trộm cướp)" vừa bất xứng về tinh thần và uy tín vừa bất khả về cung cách và hiệu quả, đến không phải là để phục vụ như Người mà chỉ lo hưởng thụ ở chỗ tìm cầu những gì là danh dự và uy quyền mà thôi (xem Mathêu 20:28 và đoạn 23). 


Do đó, cần phải "xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa", nghĩa là sai những con người sống tinh thần của Chúa Kitô và như Chúa Kitô đến mới có thể đáp ứng nhu cầu cùng lòng mong đợi của dân chúng, nhờ đó hoàn thành dự án cứu độ thần linh vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa. 


"Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn" là những gì chứng tỏ cho thấy dù con người hèn yếu nhưng vẫn thắng được cõi lòng nhân hậu của Thiên Chúa, đến độ đã khiến cho Thiên Chúa phải cúi mình xuống phục vụ họ. 


Chẳng khác gì tổ phụ Giacóp trong bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, tuy là một con người yếu kém hơn "một người vật lộn với ông cho đến sáng" nhưng kể như vị tổ phụ này đã thắng trận đấu: "Người ấy thấy mình không thể vật ngã Giacóp được, nên đá vào gân đùi ông, và lập tức gân ấy khô bại". Chính chỗ "gân khô bại" bị "thiên thần đã đá vào gân đùi ôngấy, khiến "ông đi khập khễnh một chân" như thế cũng là và chính là dấu chứng tỏ "ông có sức mạnh chống lại Thiên Chúađúng như tên gọi "Israel" mới được vị ấy đặt cho ông cuối trận đấu.


Một con người dám đấu với Thiên Chúa và "có sức mạnh chống lại Thiên Chúa" như thế phải là một con người công chính, như tổ phụ Giacóp, cho dù là yếu hèn về mọi phương diện, như thành phần dân chúng trong bài Phúc Âm, nhưng càng vì thế họ lại càng hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, nhờ đó Thiên Chúa toàn năng có thể tỏ mình ra cho họ và qua họ, khiến họ trở thành quyền năng và vô đch như Thiên Chúa. Bài Đáp ca hôm nay đã bày tỏ tâm tình của một con người công chính đối với Thiên Chúa như sau:


1) Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con; xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe con thốt ra từ cặp môi chân thành! 


2) Từ cái nhìn của Chúa hãy diễn ra sự phán quyết về con: vì mắt Ngài thấy rõ điều chân chính. Nếu Ngài lục soát lòng con, nếu ban đêm Ngài thăm viếng, nếu Ngài thử con trong lửa, Ngài sẽ không gặp điều gian ác ở nơi con. 


3) Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con; lạy Chúa, xin lắng tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con. Xin tỏ ra đức từ bi lạ lùng của Chúa, là Đấng giải thoát khỏi bọn đối phương những ai tìm nương tựa tay hữu của Ngài. 


4) Xin che chở con trong bóng cánh tay Ngài. Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan; khi thức giấc, con no thoả nhìn chân dung Chúa. 



Thứ Tư


Đâu là thành phần "những con chiên lạc nhà Israel": Họ là ai?


Bài Đọc I: (Năm I) St 41, 55-57; 42, 5-7a. 17-24a

Đáp Ca: Tv 32, 2-3. 10-11. 18-19

Phúc Âm: Mt 10, 1-7



Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên, tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, ở chỗ, trong bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Giêsu thấy dân chúng bơ vơ như chiên không chủ chăn, và ngỏ ý muốn có thêm cộng sự viên trong công cuộc cứu độ với Người kêu gọi, bằng cách kêu gọi các môn đệ hãy xin thêm thợ gặt đến làm mùa, thì trong bài Phúc Âm hôm nay "Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ Người lại, và ban cho các ông quyền hành trên các thần ô uế để các ông xua đuổi chúng và chữa lành mọi bệnh hoạn, tật nguyền". 


Thành phần được Chúa Giêsu ưu tuyển này là những ai, được Thánh ký Mathêu cho biết như sau: "Đây là tên của mười hai Tông đồ: Trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em của ông, Giacôbê con ông Giêbêđê và Gioan em của ông, Philipphê và Bartôlômêô, Tôma và Matthêu người thu thế, Giacôbê con ông Alphê và Tađêô, Simon nhiệt tâm và Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người".


Và sứ vụ của 12 môn đệ được gọi là tông đồ này như thế nào, cũng được Thánh ký Mathêu cho biết như thế này: "Chúa Giêsu đã sai mười hai vị này đi và truyền rằng: 'Các con đừng đi về phía các dân ngoại và đừng vào thành của người Samaria. Tốt hơn, các con hãy đến cùng các chiên lạc nhà Israel. Các con hãy đi rao giảng rằng: 'Nước Trời đã gần đến'".


Ở đây có 2 vấn đề được đặt ra: thứ nhất là danh xưng môn đệ và tông đồ có khác nhau không, nếu có thì như thế nào? Và thứ hai là địa bàn hoạt động của các tông đồ tại sao chỉ giới hạn vào "các chiên lạc nhà Israel" mà thôi? 

 


Trước hết về danh xưng "môn đệ" (disciple) và "tông đồ" (apostle), căn cứ vào Phúc Âm, chúng ta nên hiểu như thế này: 


1- "Môn đệ" là một ơn gọi, ơn gọi theo Chúa Kitô, còn "tông đồ" là sứ vụ đặc biệt, sứ vụ "làm chứng" cho Chúa Kitô, sứ vụ chính yếu của thành phần làm "môn đệ" Chúa Kitô

2- Bởi thế "tông đồ" căn bản cũng là "môn đệ" của Chúa Kitô, tức là thành phần theo Chúa Kitô, nên các Phúc Âm hay thuật lại rằng Chúa Giêsu đi với các môn đệ của mình hoặc Người nói với các môn đệ của Người, chứ hầu như không viết là với các tông đồ. Ngay trong bài Phúc Âm hôm nay cũng thấy: "Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ Người lại", chứ không phải gọi 12 tông đồ lại.

3- Trong thành phần theo Chúa Kitô được Thánh Luca cho biết là có 72 "môn đệ" (disciples), thế nhưng cả 3 Phúc Âm Nhất Lãm (Mathêu, Marco và Luca) đều liệt kê chỉ có 12 "tông đồ" (apostles), thành phần "tông đồ" có tên tuổi đàng hoàng, như trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, trong khi các "môn đệ" không được liệt kê tên tuổi như vậy, và các môn đệ này có thể bao gồm cả thành phần nữ giới theo phục vụ Chúa nữa, nhưng không cần toàn thời (full time) như các tông đồ, mà bán thời (part time) cũng được.

4- Để trở thành "tông đồ" cần phải hội đủ 3 điều kiện chính yếu bất khả thiếu: thứ nhất, phải được chính Chúa Kitô tuyển chọn + thứ hai, phải được chính Chúa Kitô tỏ mình ra cho + thứ ba, phải được chính Chúa Kitô sai đi. Thánh Phaolô cũng được gọi bằng danh xưng "tông đồ", (cho dù không sống trực tiếp với Người ngay từ đầu và có tên trong danh sách "tông đồ"), là vì ngài cũng hội đủ 3 yếu tố để làm "tông đồ" trên đây: cũng được chính Chúa Kitô tuyển chọn (xem Tông Vụ 9:15), cũng được chính Chúa Kitô tỏ mình ra cho (xem Tông Vụ 9:4-6) và cũng được chính Chúa Kitô sai đi (xem Tông Vụ 13:47)

Vấn đề thứ hai là địa bàn hoạt động của các tông đồ tại sao "các con đừng đi về phía các dân ngoại và đừng vào thành của người Samaria" mà chỉ giới hạn vào "các chiên lạc nhà Israel" thôi? Phải chăng tại vì dân ngoại (nhất là ở Galilêa) có thể nói đã biết nhiều về Chúa Giêsu, Đấng đã bắt đầu xuất hiện như ánh sáng chiếu trong tăm tối ở miền đất này, một sự kiện được Thánh ký Mathêu ghi nhận như sau: 

"Khi Chúa Giêsu nghe Gioan đã bị tống giam thì Người lui về Galilêa. Người bỏ Nazarét mà đi đến sống ở Capernaum gần địa hạt Zebulun và Naphtali, cho trọn những gì đã được Tiên Tri Isaia nói: "Miền Galilêa dân ngoại: dân sống trong tăm tối đã được thấy ánh sáng cả thể..." (Mathêu 4:12-16). 

Vì Galilêa là vùng đất của Dân Do Thái sống chung đụng với rất nhiều dân ngoại, một miền bắc hoàn toàn khác với miền nam Giuđêa thuần túy Do Thái và là nơi có giáo đô Giêrusalem, một miền bắc đã trở thành vùng hoạt động chính yếu của Chúa Giêsu, nơi Người cũng đã tuyển chọn 12 tông đồ, mà sau khi sống lại Người cũng đã hẹn với các tông đồ về lại Galilêa gặp Người (xem Mathêu 28:7) và các vị quả thực đã gặp Người ở đó (xem Mathêu 28:16) để được Người sai đi "tuyển mộ môn đồ khắp các dân nước" (Mathêu 28:19).

Galilêa còn là vùng đất không được Chúa Giêsu bao gồm trong lệnh truyền sai các tông đồ đi rao giảng khắp nơi trước khi Người thăng thiên về cùng Cha: "Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền GiuđêA, SamariA và cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 1:8).

Vậy đối tượng các tông đồ được sai đến là "các chiên lạc nhà Israel" - Chúa Giêsu có ý ám chỉ những ai đây, nếu không phải thành phần dân Do Thái lầm lạc, chứ không phải thành phần Do Thái thành tâm đang tìm kiếm chân lý và thiết tha trông đợi Đấng Thiên Sai, như một Nicôđêmô (xem Gioan 3:1-2). Họ ở đâu? Nếu không phải ở ngay Galilêa, chứ không ở đâu xa, vì họ là thành phần đáng thương nhất! 

Mà thành phần "các chiên lạc nhà Israelđây thực sự là ai, nếu không phải là nhóm biệt phái và luật sĩ, thành phần mà các môn đệ của Chúa Kitô cần phải trổi vượt hơn về thánh đức (xem Mathêu 5:20), và không được nhiễm lây men gương mù gương xấu của họ (xem Mathêu 16:6), thành phần luôn có thái độ cao ngạo và thù nghịch với Chúa Kitô, bằng những hành động rình rập, bắt bẻ, chống đối và chụp bắt Người.

Phải chăng đó là lý do Chúa Giêsu đã báo trước cho các tông đồ được Người sai đi rằng: "Thày sai các con đi như chiên giữa sói rừng" (Mathêu 10:16) và cảnh giác các vị về những gian nan khốn khó xẩy ra do đối phương gây ra cho các vị, nhưng Người trấn an và phấn khích các vị rằng: "Đừng sợ kẻ chỉ giết được sự sống phần xác nhưng không thể hủy diệt được linh hồn" (Mathêu 10:28)?

Ý nghĩa lời Chúa Giêsu sai các tông đồ đến với "con chiên lạc nhà Israel" rất hợp với bài đọc 1 hôm nay. Ở chỗ, trong khi dân ngoại Ai Cập được no đầy cơm gạo nhờ Giuse, một người em được cha là tổ phụ Giacóp thương yêu đặc biệt, nên đứa em này đã bị các anh ghen ghét ám hại. 

Nhưng không ngờ mưu độc của các anh lại được Thiên Chúa quan phòng thần linh lợi dụng để biến Giuse thành quan đệ nhị nước Ai Cập, nhờ đó, qua Giuse, Ngài chẳng những cứu được đại gia đình của tổ phụ Do Thái Giacóp trong nạn đói bấy giờ mà còn mở con mắt lầm lạc của những người anh ác tâm, "những con chiên lạc nhà Israel" đầu tiên, như họ đã nhờ Giuse mà nhận biết lỗi lầm quá khứ của họ trong bài đọc 1 hôm nay:

"'Chúng ta phải chịu thế này thật xứng đáng, vì chúng ta đã phạm đến em chúng ta. Chúng ta đã thấy tâm hồn em chúng ta khổ sở, khi nó năn nỉ chúng ta tha cho nó, nhưng chúng ta không chịu nghe. Vì thế nên chúng ta phải chịu nỗi khốn khổ này'. Bấy giờ, một người trong anh em là Ruben nói rằng: 'Chớ thì tôi đã chẳng bảo anh em đừng có phạm đến đứa trẻ sao?'"

Bài Đáp Ca hôm nay chúc tụng Chúa (câu 1), bởi Ngài có thể thực hiện mọi sự theo ý định của Ngài, không ai có thể ngăn cản hay phá đám được (câu 2), như những gì Ngài đã định liệu cho đại gia đình tổ phụ Giacóp khi gặp nạn đói sau này, một ý định luôn thiên về thành phần kính sợ Ngài và tin tưởng cậy trông vào Ngài (câu 3), như Giuse trong bài đọc 1 hôm nay.  


1) Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm; với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran. 


2) Chúa phá tan ý định của các nước, làm cho vô hiệu tư tưởng của chư dân. Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Ngài còn mãi đời nọ sang đời kia. 


3) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. 



Thứ Năm


Thái độ "giũ bụi chân" của một vị tổ phụ


Bài Đọc I: (Năm I) St 44, 18-21. 23b-29; 45, 1-5
Đáp Ca: Tv 104, 16-17. 18-19. 20-21
Phúc Âm: Mt 10, 7-15

Bài Phúc Âm cho ngày Thứ Năm Tuần XIV Thường Niên hôm nay, cũng như cho 2 ngày còn lại trong tuần này, đều chất chứa những lời huấn dụ của Chúa Giêsu về sứ vụ được sai đi của các tông đồ.

Riêng trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã căn dặn và nhắn nhủ các tông đồ mấy điểm chính yếu sau đây: sứ điệp rao giảng (1); năng lực rao giảng (2); tinh thần rao giảng (3); thái độ giao tiếp (4).

1- Sứ điệp rao giảng - Nước Trời: "Các con hãy đi rao giảng rằng 'Nước Trời đã gần đến'". Nếu các tông đồ được tuyển chọn trong số các môn đệ là để làm chứng cho Chúa Kitô, và nếu các vị được sai đến với riêng "con chiên lạc nhà Israelđược cho là thành phần biệt phái và luật sĩ ở Galilêa, thì "Nước Trời" đây có thể hiểu là chính Chúa Kitô mà thành phần biệt phái và luật sĩ ở Galilêa là những "con chiên lạc nhà Israel" cần phải tin tưởng để được cứu độ và nên công chính thực sự.

2- Năng lực rao giảng - Cứu chữa: "Hãy chữa những bệnh nhân, hãy làm cho kẻ chết sống lại, hãy làm cho những kẻ phong cùi được sạch và hãy trừ quỷ". Nếu "Nước Trời" được hiểu là chính Chúa Kitô là Đấng các tông đồ được Người sai đi rao giảng, mà Chúa Kitô "đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại" (Luca 19:10), thì các tông đồ là môn đệ của Người cũng được Người thông ban cho quyền năng cứu chữa của Người và như Người, một quyền năng cứu độ nhân loại mà thành phần luật sĩ và biệt phái lãnh đạo tinh thần của dân chúng không thể nào có được.

3- Tinh thần rao giảng - Tin tưởng: "Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Các con chớ mang vàng bạc, tiền nong trong đai lưng, chớ mang bị đi đường, chớ đem theo hai áo choàng, chớ mang giày dép và gậy gộc, vì thợ thì đáng được nuôi ăn". Vì sứ vụ rao giảng của các tông đồ được Chúa Kitô trao cho thì đó là việc của Người làm qua các vị, hơn là chính công việc "của" các vị, nên các vị không cần phải lo toan những gì phụ thuộc liên quan đến bản thân của các vị, mà chỉ cần lưu ý đến những gì trực tiếp liên quan đến sứ vụ rao giảng của các vị. 

4- Thái độ rao giảng - Khách quan vô tư: "Nếu ai không tiếp rước các con và không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi nhà hay thành ấy và giũ bụi chân các con lại". Tất nhiên, ở đâu cũng thế, với ai cũng vậy (kể cả với chính Chúa Kitô), có người ủng hộ, tin tưởng, và có người coi thường, không ưa. Phần các tông đồ, sau khi đã hết sức chu toàn sứ vụ rao giảng của mình đúng như những gì Chúa Kitô mong muốn mà vẫn không gặt hái được thành quả mong muốn thì hãy cứ bình an, không cần phải lo gì hết, các vị không phải chịu trách nhiệm ("giũ bụi chân") về những ai không nghe.

Trong bài đọc 1 hôm nay, sau khi nghe tâm sự của chung 10 người anh và riêng người cha của mình liên quan đến người con út trong gia đình, được Giuđa là người con trong 12 anh em của tổ phụ Giacóp đại diện thành thật thân thưa bày tỏ với mình bấy giờ là tể tướng của một đại quốc Ai Cập, thì bấy giờ: "Giuse không thể cầm lòng nổi trước mặt mọi người đang đứng đấy, nên truyền cho mọi người ra ngoài, và không còn người nào khác ở đó lúc ông tỏ cho anh em biết mình, ông khóc lớn tiếng: những người Ai-cập và cả nhà vua đều nghe biết". 

Câu nói của Giuse ở cuối bài đọc 1 hôm nay cho thấy Giuse quả thực, như các tông đồ được Chúa Kitô sai đi rao giảng cho "chiên lạc của Nhà Israel", đã nói cho 10 người anh là những "chiên lạc của Nhà Israel" đầu tiên, về quá khứ của họ ra tay mưu hại Giuse, về "Nước Trời" là ý định thần linh vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, kèm theo thái độ của Giuse đối với các anh bằng việc "giũ bụi chân" không chấp nhất các anh của mình, như sau: "Tôi là Giuse em các anh mà các anh đã bán sang Aicập. Các anh chớ khiếp sợ, và đừng ân hận vì đã bán tôi sang đất này, vì chưng để cứu sống anh em mà Thiên Chúa đã sai tôi sang Aicập trước anh em".

Bài Đáp ca hôm nay đã nói về chính bản thân và thân phận cùng sứ vụ của Giuse trong dự án thần linh của Thiên Chúa và trong lịch sử cứu độ của Dân do Thái như sau:

1) Chúa đã gọi cảnh cơ hàn về trên đất nước, và rút đi mọi sự nâng đỡ bằng cơm bánh. Ngài đã sai một người đi trước họ: Giuse đã bị bán để làm nô lệ. 


2) Thiên hạ đã lấy xiềng để trói chân người, và cổ người bị cột bằng xích sắt, cho tới khi ứng nghiệm lời tiên đoán của người, lời của Chúa đã biện minh cho người. 


3) Vua đã sai cởi trói cho người, Chúa của chư dân cũng đã giải phóng người. Vua đã tôn người làm chủ của mình, và làm chúa trên toàn diện lãnh thổ. 




Thứ Sáu


"khi người ta bắt bớ các con trong thành này, hãy trốn sang thành khác" 

tức là

"Ta sẽ xuống đó với ngươi. Cũng chính Ta sẽ đưa ngươi trở về"


Bài Đọc I: (Năm I) St 46, 1-7. 28-30

Đáp Ca: Tv 36, 3-4. 18-19. 27-28. 39-40

Phúc Âm: Mt 10, 16-23


Tiếp tục bài huấn dụ sai đi của mình với các tông đồ, trong bài Phúc Âm cho Thứ Sáu Tuần XIV Thường Niên tuần này, Chúa Giêsu nói đến số phận gian nan khốn khổ bất khả phân ly với sứ vụ chứng nhân của các vị. 


"Này, Thầy sai các con đi như những con chiên ở giữa sói rừng. Vậy các con hãy ở khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu. Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết". 


Thế nhưng, Chúa Giêsu đồng thời cũng trấn an các vị với 3 điều để các vị có thể tin tưởng chống đỡ, khôn ngoan tồn tại cho đến khi hoàn thành sứ vụ của các vị như sau:


"Nhưng khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì? Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì; vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con.


... Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ. Khi người ta bắt bớ các con trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật các con: Các con sẽ không đi khắp hết các thành Israel trước khi Con Người đến".


Điều thứ nhất trong 3 điều này đó là tin tưởng chống đỡ: "khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì? Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì; vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con". Đúng thế, vì là việc của Thiên Chúa, Ngài sẽ lo việc của Ngài và bảo vệ thành phần thừa sai của Ngài, nhất là trong những lúc chúng từ của họ lên đến mức tột đỉnh và hùng hồn nhất.


Điều thứ hai trong ba điều đó là khôn ngoan tồn tại: "Khi người ta bắt bớ các con trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác". Ở đây Chúa Giêsu cho phép các tông đồ được trốn tránh những bách hại xẩy ra, không phải vì sợ chết cho bằng vì lợi ích cho chung đoàn chiên, không phải vì liều lĩnh cho bằng quí trọng mạng sống. Chính Chúa Giêsu mấy lần cũng tự thoát khỏi tay những kẻ tìm bắt Người khi chưa tới giờ của Người (xem Luca 4:30; Gioan 8:59).


Điều thứ ba trong ba điều đó là hoàn thành sứ vụ: "Các con sẽ không đi khắp hết các thành Israel trước khi Con Người đến". Câu này có thể Chúa Giêsu ám chỉ đến Cuộc Vượt Qua của Người hơn là đến việc Người tái giáng lần thứ hai. Nghĩa là các tông đồ chưa rao giảng xong cho thành phần "chiên lạc của Nhà Israel" thì đã đến thời điểm các vị cần phải theo Người lên Giêrusalem, nơi Người 3 lần đã tiên báo cho các vị về số phận kết thúc của Người ở đó.


Nếu "khi người ta bắt nộp các con, các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì?" và "khi người ta bắt bớ các con trong thành này, hãy trốn sang thành khác" thì cũng thế, trong bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, khi đại gia đình của tổ phụ Giacóp gặp nạn đói ở đất Canaan, Thiên Chúa cũng đã lo liệu trước mọi sự cho tổ phụ Giacóp cùng với toàn thể đại gia đình 72 người của ông, trong việc tỏ cho ông biết ý định của Ngài muốn gia đình ông lánh nạn sang Ai Cập để tránh nạn đói này ở Canaan là nơi Ngài đã hứa ban đất ấy cho dân Do Thái, và cũng là nơi Ngài còn hứa với chính tổ phụ Giacóp rằng Ngài sẽ đem họ từ Ai Cập trở về mảnh đất hứa này:

 


"Ta là Thiên Chúa rất hùng mạnh của cha ngươi, nên ngươi đừng sợ, hãy xuống xứ Ai-cập, vì ở đó Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc vĩ đại. Ta sẽ xuống đó với ngươi. Cũng chính Ta sẽ đưa ngươi trở về, (sau khi) tay Giuse đã vuốt mắt cho ngươi".



Bài Đáp Ca hôm nay đã bày tỏ cảm nhận tin tưởng cậy trông nơi Vị Thiên Chúa quan phòng thần linh đầy quyền năng và yêu thương, nhất là trong lúc những gian nan khốn khó:


1) Hãy trông cậy Chúa và hãy làm lành, để được cư ngụ trong đất nước, thọ hưởng an ninh. Hãy hân hoan tin tưởng vào Chúa, Người sẽ ban cho sự lòng bạn thỉnh cầu. 


2) Chúa chăm lo cho mạng sống người nhân đức, và phần gia nghiệp họ còn mãi muôn đời. Ngày tai hoạ, những người đó không tủi hổ, và trong nạn đói, họ sẽ được ăn no. 


3) Hãy tránh ác và hãy làm lành, hầu được an cư tới ngàn thu, bởi vì Chúa yêu điều chân lý, và không bỏ rơi những tôi tớ trung thành. 


4) Người hiền được Chúa ban ơn cứu độ: trong cơn khốn khó, Người là chỗ họ dung thân, Chúa bang trợ và giải thoát họ. Người giải thoát và cứu họ khỏi lũ ác nhân, vì họ đã nương tựa vào Người. 

 

 


Thứ Bảy

"Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao?"


Bài Đọc I: (Năm I) St 49, 29-33; 50, 15-24
Đáp Ca: Tv 104, 1-2. 3-4. 6-7
Phúc Âm: Mt 10, 24-33

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Bảy Tuần XIV Thường Niên, Chúa Giêsu tiếp tục huấn từ sai đi của Người với 12 tông đồ. Người tiếp tục bằng những lời trấn an các vị: "đừng sợ", sau khi đã tỏ cho các vị biết về số phận đầy gian nan khốn khổ của thành phần thừa sai như các vị trong bài Phúc Âm hôm qua.

"Đừng sợ" những ai chụp mũ xuyên tạc cho mình: "Môn đệ không hơn thầy, và tôi tớ không hơn chủ mình. Môn đệ được bằng thầy, tôi tớ được bằng chủ mình thì đã là khá rồi. Nếu họ đã gọi chủ nhà là Belzebul thì huống hồ là người nhà của Ngài. Vậy các con đừng sợ những người đó".

"Đừng sợmới có thể rao giảng làm chứng: "Vậy các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà".

Ở đây Chúa Giêsu muốn nói đến sức mạnh vô địch của sự thật, một sự thật có sức giải phóng con người (xem Gioan 8:32), một "sự thật" cho dù có bị che giấu hay đè nén cuối cùng cũng được "thổ lộ". Bởi thế, Chúa Giêsu đã khuyên dạy các tông đồ rằng: "điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà".

Phải chăng "điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng" đây có nghĩa là những gì linh hồn Kitô hữu biết được qua đêm tối tăm đức tin như một cảm nghiệm thần linh, một xác tín siêu nhiên, cần phải loan truyền một cách trung thực như "nói nơi ánh sáng" hay "giữa ban ngày", "và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà" có nghĩa là những gì Kitô hữu cảm nhận được khi lắng đọng tâm hồn cầu nguyện thì hãy mang công bố công khai như "trên mái nhà"?

"Đừng sợ" thậm chí cả những ai sát hại mạng sống của mình: "Các con đừng sợ kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn. Các con hãy sợ Đấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần".

Ở đây Chúa Giêsu đã khôn khéo sử dụng những thí dụ cụ thể để chẳng những trấn an các môn đệ "đừng sợ" mà còn củng cố lòng tin tưởng của các vị nữa, bằng cách so sánh giá trị trổi vượt của các vị với loài chim, cũng như bằng hình ảnh tóc trên đầu rụng xuống, cả hai đều được Thiên Chúa quan phòng thần linh lưu ý, dù chúng chẳng là gì như sợi tóc rụng xuống hay chắng đáng gì như giá của 2 con chim sẻ.   

"Đừng sợ" mới có thể tuyên xưng đức tin: "Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời".

"Đừng sợ" trong bài Phúc Âm hôm nay cũng có thể áp dụng cho 10 người anh của Giuse, những người anh mà sau khi thân phụ Giacóp của các ông chết rồi thì lo sợ bị Giuse là đứa em các ông đã ám hại trước kia không còn nể cha nữa ra tay trả thù, đến độ đã phải cùng nhau lên tiếng xin lỗi em mình:

"Khi Giacóp đã qua đời, anh em của Giuse lo sợ và nói với nhau rằng: 'Có khi Giuse còn nhớ sự sỉ nhục đã phải chịu mà trả đũa lại điều ác mà chúng ta đã làm chăng?' Họ liền sai người đến nói với Giuse rằng: 'Trước khi chết, cha ngài đã trối lại cho chúng tôi là hãy lấy lời cha mà nói với người rằng: Cha xin con hãy quên tội ác và lỗi lầm của các anh con đã làm cho con'. Chúng tôi cũng xin ngài tha thứ tội ác của các tôi tớ Thiên Chúa của cha ngài".

Thế nhưng, chính Giuse em của các ông đã trấn an các ông cũng bằng chữ "đừng sợ" kèm theo một câu trả lời tràn đầy đức tin vào Thiên Chúa và bác ái yêu thương nhau vì Chúa và trong Chúa, một câu trả lời chẳng khác gì như một huấn dụ cho thành phần đàn anh lầm lỗi của mình như sau:  

"Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao? Các anh đã lo nghĩ sự dữ cho tôi, nhưng Thiên Chúa đã đổi nó ra sự lành để tôi được vinh hiển như anh em thấy hôm nay và để cứu sống nhiều dân tộc. Anh em đừng sợ, chính tôi sẽ nuôi dưỡng anh em và con cái anh em".

Bài Đáp Ca hôm nay dâng lời ca tụng Thiên Chúa là Đấng đã làm những việc kỳ diệu, vì Ngài là chủ cả địa cầu, Đấng con người cần phải tìm kiếm thiên nhan và loan truyền công cuộc của Ngài:

1) Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Người, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. 


2) Hãy tự hào vì danh thánh của Người, tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. 


3) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn. Chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu.