SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 


PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

TUẦN VIII THƯỜNG NIÊN


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


Chúa Nhật

 

 

Bài Ðọc I: Is 49, 14-15

"Ta sẽ không quên ngươi đâu".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Sion nói: "Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi". Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 61, 2-3. 6-7. 8-9ab.

Ðáp: Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui (c. 2a).

Xướng: 1) Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui; do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng. - Ðáp.

2) Duy nơi Thiên Chúa linh hồn tôi hãy nghỉ an, vì do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng. - Ðáp.

3) Vinh dự và an toàn của tôi ở nơi Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa, tôi có Ðá Tảng kiên cố và chỗ dung thân. Hỡi dân tộc, hãy trông cậy Người luôn mọi lúc, hãy đổ dốc niềm tâm sự trước nhan Người. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Cr 4, 1-5

"Chúa sẽ phơi bày những ý định của tâm hồn".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, như vậy người ta coi chúng tôi như những thừa tác viên của Ðức Kitô, và những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Do đó, người ta đòi hỏi nơi những người phân phát các mầu nhiệm là mỗi người phải trung tín. Phần tôi, tôi không lấy làm quan trọng khi bị anh em hay toà án nhân loại đoán xét; nhưng tôi cũng không đoán xét chính mình tôi. Vì chưng, mặc dầu lương tâm không trách cứ tôi điều gì, nhưng không phải vì thế mà tôi đã được công chính hoá. Ðấng đoán xét tôi chính là Chúa. Vì thế, anh em đừng đoán xét trước thời gian cho đến khi Chúa đến, Người sẽ đưa ra ánh sáng những điều giấu kín trong bóng tối và phơi bày những ý định của tâm hồn; và bấy giờ Thiên Chúa sẽ ban khen tương xứng cho mỗi người.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 6, 24-34

"Các con chớ áy náy về ngày mai".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mátthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia, hoặc nó chuộng chủ này, và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được. Vì thế Thầy bảo các con: Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn; hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao?

Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư? Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đoá hoa đó. Vậy nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin.

Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc? Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó, Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai. Vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy".

Ðó là lời Chúa.

 

Related image

Chỉ khi nào "không làm tôi hai chủ", mới có thể "tìm kiếm nước Thiên Chúa trước"

hay ngược lại

Muốn "tìm kiếm nước Thiên Chúa trước" thì "không làm tôi hai chủ"

SUY NIỆM

Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật VIII Thường Niên Năm A tiếp tục Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu, một bài giảng về Phúc Đức Trọn Lành liên quan đến ơn gọi và sứ vụ tông đồ của thành phần môn đệ chứng nhân của Người, một bài giảng dài (đến 3 đoạn 5-7 của Phúc Âm Thánh ký Mathêu) được Phụng Vụ Giáo Hội cố ý chọn đọc cho những Chúa Nhật Thường Niên Năm A hậu Giáng Sinh, từ Chúa Nhật thứ IV cho đến Mùa Chay, tức cho tới Chúa Nhật IX Thường Niên, vì Chúa Nhật X là thời điểm phụng vụ tiến sang Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, với bài Phúc Âm tông đồ Mathêu được kêu gọi.

Theo chiều hướng Phúc Đức Trọn Lành, một giáo huấn được Chúa Kitô cố ý giảng dạy ở Trên Núi, tiêu biểu cho những gì là trổi vượt trên thế gian tầm thường là nơi thành phần môn đệ được Người huấn luyện để "hạ sơn hành hiệp", nội dung của bài Phúc Âm hôm nay nhắm đến đời sống nội tâm của riêng thành phần môn đệ của Người, sau khi Thày của các vị đã hướng các vị về một đức ái trọn hảo đối với tha nhân theo mô phạm "trọn lành như Cha của các con trên trời là Đấng trọn lành" (Mathêu 5:48) ở bài Phúc Âm tuần trước.

Thật vậy, chiều kích sống nội tâm của thành phần môn đệ Chúa Kitô theo giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay bao gồm hai yếu tố chính yếu bất khả thiếu và bất khả phân ly, đó là, về tiêu cực, "không làm tôi hai chủ", nhờ đó, về tích cực mới có thể chỉ biết "tìm kiếm nước Thiên Chúa trước", bằng một tinh thần hoàn toàn tin yêu phó thác: "chớ áy náy lo lắng về ngày mai", phó thác cho sự quan phòng thần linh vô cùng khôn ngoan đầy yêu thương của Thiên Chúa, Đấng "vẫn nuôi" "chim trời" là loài "không gieo, không gặt, không thu vào lẫm", và vẫn "mặc cho" "hoa huệ ngoài đồng... không làm lụng, không canh cửi... nay còn, mai bị ném vào lò lửa" còn đẹp hơn "cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông".

Về Vị Thiên Chúa quan phòng thần linh vô cùng khôn ngoan đầy yêu thương, "Đấng hiện hữu" (Xuất Hành 3:14), bởi thế danh xưng bất diệt của Thiên Chúa đối với loài người theo đúng thực tại thần linh "hiện hữu" của Ngài là "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Giacóp" (Xuất Hành 3:15), Đấng không bao giờ bất trung với những gì Ngài đã hứa, cho dù con người có qua đi hay phản bội Ngài, Đấng không bao giờ bỏ rơi dân của Ngài, bỏ rơi sự nghiệp của Ngài, đúng như Ngài khẳng định qua miệng tiên tri Isaia ở Bài Đọc 1 hôm nay: "Sion nói: 'Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi'. Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu".

Chính vì Thiên Chúa không bao giờ quên con người, thậm chí họ càng khốn khổ càng được Ngài thương và càng được Ngài tỏ mình ra cho họ, mà Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay mới có một cảm nhận đầy xác tín rằng: "Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui" (Thánh Vịnh 61:2a), một cảm nhận đầy xác tín được bày tỏ bằng tâm tình tràn đầy tin tưởng an vui trong cùng Bài Đáp Ca như sau:

1) Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui; do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng. 

2) Duy nơi Thiên Chúa linh hồn tôi hãy nghỉ an, vì do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng. 

3) Vinh dự và an toàn của tôi ở nơi Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa, tôi có Ðá Tảng kiên cố và chỗ dung thân. Hỡi dân tộc, hãy trông cậy Người luôn mọi lúc, hãy đổ dốc niềm tâm sự trước nhan Người.  

Chính vì Thiên Chúa là "Đấng Hiện Hữu", trung thành và bao giờ cũng muốn cho con người sống, một sự sống thần linh viên mãn vĩnh hằng chứ không phải chỉ là một cuộc sống tạm bợ trên đời tạm gửi mau qua này mà, giữa nhu cầu trần thế, cho dù là những nhu cầu căn bản nhất và thiết yếu nhất cho sự sống thể lý của con người trên trần gian này: "Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc?", so với "nước Thiên Chúa và sự công chính của Người" chỉ là những gì tầm thường, không quan trọng nhất bằng những gì thuộc về Thiên Chúa và hoàn toàn phụ thuộc vào những gì thuộc về Thần Linh: "còn các điều đó, Người sẽ ban thêm cho các con".

Đó là lý do chính Chúa Kitô đã trả lời cho các tông đồ về lương thực hằng ngày của Người, khi các vị dường như vào một khu làng gần đó ăn uống và đồng thời để mua lương thực cho Người, Đấng cố ý ngồi lại như thế chờ các vị ở Giếng Giacóp nhưng với ẩn ý là để câu một con cá thật bự là người phụ nữ Samaritano đáng thương (xem Gioan 4:6-26).

Việc Chúa Giêsu cần phải câu cho bằng được con cá sộp vào trường hợp hiếm quí này mới quan trọng hơn là vấn đề ăn uống thường tình của Người, Đấng đã dạy các môn đệ trong bài Phúc Âm hôm nay rằng: "Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn; hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao?", cũng là Đấng đã truyền cho các tông đồ khi đi rao giảng rằng: "Các con đừng mang đi đường áo khoác hay giầy dép hoặc gậy gộc" (Mathêu 10:10), và vì thế Người đã khẳng định với các tông đồ mời Người "ăn một chút" (Gioan 4:31) rằng: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người" (Gioan 4:34), để rồi ngay sau khi nói câu này Người đã hướng các vị về sứ vụ truyền giáo: "Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt? Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái!" (Gioan 4:35).

Một trong các vị tông đồ tiêu biểu đã ý thức được những gì là ưu tiên đệ nhất trong cuộc đời của mình cần phải dấn thân cho đến cùng bất chấp mọi giá, và những gì là thứ yếu, tùy thuộc và phụ thuộc, không cần phải bận tâm và bị chi phối làm hỏng đại cuộc, nên ngài đã sống đúng như vậy, đó là Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, vị mà trong Thư 1 gửi giáo đoàn Corinto ở Bài Đọc 1 hôm nay, đã cho biết về mình như thế này:

Trước hết là ưu tiên đệ nhất trong cuộc đời của ngài là một trong "những thừa tác viên của Ðức Kitô, và là những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa", thành phần mà "do đó, người ta đòi hỏi nơi những người phân phát các mầu nhiệm là mỗi người phải trung tín"; sau nữa là những gì thứ yếu, phụ thuộc, tùy thuộc, không cần phải bận tâm lo lắng cho bằng hay giống như ưu tiên đệ nhất ấy: "Phần tôi, tôi không lấy làm quan trọng khi bị anh em hay toà án nhân loại đoán xét; nhưng tôi cũng không đoán xét chính mình tôi. Vì chưng, mặc dầu lương tâm không trách cứ tôi điều gì, nhưng không phải vì thế mà tôi đã được công chính hoá. Ðấng đoán xét tôi chính là Chúa".

 

Đức Thánh Cha Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin cho Chúa Nhật VIII Năm A ngày 2/3/2014:

"Chẳng tấm khăn liệm mai táng lại có túi tiền"

Ở tâm điểm của phụng vụ Chúa Nhật hôm nay chúng ta thấy một trong những sự thật hết sức an ủi đó là sự quan phòng thần linh. Tiên tri Isaia trình bày nó như là hình ảnh yêu thương từ mẫu đầy dịu dàng như thế này: "Một người đàn bà có thể nào quên đứa con của mình được chăng, không dịu dàng với con cái của lòng mình chăng?" (49:15). Thế thì tuyệt vời biết bao! Thiên Chúa không quên chúng ta, từng người trong chúng ta! Ngài không quên từng người chúng ta theo tên gọi và tên họ của chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta và không quên chúng ta. Thật là một ý nghĩ tuyệt vời... Lời mời gọi hãy tin tưởng vào Thiên Chúa ấy hợp với đoạn Phúc Âm Thánh Mathêu: "Các con hãy xem chim trời", Chúa Giêsu nói, "chúng không gieo vãi hay gặt hái, chúng không thu tích vào kho lẫm, thế mà Cha trên trời vẫn nuôi chúng... Hãy xem các bông hoa đồng nội mọc lên. Chúng không lam lũ hay kéo sợi. Thế mà Thày nói cho các con biết ngay cả Solomon vinh quang tột bậc cũng không được phục sức như chúng" (Matheu 6:26, 28-29).
 
Thế nhưng, có nhiều người sống trong các điều kiện nhất thời, hay trong tình trạng khốn khổ bất xứng với phẩm giá của họ thì những lời này của Chúa Giêsu dường như là những gì trừu tượng nếu không muốn nói là ảo tưởng. Thế nhưng trên thực tế họ còn hiện thực hơn nữa! Họ nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không thể làm tôi hai chủ là Thiên Chúa và giầu có. Bao lâu mọi người nhào ra tìm kiếm những gì họ có thể cho bản thân mình thì chẳng bao giờ có công lý hết. Chúng ta cần phải hiểu rõ điều ấy! Bao lâu mọi người nhào ra tìm kiếm những gì họ có thể cho bản thân mình thì chẳng bao giờ có công lý hết. Tuy nhiên, nếu tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, cùng nhau chúng ta tìm kiếm vương quốc của Ngài, thì bấy giờ không còn ai thiếu mất những gì họ cần để sống một cách xứng đáng.
 
Một trái tim bị chiếm cứ bởi ước muốn chiếm hữu là một con tim đầy những ước muốn chiếm hữu này mà lại thiếu Thiên Chúa. Vì lý do ấy Chúa Giêsu thường khiển trách thành phần giầu có, vì họ có một khuynh hướng mãnh liệt đặt niềm tin tưởng của mình vào các thứ sản vật của trần gian này, mà sự an toàn, an toàn thực sự chỉ ở nơi Thiên Chúa. Trong một con tim bị chiếm hữu bởi giầu sang thì không còn chỗ cho đức tin nữa: tất cả mối quan tâm là giầu sang, không có chỗ cho đức tin. Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa được chỗ đứng dành cho Ngài, tức là chỗ trước hết, thì tình yêu của Ngài sẽ dẫn chúng ta tới chỗ chia sẻ sự giầu có của chúng ta nữa, tới chỗ sử dụng chúng để phục vụ cho các dự án của tình đoàn kết và sự phát triển, như chúng ta thấy nơi rất nhiều tấm gương, ngay cả các tấm gương mới đây, trong lịch sử Giáo Hội. Nhờ thế mà sự quan phòng của Thiên Chúa truyền đạt tới những người khác qua việc phục vụ của chúng ta, việc chúng ta chia sẻ với họ. Nếu mỗi người chúng ta thu tích giầu có chẳng những cho mình mà còn phục vụ nhau thì qua đó sự quan phòng của Thiên Chúa được thể hiện nơi cử chỉ đoàn kết này. Tuy nhiên, nếu ai đó chiếm hữu sự vật cho mình mà thôi thì điều gì xẩy ra cho họ một khi họ được Thiên Chúa gọi về? Họ không thể nào mang theo mình các thứ giầu sang của họ, vì, như anh chị em biết, túi tiền không ở nơi tấm khăn liệm mai táng! Tốt hơn là chia sẻ, vì chúng ta chỉ mang về trời những gì chúng ta chia sẻ với người khác mà thôi
 
Đường lối mà Chúa Giêsu chỉ vẽ dường như không thực tiễn cho lắm theo quan điểm của một thứ tâm thức chung và cuộc khủng hoảng kinh tế; thế nhưng nếu chúng ta thận trọng nghĩ về nó thì nó dẫn chúng ta tới bậc thang đúng đắn về các thứ giá trị. Chúa Giêsu nói rằng: "Mạng sống không đáng giá hơn lương thực và thân xác không đáng giá hơn y phục hay sao?" (Mathêu 6:25). Để bảo đảm là không ai thiếu bánh ăn, nước uống, áo quần, nhà ở, việc làm, sức khỏe chúng ta cần nhìn nhận nhau như con cái của Cha trên trời và vì thế như anh chị em của nhau, theo đó chúng ta tác hành một cách thích hợp. Tôi đã nêu lên vấn đề này trong Sứ Điệp Hòa Bình ngày 1/1 của tôi: tình huynh đệ là đường lối dẫn đến hòa bình, điều này nghĩa là cùng nhau tiến bước, cùng nhau chia sẻ các thứ.
 
Theo ý nghĩa của Lời Chúa Chúa Nhật này, chúng ta cầu khấn Trinh Nữ Maria là Mẹ của Đấng Quan Phòng Thần Linh. Chúng ta hãy ký thác đời sống của chúng ta cho Mẹ, Đấng là đường lối của Giáo Hội và của nhân loại. Đặc biệt chúng ta xin Mẹ chuyển cầu để tất cả chúng ta có thể nỗ lực sống một cách giản dị và điều độ, khi lưu ý tới các nhu cầu của anh chị em chúng ta là những người cần đến sự giúp đáp của chúng ta nhất.


http://w2.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2014/documents/papa-francesco_angelus_20140302.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch 



Thứ Hai sau Chúa Nhật 8 Quanh Năm

 

 I: (Năm I) Hc 17, 20-28

"Hãy trở về với Thiên Chúa và hãy nhận biết công minh của Người".

Trích sách Huấn Ca.

Thiên Chúa đã ban đường công chính cho người sám hối, nâng đỡ những kẻ mất niềm tin, và hướng dẫn họ đi vào đường chân lý.

Hãy trở về với Thiên Chúa và hãy từ bỏ tội lỗi. Hãy kêu cầu trước tôn nhan Chúa, hãy chấm dứt những điều xúc phạm, hãy trở về cùng Chúa, hãy lánh xa những điều gian ác, và hãy chê ghét những điều xấu xa. Hãy nhận biết công minh và sự xét xử của Thiên Chúa. Hãy đứng vững và cầu xin với Thiên Chúa Tối Cao.

Hãy thông công vào đời sống các thánh, và cùng với kẻ sống hãy xưng tụng Thiên Chúa. Ðừng ỷ lại vào sự sai lầm của bọn gian ác. Hãy thú nhận tội lỗi trước khi chết, vì chết rồi, thì không còn thú tội được nữa. Ngươi hãy thú nhận tội lỗi khi còn sống, hãy thú nhận tội lỗi khi còn sống và còn khoẻ mạnh.

Hãy ca tụng Thiên Chúa và ngươi sẽ được vinh hiển trong tình xót thương của Người. Lòng nhân lành của Chúa và sự tha thứ của Người đối với những kẻ trở lại với Người thật lớn lao dường nào!

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 31, 1-2. 5. 6. 7

Ðáp: Chư vị hiền nhân, hãy vui mừng hân hoan trong Chúa (c. 11a).

Xướng: 1) Phúc thay người được tha thứ lỗi lầm, và tội phạm của người được ơn che đậy. Phúc thay người mà Chúa không trách cứ lỗi lầm, và trong lòng người đó chẳng có mưu gian. - Ðáp.

2) Tôi xưng ra cùng Chúa tội phạm của tôi, và lỗi lầm của tôi, tôi đã không che giấu. Tôi nói: "Tôi thú thực cùng Chúa điều gian ác của tôi, và Chúa đã tha thứ tội lỗi cho tôi". - Ðáp.

3) Bởi thế nên mọi người tín hữu sẽ nguyện cầu cùng Chúa, trong thời buổi khốn khó gian truân. Khi sóng cả ba đào ập tới, chúng sẽ không hại nổi những người Này. - Ðáp.

4) Chúa là chỗ dung thân, Chúa giữ tôi khỏi điều nguy khổ; Chúa đùm bọc tôi trong niềm vui ơn cứu độ. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 1, 14 và 12b

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 10, 17-27

"Ngươi hãy đi bán tất cả gia tài rồi đến theo Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu vừa lên đường, thì một người chạy lại, quỳ gối xuống trước Người và hỏi: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?" Chúa Giêsu trả lời: "Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa. Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt, hãy thảo kính cha mẹ". Người ấy thưa: "Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ". Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: "Ngươi chỉ còn thiếu một điều là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta". Nhưng người ấy nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Lúc đó Chúa Giêsu nhìn chung quanh, và bảo các môn đệ rằng: "Những người giàu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao". Các môn đệ kinh ngạc vì những lời đó. Nhưng Chúa Giêsu lại nói tiếp và bảo các ông rằng: "Hỡi các con, những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước Thiên Chúa".

Các ông càng kinh ngạc hỏi nhau rằng: "Như vậy thì ai có thể được cứu độ?" Chúa Giêsu chăm chú nhìn các ông, và nói: "Ðối với loài người thì không thể được, nhưng không phải đối với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa làm được mọi sự".

Ðó là lời Chúa.

 

 

 

"Chúa Giêsu trìu mến nhìn người ấy": "Ngươi chỉ còn thiếu một điều"
SUY NIỆM

Bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (10:27-37) cho Thứ Hai Tuần 8 Thường Niên hôm nay là câu Chúa Giêsu trả lời cho câu hỏi của một người thành khẩn hỏi Chúa Giêsu: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?".
Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta thấy, trước hết, sự sống đời đời được chất chứa ngay trong Thập Giới, nghĩa là ai tuân giữ các giới răn, ít nhất tránh được những gì là tiêu cực thì cũng được rỗi, như Chúa Giêsu đã liệt kê: "đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt, hãy thảo kính cha mẹ".
Ở đây, chúng ta chỉ thấy 7 điều trong Thập Giới mà thôi, từ điều 4 tới điều 10: điều 4 - "thảo kính cha mẹ", điều 5 - "chớ giết người", điều 6 và 9 - "chớ ngoại tình", điều 7 và 10 - "chớ lấy của người" hay "chớ lường gạt" cũng có nghĩa là "chớ tham của người", và điều 8 - "chớ làm chứng dối", hoàn toàn không thấy 3 điều đầu tiên liên quan đến Thiên Chúa đâu. 
Vậy chẳng lẽ không cần 3 điều đầu tiên và chính yếu hết sức quan trọng trong 10 điều răn Chúa thì cuối cùng cũng được cứu rỗi, cũng được sống đời đời hay sao?
Có thể, đối với Chúa Giêsu, 3 điều đầu tiên trong Thập Giới chưa được Người nhắc đến liên quan đến vấn đề thứ hai như Người đặt ra cho kẻ đặt vấn đề "được sống đời đời", đó là: "ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta".
Đúng thế, vấn đề thứ hai được Chúa Giêsu nêu lên sau khi liệt kê 7 điều tối thiểu trong Thập Giới thật sự là liên quan đến 3 điều đầu tiên của Thập Giới. Vì một khi thực hành được vấn đề thứ hai này thì con người ta nói chung và con người giầu có trong bài Phúc Âm nói riêng đúng là "thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự" (điều 1 trong Thập Giới).
Tuy nhiên, trong trường hợp của con người giầu có trong bài Phúc Âm này cũng rất đặc biệt, ở chỗ, cho dù không thể làm theo lời khuyên của Chúa Giêsu trên đây, để có thể sống trọn lành hơn, nhưng người này vẫn không tham lam quá độ, hay vì tham lam mà lường gạt và gian lận sản vật của ai, thậm chí coi tiền bạc hơn mạng người, hay giầu có mà sinh tật trai gái ngoại tình, hoặc khinh thường bất kính với cha mẹ v.v. 
Đó là lý do, như Phúc Âm thuật lại, "Chúa Giêsu trìu mến nhìn người ấy", sau khi nghe người này cho biết là "Lạy Thày, những điều ấy tôi đã giữ từ nhỏ". Và đó cũng là lý do Chúa Giêsu mới nhắc nhở con người đã đủ điều kiện tối thiểu để "được sống đời đời" ấy rằng "Ngươi chỉ còn thiếu một điều", đó là sống trọn lành hơn, một đời sống trước hết mang đến cho chính bản thân của đương sự cái lợi đầu tiên đó là được bình an vui sống, chứ không còn cảm thấy băn khoan khắc khoải và bất an nữa, dù bản thân và đời sống của đương sự "có nhiều của cải", một tâm trạng mà đương sự đã không thể nào che giấu ở ngay vấn đề được đương sự thoạt tiên đặt ra hỏi Chúa Giêsu "tôi phải làm gì để được sống đời đời", nhất là qua thái độ cuối cùng của đương sự "bỏ đi với nét mặt u buồn", sau khi nghe lời khuyên sống trọn lành của Người.

Trong lời khuyên của Chúa Giêsu "ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta", chúng ta thấy Người không bảo người giầu có đem bố thí gia tài của anh ta, mà bán trước rồi bố thí sau. "Bán" tr
ước đây có nghĩa là gia tài này có giá trị chứ không phải đồ bỏ, và "bố thí" sau đó "cho người nghèo khó" có nghĩa là trao tặng những gì quí báu của mình cho thành phần có thể hiểu là nghèo khó thật sự về vật chất cần được chia sẻ giúp đỡ, mà cũng có thể nghèo khó về tinh thần bởi lòng tham vô đáy của con người cần ý thức lại trước gương từ bỏ của nghĩa cử "bố thí" rộng lượng của những ai muốn theo Chúa.

Và cũng chỉ sau khi "bán" và "bố thí" "tất cả gia tài" của mình đi, con người mới được "kho báu trên trời", ngay cả trước khi "theo" Chúa, ch
ứ không phải chỉ sau khi theo Chúa mới được. Bởi vì "kho tàng của các con ở đâu thì lòng các con cũng ở đó" (Mathêu 6:21). Như thế, so với "kho báu trên trời" thì "tất cả gia tài" của con người trên trần gian này chẳng có là gì, vậy mà chỉ cần "bán" và "bố thí" đi "tất cả gia tài" chẳng bao nhiêu của mình thì họ như thể đổi 1 xu lấy 1 triệu vậy.

Vì cho dù "tất cả gia tài" của con người ở trên đời này có giá trị đến đâu chăng nữa, cũng không quí bằng "kho báu trên trời" vốn l
à những gì vô giá và không gì có thể so sánh được. Nghĩa là chỉ khi nào lòng của con người không còn quyến luyến một sự gì trên thế gian này nữa, dù tự bản chất của chúng là tốt và cần, ngoài một mình Thiên Chúa, họ mới có thể theo Chúa mà thôi: "Không ai có thể làm tôi hai chủ... Các con không thể vừa phụng sự Thiên Chúa và làm tôi tiền của được" (Mathêu 6:24). 

CẢM NGHIỆM

Trong đời sống đạo, đời sống thiêng liêng, đời sống đức tin, vì còn nguyên mầm mống nguyên tội trong bản thân, được lưu truyền từ nguyên tội và bởi nguyên tội ngay từ ban đầu qua bản tính loài người của mình, mà cuộc đời của Kitô hữu trên trần gian này mới trở thành hay mới được gọi là một cuộc hành trình đức tin, một cuộc sống theo đức tin hướng dẫn và trung thành với đức tin cho đến cùng, một cuộc sống siêu nhiên cao cả, ở ngay trong thế gian mà không thuộc về thế gian, một cuộc sống siêu thoát, hoàn toàn làm chủ thế gian, chẳng khác gì như "muối đất... (và như) ánh sáng thế gian" (Mathêu 5:13-14), bất chấp mọi chước cám dỗ của ma quỉ, mọi quyến rũ của thế gian, nhất là liên quan đến lòng tham lam của cải sản vật thế gian như người thanh niên giầu có đạo hạnh trong bài Phúc Âm hôm nay, thậm chí còn thắng vượt mọi gian nan khốn khó bởi dám bơi ngược giòng đời.

Tuy nhiên, cũng chính vì mầm mống nguyên tội mà tự mình con người chỉ hướng hạ và thích đi vào con đường rộng dẫn đến diệt vong mà thôi (xem Mathêu 7:13) không thể nào nên trọn lành được, không thể nào, như người thanh niên giàu có trong bài Phúc Âm hôm nay, tự động và vui vẻ mau mắn bỏ đi những gì mình có, như của cải hay quyền lợi của mình là những gì vừa chính đáng vừa cần thiết, cho một lý tưởng mơ hồ nào đó, nếu họ không có đức tin và không được tác động bởi Trời Cao, không được "tuyển chọn" (Gioan 15:16), như các tông đồ ngày xưa.

Cho dù người thanh niên giầu có đưoọc Chúa Giêsu "trìu mến nhìn" ấy, ngay lúc bấy giờ không thể đáp ứng ngay lời kêu gọi nên trọn lành của Chúa Kitô, và cảm thấy buồn khổ, với một cuộc sống dù sang giầu nhưng vẫn khắc khoải ngôn nguôi ấy, có thể, vào một lúc nào đó trong đời, chẳng hạn bị thua lỗ hay bị trộm cướp v.v., đã nghĩ lại mà theo đuổi bậc trọn lành thì sao. Đó là lý do trong Bài Đọc 1 hôm nay, Sách Huấn Ca đã khuyên dạy và phấn khích niềm tin nơi những ai thành tâm thiện chí như sau:

"Thiên Chúa đã ban đường công chính cho người sám hối, nâng đỡ những kẻ mất niềm tin, và hướng dẫn họ đi vào đường chân lý. Hãy trở về với Thiên Chúa và hãy từ bỏ tội lỗi. Hãy kêu cầu trước tôn nhan Chúa, hãy chấm dứt những điều xúc phạm, hãy trở về cùng Chúa, hãy lánh xa những điều gian ác, và hãy chê ghét những điều xấu xa. Hãy nhận biết công minh và sự xét xử của Thiên Chúa. Hãy đứng vững và cầu xin với Thiên Chúa Tối Cao. Hãy thông công vào đời sống các thánh, và cùng với kẻ sống hãy xưng tụng Thiên Chúa.... Hãy ca tụng Thiên Chúa và ngươi sẽ được vinh hiển trong tình xót thương của Người. Lòng nhân lành của Chúa và sự tha thứ của Người đối với những kẻ trở lại với Người thật lớn lao dường nào!"

 

Theo chiều hướng của Bài Đọc 1 hôm nay, Bài Đáp Ca hôm nay đã chất chứa cảm nghiệm thần linh đầy tin tưởng vào Thiên Chúa như sau:

 

1) Phúc thay người được tha thứ lỗi lầm, và tội phạm của người được ơn che đậy. Phúc thay người mà Chúa không trách cứ lỗi lầm, và trong lòng người đó chẳng có mưu gian.

2) Tôi xưng ra cùng Chúa tội phạm của tôi, và lỗi lầm của tôi, tôi đã không che giấu. Tôi nói: "Tôi thú thực cùng Chúa điều gian ác của tôi, và Chúa đã tha thứ tội lỗi cho tôi".

3) Bởi thế nên mọi người tín hữu sẽ nguyện cầu cùng Chúa, trong thời buổi khốn khó gian truân. Khi sóng cả ba đào ập tới, chúng sẽ không hại nổi những người Này.

4) Chúa là chỗ dung thân, Chúa giữ tôi khỏi điều nguy khổ; Chúa đùm bọc tôi trong niềm vui ơn cứu độ.

 


Thứ Ba sau Chúa Nhật 8 Quanh Năm

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Hc 35, 1-15

"Chuyên giữ các điều răn là dâng của lễ hy tế cứu độ".

Trích sách Huấn Ca.

Ai tuân giữ lề luật, là dâng nhiều lễ vật. Chuyên giữ các điều răn và xa lánh mọi điều gian ác, là dâng lễ hy tế cứu độ.

Hãy dâng của lễ xin ơn tha thứ cho những bất công, hãy cầu nguyện xin ơn tha tội, và hãy xa lánh những điều gian tà.

Ai thực thi bác ái, là hiến dâng của lễ hoàn hảo; ai làm phúc bố thí, là dâng của lễ hy tế.

Ðiều làm đẹp lòng Chúa là xa lánh gian ác. Lánh xa bất công là dâng của lễ đền tội.

Ngươi đừng đến trước mặt Chúa với bàn tay không; vì tất cả những điều đó là do mệnh lệnh của Thiên Chúa. Của lễ người công chính làm cho bàn thờ nên phong phú, và hương thơm êm dịu của nó bay lên trước dung nhan Ðấng Tối Cao. Lễ vật hiến tế của người công chính đã được chấp nhận, và Chúa sẽ không quên kẻ ấy. Ngươi hãy tôn vinh Thiên Chúa với tâm hồn quảng đại, và đừng rút bớt lại của lễ đầu mùa do công lao tay ngươi làm ra.

Mỗi lần ngươi dâng của lễ, nét mặt ngươi hãy vui tươi, và hãy hân hoan thánh hiến một phần mười của ngươi dâng. Ngươi hãy dâng lên Ðấng Tối Cao tuỳ theo như Người đã ban cho ngươi, và hãy dâng với tâm hồn quảng đại theo sự ngươi đang có trong tay, vì Chúa là Ðấng thưởng công và sẽ trả lại cho ngươi gấp bảy lần. Ngươi chớ dâng những lễ vật hèn kém, vì Người sẽ không nhận của lễ như vậy đâu, ngươi cũng đừng trông gì nơi những của lễ bất chính, vì Chúa là Ðấng xét xử, Người không thiên vị ai đâu.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 49, 5-6. 7-8. 14 và 23

Ðáp: Ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ (c. 23b).

Xướng: 1) "Hãy tập họp cho Ta các tín đồ đã ký lời giao ước của Ta cùng hy sinh lễ". Và trời cao sẽ loan truyền sự công chính của Người, vì chính Thiên Chúa, Người là thẩm phán. - Ðáp.

2) Hỡi dân tộc của Ta, hãy nghe Ta nói, hỡi Israel, Ta sẽ chứng tỏ lời phản đối ngươi: Ta là Thiên Chúa, Ðức Thiên Chúa của ngươi. Ta không khiển trách ngươi về chuyện dâng lễ vật, vì lễ toàn thiêu của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn. - Ðáp.

3) Hãy hiến dâng Thiên Chúa lời khen ngợi, và làm trọn điều khấn hứa cùng Ðấng Tối Cao. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta, ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 118, 27

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 10, 28-31

"Ngay ở đời này, lúc bị bắt bớ, các con lãnh được gấp trăm, còn đời sau các con sẽ được sự sống vĩnh cửu".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Ðây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy?" Chúa Giêsu trả lời rằng: "Thầy bảo thật các con, chẳng ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đồng ruộng vì Thầy và vì Phúc Âm, mà ngay bây giờ lại không được gấp trăm ở đời này về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương cùng với sự bắt bớ, và ở đời sau được sự sống vĩnh cửu. Nhưng có nhiều kẻ trước nhất sẽ nên rốt hết, và những kẻ rốt hết sẽ nên trước nhất".

Ðó là lời Chúa.

 



"Bỏ mọi sự mà theo Thầy": "được gấp trăm" bao gồm cả bị "bắt bớ". 

SUY NIỆM

Bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (10:28-31) cho Thứ Ba Tuần 8 Thường Niên hôm nay liên quan đến việc "được sự sống vĩnh cửu ở đời sau" như câu Chúa Giêsu trả lời cho Thánh Phêrô.
Thật thế, bài Phúc Âm hôm nay tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua. Nếu bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến vấn đề "tôi phải làm gì để được sống đời đời" của một con người giầu có đã tuân giữ các giới răn từ nhỏ nhưng vẫn cảm thấy bất an bởi "còn thiếu một điều" là sống trọn lành, thì bài Phúc Âm hôm nay (Marcô 10:28-31) liên quan đến đời sống trọn lành hơn nơi thành phần môn đệ theo Chúa Kitô, tiêu biểu là Tông Đồ Phêrô qua câu hỏi của ngài: "Phần chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy thì sao?" 
Tất nhiên, nếu không bỏ mọi sự mà theo Thày, như người giầu có trong bài Phúc Âm hôm qua mà giữ các giới răn đàng hoàng tử tế đối với tha nhân thì cũng hội đủ điều kiện tối thiểu để được cứu rỗi, "để được sống đời đời", thì thành phần bỏ mọi sự theo Chúa Kitô lại càng bảo đảm "được sự sống vĩnh cửu ở đời sau" hơn nữa. 
Thế nhưng, vấn đề khác nhau ở đây giữa hai trường hợp cũng được rỗi, "được sống đời đời", "được sự sống vĩnh cửu ở đời sau", giữa người không sống trọn lành (như trong bài Phúc Âm hôm qua) và người sống trọn lành hơn (trong bài Phúc Âm hôm nay), đó là ngay "ở đời này", trong khi người không sống trọn lành (như người giầu có trong bài Phúc Âm hôm qua) luôn cảm thấy khắc khoải bất an buồn sầu, thì người sống trọn lành hơn (như trường hợp các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay) "được gấp trăm về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương cùng với sự bắt bớ".
Đúng vậy, thành phần theo Chúa Kitô để sống trọn lành hơn, không phải đã được Chúa Giêsu khẳng định trong Bài Giảng Trên Núi về Phúc Đức Trọn Lành, một bài giảng cho chính các vị tông đồ theo Chúa (xem Mathêu 5:1-2), thành phần được cho là "hiền như ma-sơ" là "ai hiền lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được đất làm của mình vậy" (Mathêu 5:5) - "Đất" đây phải chăng Chúa muốn ám chỉ "thế gian", ám chỉ "đời này", ngược lại với "Nước Trời" ở Phúc Thứ 1. Mà "thế gian" hay "đời này" đây bao gồm những gì nếu không phải là "nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương cùng với sự bắt bớ". 
Đối với phàm nhân thì "bắt bớ" "ở đời này" là một bất hạnh, là một sự dữ, thế nhưng, đối với thành phần theo Chúa Kitô sống trọn lành hơn thì lại là một vinh phúc: "Phúc cho những ai bị bắt bớ vì sự công chính vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi họ xỉ nhục các con và bách hại các con cùng lăng nhục các con vì danh Thày. Hãy hân hoan vui sướng, vì phần thưởng lớn lao của các con ở trên trời" (Mathêu 5:9,10-11).

Chi tiết trong lời hứa "gấp trăm" theo Thày đây là một yếu tố then chốt và là một điền kiện bất khả thiếu để "được gấp trăm". Bởi vì, người đàn bà chỉ sinh son trong cơn đau đớn (xem Gioan 16:21), cành nho càng sai trái hơn khi bị cắt tỉa đi (xem Gioan 15:2), và hạt lúa miến cần phải mục nát đi mới trổ sinh nhiều hoa trái (xem Gioan 12:24) thế nào thì muốn "được gấp trăm" thành phần môn đệ của Chúa Kitô không thể nào chỉ thực hiện việc "bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đồng ruộng vì Thầy và vì Phúc Âm", mà còn phải sẵn sàng chấp nhận mọi "bắt bớ" "vì Thầy và vì Phúc Âm" nữa.

Đó là lý do điều kiện theo Chúa và xứng đáng làm môn đệ của Chúa Kitô, như Người đã khẳng định dứt khoát bao gồm 2 điều kiện - bỏ mình và chịu khổ: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mathêu 16:24).

CẢM NGHIỆM

Đời sống trên trần gian này của Kitô hữu là thành phần môn đệ của Chúa Kitô không phải chỉ ở chỗ làm sao để sống đạo cho ngoan, hằng ngày đi thờ đi lễ, đọc kinh cầu nguyện, hằng tuần ăn chay kiêng thịt, hằng tháng xưng tội hòa giải, hằng năm tĩnh tâm hành hương v.v., nhờ đó mà được rỗi, được lên thiên đàng, khỏi sa hỏa ngục, trái lại, họ còn phải có tinh thần tông đồ truyền giáo nữa, qua những việc làm trong tầm tay của mình, làm sao để mang lại phần rỗi cho anh chị em đồng loại, đồng hương và đồng đạo của mình, nhờ đó họ mới thực sự là sống trọn ơn gọi và sứ vụ của mình là thành phần môn đệ của Chúa Kitô, Đấng đã phục sinh và trước khi thăng thiên về trời đã truyền cho các môn đệ của Người hãy loan truyền tin mừng sự sống cho muôn dân cho tới tận cùng trái đất (xem Mathêu 28:19; Marco 16:15; Tông Vụ 1:8), và cũng nhờ đó họ mới "được gấp trăm ngay ở đời này và hạnh phúc đời sau", như Chúa Kitô khẳng định với riêng Tông Đồ Phêrô và chung các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay.

Cuộc đời theo Chúa Kitô của các tông đồ, cũng như của tất cả thành phần môn đệ của Chúa Kitô nói chung, tự nó, nhờ trở thành chứng nhân đích thực và sống động của Chúa Kitô ở chỗ hoàn toàn phản ảnh Người, chắc chắn sẽ sinh hoa kết trái "được gấp trăm ngay ở đời này và hạnh phúc đời sau". Vì cuộc đời của các vị chẳng khác gì như một hy tế như Chúa Kitô, Đấng đã "đến để hiến mạng sống mình cho phần rỗi của nhiều người" (Mathêu 20:28). Cuộc đời hy hiến dấn thân phục vụ Chúa Kitô, như Chúa Kitô và với Chúa Kitô như thế của thành phần môn đệ Chúa Kitô, ở một ý nghĩa nào đó rất thích hợp với những gì được Sách Huấn Ca trong bài Đọc 1 hôm nay:

"Của lễ người công chính làm cho bàn thờ nên phong phú, và hương thơm êm dịu của nó bay lên trước dung nhan Ðấng Tối Cao. Lễ vật hiến tế của người công chính đã được chấp nhận, và Chúa sẽ không quên kẻ ấy... Ngươi hãy dâng lên Ðấng Tối Cao tuỳ theo như Người đã ban cho ngươi, và hãy dâng với tâm hồn quảng đại theo sự ngươi đang có trong tay, vì Chúa là Ðấng thưởng công và sẽ trả lại cho ngươi gấp bảy lần".

Bài Đáp Ca hôm nay, Thánh Vịnh gia cũng phấn khích những ai hiến thân theo Chúa rằng: "Hãy hiến dâng Thiên Chúa lời khen ngợi, và hãy làm trọn điều khấn hứa cùng Ðấng Tối Cao. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta, ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ". Bởi vậy, muốn trung thành hiến thân phụng sự Chúa cho tới cùng, theo đúng những gì Chúa muốn, thành phần theo Chúa cần phải tâm nguyện đúng như câu Alleluia hôm nay gợi ý: "Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia".
 

 


Thứ Tư sau Chúa Nhật 8 Quanh Năm

 

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Hc 36, 1-2a. 5-6. 13-19

"Các dân tộc nhận biết rằng không có chúa nào khác ngoài Chúa".

Trích sách Huấn Ca.

Lạy Chúa muôn loài, xin thương xót chúng con, và xin đoái nhìn chúng con, xin hãy tỏ cho chúng con ánh sáng lòng từ bi của Chúa. Xin cho các dân tộc nhận biết Chúa như chính chúng con đã nhận biết Chúa, vì lạy Chúa, ngoài Chúa ra, không có Chúa nào khác.

Xin Chúa tái diễn các điềm lạ và làm các việc kỳ diệu khác. Xin Chúa quy tụ mọi người vào các chi họ Giacóp, để họ nhìn biết rằng không có Chúa nào khác ngoài Chúa, để họ cao rao các việc lạ lùng Chúa đã làm, và để Chúa cho họ được hưởng phần gia nghiệp như lúc ban đầu. Xin Chúa đoái thương đến dân Chúa, một dân được mang danh thánh Chúa, và xin thương đến Israel mà Chúa đã đặt làm con đầu lòng của Chúa. Xin cũng thương đến thành thánh Giêrusalem, nơi Chúa an ngự. Xin làm cho Sion vang dậy lời chúc tụng Chúa, và cho dân Chúa được đầy vinh quang của Ngài.

Xin Chúa hãy minh chứng cho dân tộc, tạo vật đầu tiên của Chúa và xin thực hiện những điều các tiên tri đầu tiên đã nhân danh Chúa mà tiên báo. Xin thưởng công cho những người đã trông cậy nơi Ngài, và xin cho các tiên tri của Chúa được trung trực.

Xin nhậm lời cầu nguyện của các tôi tớ Chúa, theo như lời Aaron chúc phúc cho dân Ngài, xin hướng dẫn chúng con đi trên đường công chính, và xin cho mọi người sống trên trần gian biết rằng Ngài là Thiên Chúa, Ðấng thống trị muôn đời.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 78, 8. 9. 11. 13

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy tỏ cho chúng con ánh sáng lòng từ bi của Chúa (Hc 36, 1b).

Xướng: 1) Xin đừng nhớ lỗi tiền nhân để trị chúng con, xin kíp mở lòng từ bi đón nhận chúng con, vì chúng con lầm than quá đỗi! - Ðáp.

2) Ôi Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng con, xin phù trợ chúng con vì vinh quang danh Chúa, xin giải thoát và tha tội chúng con vì danh Ngài. - Ðáp.

3) Xin cho tiếng tù binh rên siết vọng tới thiên nhan; xin ra tay thần lực giải thoát người mang án tử.

4) Phần chúng con là thần dân Chúa, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi, chúng con sẽ ca tụng Chúa tới muôn đời, đời nọ sang đời kia, chúng con loan truyền lời ca khen Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 129, 5

Alleluia, alleluia! - Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 10, 32-45

"Giờ đây chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, các môn đệ và Chúa Giêsu lên đường đi Giêrusalem, Chúa Giêsu dẫn đầu đi trước họ, và các ông hết sức bỡ ngỡ, những người theo sau thì sợ hãi. Người gọi mười hai ông lại gần và nói cho các ông biết những gì sẽ xẩy đến cho Người: "Giờ đây chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế, các luật sĩ và các kỳ lão. Họ sẽ kết án tử hình Người và nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo cười Người, phỉ nhổ vào Người, đánh đòn và giết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại".

Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, đến gần Người và thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy". Người đáp: "Các con muốn Thầy làm gì cho các con?" Các ông thưa: "Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy". Chúa Giêsu bảo: "Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được". Chúa Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định". Mười môn đệ khác nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan. Chúa Giêsu gọi các ông lại gần mà bảo: "Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".

Ðó là lời Chúa.




"Chúa Giêsu dẫn đầu đi trước họ... những người theo sau thì sợ hãi".

SUY NIỆM

Ý chính của Bài Phúc Âm của ngày Thứ Tư trong Tuần VIII Thường Niên hậu Phục Sinh hôm nay, qua câu nói của Chúa Kirtô kết thúc bài Phúc Âm, đó là: "Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".
Đúng thế, chính vì để cho con người được sự sống thần linh, sự sống đời đời, mà Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, đã phải "hiến mạng sống mình làm giá chuộc". Sở dĩ mạng sống của Người chỉ là một sự sống tự nhiên về thể lý mà có thể cứu được các linh hồn thiêng liêng bất tử, tức có thể mang lại sự sống thần linh siêu nhiên bất diệt cho họ là vì sự sống thể lý của thân xác Người, một thân xác đã cùng với linh hồn của Người, ngôi hiệp với Thần Tính vô cùng cao trọng của Người, bởi thế sự sống thể lý ấy vô cùng cao quí vì thuộc về chính Con Thiên Chúa.
"Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụđã được chứng thực ngay ở đầu bài Phúc Âm. Ở chỗ, như Thánh ký Marco thuật lại: "Khi ấy, các môn đệ và Chúa Giêsu lên đường đi Giêrusalem, Chúa Giêsu dẫn đầu đi trước họ, và các ông hết sức bỡ ngỡ, những người theo sau thì sợ hãi".

Qua lời tường thuật này chúng ta thấy hình ảnh của một Vị Mục Tử đích thực bao giờ cũng "đi trước chiên" (Gioan 10:4), nhất là khi đàn chiên "theo sau thì sợ hãi" được nói đến trong bài Phúc Âm, 
"đi trước chiênđể sẵn sàng đối đầu với bất cứ nguy hiểm nào xẩy đến cho chiên của mình và để bảo vệ chiên của mình cho đến cùng, nhất là với đám sói dữ, cho dù có phải "hiến mạng sống mình vì chiên" (Gioan 10:11). 
Vấn đề ở đây là không phải vị mục tử nhân lành sống chết cho chiên này không biết trước được số phận của mình, mà là cho dù có thực sự biết trước nhưng vẫn cứ "đi trước chiên", sẵn sàng bảo vệ sự sống của chiên, bằng cách "tự ý bỏ mạng sống mình đi" (Gioan 10:17;17:19), mà còn tỏ cho đàn chiên của mình biết như thế nữa: 

"Người gọi mười hai ông lại gần và nói cho các ông biết những gì sẽ xẩy đến cho Người: 'Giờ đây chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế, các luật sĩ và các kỳ lão. Họ sẽ kết án tử hình Người và nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo cười Người, phỉ nhổ vào Người, đánh đòn và giết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại'".
Việc vị chủ chiên ở trong bài Phúc Âm hôm nay tỏ cho đàn chiên "theo sau thì sợ hãi" này biết số phận vượt qua của mình như thế, không phải là vị chủ chiên chỉ cố ý để cho chiên biết được rằng mình yêu thương chiên biết là chừng nào, một tình yêu cao cả dám hiến mình vì bạn hữu (xem Gioan 15:13), mà còn muốn cho họ thấy rằng Người sẽ đi dọn chỗ cho họ để Người ở đâu thì họ cũng ở đó với Người nữa (xem Gioan 14:3), vì sau này chính họ cũng tiếp tục sứ vụ là chủ chiên thay Người và như Người, cũng phải "đến để phục vụ" theo gương mẫu của Người đối với họ.
Trong số các tông đồ được nghe Người tiết lộ bí mật về số phận vượt qua của Người bấy giờ đã có hai vị, đó là "Giacôbê và Gioan", dường như cảm thấu được những gì Người nói, nên đã tự động muốn theo đuổi bắt chước Người một cách triệt để, và đã mạnh dạn lên tiếng xin cho được có cùng một số phận như Người: "Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy".
Thoạt nghe, "mười môn đệ khác nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan", vì cứ tưởng là hai anh em này tham quyền cố vị. Thế nhưng, nếu xét cho kỹ thì không phải thế, hoàn toàn ngược lại, hai vị chỉ muốn được nên giống Thày của mình nhất trong số phần hy sinh cứu độ mà thôi
Đó là lý do khi nghe Chúa Giêsu đặt thẳng vấn đề với nhị vị "Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?" thì cả hai đều mau mắn đồng thanh thưa lại rằng: "Thưa được". Và hai vị đã được Thày chấp nhận cho "thông phần với Thày" (Gioan 13:8): "Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu". 
Thực tế cho thấy, những gì hai ông xin với Chúa Giêsu bấy giờ trước mặt các tông đồ khác đều đã được ứng nghiệm, ở chỗ, Tông Đồ Gioan được ngồi bên phải của Người, khi người tông đồ này là vị tông đồ duy nhất "đứng dưới chân thập giá của Chúa Giêsu" với Mẹ Maria (Gioan 19:25), một vị thế tử đạo khi tận mắt chứng kiến thấy tất cả khổ nhục tận cùng Thày mình phải chịu, và ở chỗ, Tông Đồ Giacôbê được ngồi bên tả của Người, vì ngài là vị tông đồ tử đạo đầu tiên trong các tông đồ (xem Tông Vụ 12:2), ở Giêrusalem, giáo đô của dân Do Thái, đích điểm nhắm tới mà cuộc hành trình Thiên Sai của Chúa Giêsu cần phải tiến về, như đầu bài Phúc Âm hôm nay đề cập tới: "Các môn đệ và Chúa Giêsu lên đường đi Giêrusalem".

"Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định", nghĩa là, do Cha chỉ định và xếp đặt tùy theo ý định của Ngài và ơn gọi của Ngài nơi từng người. Đó là lý do trong Bữa Tiệc Ly Chúa Kitô mới nói với các tông đồ rằng: "Trong nhà Cha của Thày có nhiều chỗ ở" (Gioan 14:2).

Lời thỉnh cầu của hai người môn đệ trong bài Phúc Âm hôm nay xin Thày cho được ngồi bên phải và bên trái của Chúa Kitô đây có thể hiểu là các vị, dù ý thức hay không ý thức, dù chủ quan hay khách quan, tự nó cũng là một ước muốn được thông phần vào công cuộc cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô cho chung nhân loại chứ không phải cho riêng gì dân Do Thái. Thế nhưng, dù sao, "việc cứu độ xuất phát từ dân Do Thái" (Gioan 4:22), một dự án cứu độ đã được Thiên Chúa mạc khải cho thấy trong lịch sử cứu độ của dân này, như Sách Huấn Ca đã cảm nhận và bày tỏ trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Xin Chúa quy tụ mọi người vào các chi họ Giacóp, để họ nhìn biết rằng không có Chúa nào khác ngoài Chúa, để họ cao rao các việc lạ lùng Chúa đã làm, và để Chúa cho họ được hưởng phần gia nghiệp như lúc ban đầu... Xin Chúa hãy minh chứng cho dân tộc, tạo vật đầu tiên của Chúa và xin thực hiện những điều các tiên tri đầu tiên đã nhân danh Chúa mà tiên báo. Xin thưởng công cho những người đã trông cậy nơi Ngài, và xin cho các tiên tri của Chúa được trung trực".

Như thế, cho dù công cuộc cứu độ (ecomony of salvation) "được xuất phát từ dân Do Thái", dự án cứu độ (plan of salvation) ngay từ ban đầu và hằng có tính cách phổ quát, đại đồng, "công giáo" (catholic), nghĩa là bao gồm toàn thể nhân loại nói chung, một dự án đầy từ bi nhân ái, được hiện thực nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng "không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người", đó là "những ai chấp Người" (Gioan 1:12), chấp nhận ơn cứu độ của Ngài, nghĩa là tin tưởng vào lòng thương xót của Ngài, thành phần mang tâm nguyện như câu xướng trong Bài Đáp Ca hôm nay: "Lạy Chúa, xin hãy tỏ cho chúng con ánh sáng lòng từ bi của Chúa" (Huấn Ca 36: 1b), cũng như câu Alleluia hôm nay: "Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. - Alleluia".



Thứ Năm sau Chúa Nhật 8 Quanh Năm

 

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Hc 42, 15-26

"Các công trình của Chúa đầy ánh vinh quang của Người".

Trích sách Huấn Ca.

Tôi sẽ ghi nhớ công trình của Chúa, và sẽ thuật lại những điều tôi đã thấy. Nhờ lời Chúa mà Chúa đã thực hiện những kỳ công. Mặt trời chiếu soi vạn vật, và công trình của Chúa đầy ánh vinh quang của Người.

Nào Chúa đã không ban cho các thánh được cao rao các việc kỳ diệu của Người, những việc mà Chúa toàn năng đã củng cố trong vinh quang của Người sao?

Người dò xét vực thẳm và lòng con người, thấu biết những mưu chước của họ, vì Chúa thấu suốt mọi sự và theo dõi những dấu thời đại, tuyên bố những gì thuộc về dĩ vãng và hậu lai, tỏ bày những dấu vết các việc ẩn kín. Không một tư tưởng nào mà Người không biết, không một lời nào có thể giấu được Người.

Người sắp đặt những kỳ công sự khôn ngoan của Người. Người có trước muôn đời và tồn tại muôn thuở, không thêm không bớt, không cần đến vị cố vấn nào. Mọi công trình của Người thực đáng quý chuộng, và như những ánh lửa người ta có thể ngắm nhìn. Mọi vật ấy đều sống động và tồn tại muôn đời, và vâng phục Người trong mọi hoàn cảnh. Tất cả đều có từng đôi và cái này đối diện với cái nọ, và Người không làm chi khuyết điểm. Vật này làm nổi bật vẻ đẹp cho vật kia. Và ai có thể nhàm chán nhìn xem vinh quang của Người?

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 32, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9

Ðáp: Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành (c. 6a).

Xướng: 1) Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran.- Ðáp.

2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng của Chúa. - Ðáp.

3) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng. - Ðáp.

4) Toàn thể địa cầu hãy tôn sợ Chúa, mọi người sống trong vũ trụ hãy kính nể Người. Vì chính Người phán dạy mà chúng được tạo thành, chính Người ra lệnh mà chúng trở nên thực hữu. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 144, 13cd

Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 10, 46-52

"Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ, và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường. Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: "Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi". Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: "Hỡi con vua Ðavít , xin thương xót tôi".

Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: "Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh". Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: "Anh muốn Ta làm gì cho anh"? Người mù thưa: "Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy". Chúa Giêsu đáp: "Ðược, đức tin của anh đã chữa anh". Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

Ðó là lời Chúa.

 





"Liệng áo choàng, đứng dạy, đến cùng Chúa Giêsu"... "đi theo Người"

SUY NIỆM

Nếu sự sống thần linh, sự sống đời đời liên quan đến việc "nhận biết" (Gioan 17:3) thì bài Phúc Âm hôm nay cũng gián tiếp liên quan đến sự sống. Bởi vì, "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo Tôi sẽ không đi trong tăm tối, nhưng sẽ được ánh sáng sự sống" (Gioan 8:12).
Chúa Giêsu, trong cuộc hành trình tiến về Giêrusalem, đã băng qua xứ Samaria và ghé vào thủ phủ của xứ này là Jericho, và như Thánh ký Marco thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay (10:46-52), thì khi "Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường".
Tuy bị mù lòa về thể lý, nhưng tâm linh của con người này rất tinh anh bén nhậyđến độ, cho dù chưa hề được tận mắt thấy Chúa Giêsu và chứng kiến việc Người làm phép lạ, mà mới chỉ nghe về Người thôi, đã tỏ ra tin tưởng Người lắm rồi, thậm chí có thể tận thâm tâm của mình, con người mù này đã hết sức mong chờ được gặp Người nữa. 
Bởi thế, không lạ gì, như Phúc Âm hôm nay thuật lại: "Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: 'Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi'. Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: 'Hỡi con vua Đavít , xin thương xót tôi'".
Là Đấng đã "đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại" (Luca 19:10) làm sao Chúa Kitô có thể ngoảnh mặt làm ngơ trước con người đáng thương về phần xác nhưng đáng đáp ứng về phần hồn như "một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường" ấy chứ! Thế nên, Thánh ký Marco đã tiếp tục cho thấy phản ứng của Chúa Kitô và việc Người đáp ứng đối với người mù này như sau:
"Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: 'Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh'. Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: 'Anh muốn Ta làm gì cho anh?' Người mù thưa: 'Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy'. Chúa Giêsu đáp: 'Được, đức tin của anh đã chữa anh'. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người".
Hành động "liệng áo choàng, đứng dạy, đến cùng Chúa Giêsu" của người mù ăn xin này không phải chỉ cho thấy nỗi vui mừng khôn tả của anh ta vì được chính Đấng anh ta chưa bao giờ thấy nhưng hết sức tin tưởng đáp ứng, mà còn nhất là cho thấy anh ta hoàn toàn tin tưởng rằng anh ta chắc chắn sẽ được chữa lành nữa theo như lòng anh ta mong ước "được thấy"
Theo bình thường chúng ta hiểu là con người ăn xin mù lòa này muốn "được thấy" ánh sáng mặt trời, muốn "được thấy" những người thân yêu của anh ta, muốn trở nên bình thường như mọi người với cặp mắt để "được thấy" tất cả mọi thực tại quanh mình v.v., Thế nhưng, nơi trường hợp của riêng người ăn xin mù lòa này thì anh ta muốn "được thấy" chính Đấng anh ta hằng tin tưởng và đã chữa lành anh ta. Đó là lý do sau khi anh ta "thấy được" thì "đi theo Người", cùng Người và các môn đệ của Người cũng như đám đông theo Người lên Giêrusalem, và chính vì anh ta "đi theo Người" "là ánh sáng thế gian" mà anh ta "có ánh sáng sự sống", "không (còn) đi trong tăm tối" nữa (Gioan 8:12). 

CẢM NGHIỆM

Thân phận mù lòa ngồi ăn xin của nhân vật Batimê trong bài Phúc Âm hôm nay là tiêu biểu cho thân phận của chung nhân loại sau nguyên tội, một thân phận bởi nguyên tội và từ nguyên tội đã trở nên bần cùng về sự sống thần linh, ở chỗ mất ơn nghĩa với Chúa, và mù lòa về đời sống tâm linh, ở chỗ lầm lạc không biết việc mình làm.

Thế nhưng, nhờ Phép Rửa, tức nhờ quyền linh của Chúa Kitô Vượt Qua, như người mù ăn xin Batimê, họ đã "được thấy và đi theo Người", bởi được Người thương, như lời Thánh Phêrô nhắc nhủ họ trong Bài Đọc 1 hôm nay:
"Anh em xưa kia không phải là dân của Thiên Chúa, nhưng nay là dân của Người; xưa kia anh em không được xót thương, nhưng nay được thương xót".

Phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho người mù trong bài Phúc Âm hôm nay là một kỳ công, bao gồm cả quyền năng và lòng thương xót Người muốn tỏ ra chẳng những cho chính nạn nhân mù lòa mà còn cho các các môn đệ cùng đám đông đang theo Người bấy giờ, lẫn quyết định theo Chúa của nạn nhân mù lòa sau khi được chữa lành, "được thấy" không phải chỉ muốn thấy thiên nhiên tạo vật cùng nhân sinh của mình mà là "thấy được" Đấng "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12), "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), "ánh sáng đã chiếu trong tăm tối" (Gioan 1:5), điển hình là đã làm cho bóng tối hằng bao trùm con mắt thể lý của anh hoàn toàn tan biến.

Chính vì thế, chính vì cảm nghiệm thần linh sâu xa của nạn nhân bị mù được chữa lành trong bài Phúc Âm hôm nay, mà khi mở mắt ra anh ta mới có thể nói như Sách Huấn Ca viết trong Bài Đọc 1 hôm nay:
"Tôi sẽ ghi nhớ công trình của Chúa, và sẽ thuật lại những điều tôi đã thấy". Ở chỗ nào, nếu không phải ở chỗ, như Bài Đọc 1 ngay sau đó viết: "Nhờ lời Chúa mà Chúa đã thực hiện những kỳ công. Mặt trời chiếu soi vạn vật, và công trình của Chúa đầy ánh vinh quang của Người.... Mọi công trình của Người thực đáng quý chuộng, và như những ánh lửa người ta có thể ngắm nhìn... Và ai có thể nhàm chán nhìn xem vinh quang của Người?"

Một khi chiêm ngưỡng thấy vinh quang của Thiên Chúa nơi thiên nhiên tạo vật, nhất là nơi chính bản thân của mình là một người mù lòa được nhìn thấy, người mù trong Bài Phúc Âm hôm nay không thể nào không kêu gọi tất cả mọi tạo vật cùng nhau và cùng với mình chúc tụng ngợi khen Chúa như câu cuối cùng của Bài Đáp Ca hôm nay: "Toàn thể địa cầu hãy tôn sợ Chúa, mọi người sống trong vũ trụ hãy kính nể Người. Vì chính Người phán dạy mà chúng được tạo thành, chính Người ra lệnh mà chúng trở nên thực hữu".
 

 


Thứ Sáu sau Chúa Nhật 8 Quanh Năm

 

Bài Ðọc I: (Năm II) 1 Pr 4, 7-13

"Anh em hãy nên những kẻ phân phát những ơn Chúa".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, ngày cùng tận của vạn vật đã gần rồi. Vậy anh em hãy khôn ngoan và tỉnh thức cầu nguyện. Tiên vàn, anh em hãy luôn luôn yêu thương nhau, vì tình thương che lấp muôn vàn tội lỗi. Anh em hãy đón tiếp khách trọ và đừng kêu ca. Tuỳ theo ơn đã lãnh nhận, mỗi người hãy phục vụ lẫn nhau như những người phân phát ân sủng muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa. Nếu ai rao giảng, thì hãy kể đó là lời của Thiên Chúa; nếu ai phục vụ, thì hãy kể đó là do sức mạnh Thiên Chúa ban cho, ngõ hầu Thiên Chúa được tôn vinh nơi vạn vật nhờ Ðức Giêsu Kitô, Ðấng vinh hiển và uy quyền đến muôn đời. Amen.

Anh em thân mến, chớ có kinh dị, vì ngọn lửa đã bốc lên nơi anh em để thử luyện anh em, như thể một việc mới lạ xảy đến cho anh em. Nhưng được thông phần vào cuộc khổ nạn của Ðức Kitô, anh em hãy vui mừng, để khi vinh quang của Người được tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 95, 10. 11-12. 13

Ðáp: Chúa ngự tới cai quản địa cầu (c. 13ab).

Xướng: 1) Hãy công bố giữa chư dân rằng: Thiên Chúa ngự trị. Người dựng vững địa cầu cho nó khỏi lung lay, Người cai quản chư dân theo đường đoan chính. - Ðáp.

2) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan, biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên, đồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui. Các rừng cây hãy vui tươi hớn hở. - Ðáp.

3) Trước nhan Thiên Chúa: vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh và chư dân cách chân thành. - Ðáp.

 

Alleluia: Dt 4, 12

Alleluia, alleluia! - Lời Thiên Chúa là lời hằng sống, linh nghiệm, phơi bày tư tưởng và ý muốn của tâm hồn. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 11, 11-26

"Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc. Các ngươi hãy tin vào Thiên Chúa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

(Khi nghe dân chúng hoan hô), Chúa Giêsu vào thành Giê-rusalem, lên đền thờ và sau khi đã đưa mắt quan sát mọi sự, và lúc trời đã xế chiều, Người ra về Bêtania cùng với nhóm mười hai. Hôm sau, khi thầy trò rời bỏ Bêtania, Người thấy đói. Và khi thấy ở đàng xa có một cây vả nhiều lá, Người đến xem coi có trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người chỉ thấy có lá thôi, vì không phải là mùa có trái. Người phán bảo cây vả rằng: "Cho đến muôn đời sẽ không còn ai ăn trái của mi nữa". Và các môn đệ đã nghe Người nói.

Các ngài đến Giêrusalem. Và khi vào đền thờ, Chúa liền đuổi những người mua bán ở đó. Người xô đổ bàn của những người đổi tiền và ghế của những người bán chim câu. Người không để cho ai mang đồ vật đi ngang qua đền thờ. Người dạy bảo họ: "Nào chẳng có lời chép rằng: "Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dận tộc ư? Thế mà các ngươi đã biến thành hang trộm cướp". Ðiều đó đến tai các trưởng tế và luật sĩ, họ liền tìm cách giết Người, vì họ sợ Người, bởi tất cả dân chúng say mê giáo lý của Người. Chiều đến, Người ra khỏi thành.

Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, các ngài trông thấy cây vả đã chết khô tận rễ. Phêrô nhớ lại và thưa Chúa rằng: "Lạy Thầy, hãy coi, cây vả Thầy nguyền rủa đã chết khô rồi". Chúa Giêsu đáp: "Hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật các con, nếu ai bảo núi kia: "Hãy dời đi và gieo mình xuống biển", mà trong lòng không hồ nghi, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì người ấy sẽ được như ý. Vì vậy Thầy bảo các con: Tất cả những gì các con cầu xin, hãy tin rằng các con sẽ được, thì các con sẽ được điều đó. Và khi các con đang đứng cầu nguyện, nếu các con có điều gì bất thuận với ai, hãy tha thứ để Cha các con trên trời cũng tha cho các con. Nếu các con không tha thứ, thì Cha các con trên trời cũng không tha tội cho các con".

Ðó là lời Chúa.

 




Đền Thờ ... hang trộm cướp!

SUY NIỆM

Cuộc hành trình tiến về Giêrusalem của Chúa Giêsu cùng với các môn đệ của Người, nh
ư bài Phúc Âm c
ủa Thánh ký Marco (11:11-26) cho Thứ Sáu Tuần VIII Mùa Thường Niên hôm nay cho thấy, đã tới nơi. Sau khi Người công khai "vào thành Giêrusalemtrước sự long trọng và linh đình nghênh đón của dân chúng, thì Người "lên đền thờ và sau khi đã đưa mắt quan sát mọi sự, và lúc trời đã xế chiều, Người ra về Bêtania cùng với nhóm mười hai". 
Đúng thế, nếu tiến "vào thành Giêrusalem" mà không "lên đền thờ" là tâm điểm của thành này, là Nơi Thánh, Nơi Thiên Chúa ngự, thì Chúa Kitô kể như chưa đạt đến đích điểm Người nhắm tới. Thế nhưng, ngay lúc bấy giờ, Người chưa vào bên trong Đền Thờ, mà chỉ mới "đưa mắt quan sát mọi sự" ở bên ngoài mà thôi. Bởi đó mới chưa có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra như ngày hôm sau khi Người trở lại, một ngày có hai biến cố liên hệ với nhau, như được Phúc Âm thuật lại như sau:
"Hôm sau, khi thầy trò rời bỏ Bêtania, Người thấy đói. Và khi thấy ở đàng xa có một cây vả nhiều lá, Người đến xem coi có trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người chỉ thấy có lá thôi, vì không phải là mùa có trái. Người phán bảo cây vả rằng: 'Cho đến muôn đời sẽ không còn ai ăn trái của mi nữa'. Và các môn đệ đã nghe Người nói".
Đây là biến cố thứ nhất, biến cố xẩy ra trên đường Chúa Kitô cùng với các tông đồ lên Đền thờ Giêrusalem. Không biết lúc ấy là lúc nào, có thể là giữa trưa hay chăng. Vì bấy giờ Chúa Giêsu đã cảm thấy "đói". Có thể Thày trò của Người đêm hôm trước đâ về ở trọ nhà của 3 chị em Matta, Maria và Lazarô là những người bạn thân của Người ở Bêtania (xem Gioan 11:1-2,5), và đã được cả 3 chị em phục vụ hết mình về cả của ăn lẫn chỗ ngủ, kể cả bữa ăn sáng hôm sau trước khi Thày trò rời nhà của họ trở lại Đền Thờ
Vấn đề ở đây là tại sao Chúa Kitô lại nguyền rủa một cây vả không có trái như Người mong muốn, nhất là lúc Người cảm "thấy đói": "Cho đến muôn đời sẽ không còn ai ăn trái của mi nữa", trong khi đó lại "không phải là mùa có trái" của nó, cho dù nó vẫn còn "có láxanh tươi? Và lời nguyền rủa của Người đã hoàn toàn ứng nghiệm với cây vả tội nghiệp này, như phần dưới của cùng bài Phúc Âm hôm nay ghi nhận: "Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, các ngài trông thấy cây vả đã chết khô tận rễ".
Có thể cây vả bị Chúa Kitô nguyền rủa ấy chỉ um tùm những lá xanh tươi như vậy thôi, mà chẳng bao giờ có trái, dù đến mùa sinh hoa kết trái của nó như những cây vả khác, nên nó mới bị nguyền rủa như vậy, bởi nó không đạt được ý nghĩa là thứ cây ăn trái của mình, và vì thế chỉ chiếm đất chứ chẳng có lợi gì, đáng bị đốn đi cho xong, như ý nghĩa của dụ ngôn về cây vả không sinh trái trong vườn nho được Chúa Giêsu nói đến (xem Luca 13:7).
Biến cố cây vả bên đường không sinh trái bị Chúa Giêsu nguyền rủa và đã bị héo khô này phải chăng ám chỉ đến biến cố Thành Thánh Giêrusalem, giáo đô của Do Thái giáo của dân Chúa chọn, chỉ là một nơi nguy ga đồ sộ về kiến trúc và là một nơi đô hội vui nhộn theo trần thế hơn là nơi của tôn giáo và đức tin, nơi để dân Chúa "tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24), nên nó đã được chính Người báo trước cho biết về số phận bất hạnh của nó là "tất cả sẽ bị hủy hoại" (xem Marco 13:2). 
Đúng thế, biến cố thứ hai trong cùng một ngày, tiếp theo sau biến cố cây vả bên đường bị Chúa Giêsu nguyền rủa (hôm sau thấy chết khô), đó là biến cố có liên quan đến biến cố thứ nhất, một biến cố gián tiếp ám chỉ đến biến cố thứ hai, và biến cố thứ hai này đã được Thánh ký Marco thuật lại trong cùng bài Phúc Âm hôm nay như sau:
"Các ngài đến Giêrusalem. Và khi vào đền thờ, Chúa liền đuổi những người mua bán ở đó. Người xô đổ bàn của những người đổi tiền và ghế của những người bán chim câu. Người không để cho ai mang đồ vật đi ngang qua đền thờ. Người dạy bảo họ: 'Nào chẳng có lời chép rằng: 'Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc ư? Thế mà các ngươi đã biến thành hang trộm cướp'".
Ở đây chúng ta thấy, hôm trước, Chúa Giêsu khi công khai tiến vào Thành Giêrusalem mới chỉ "đưa mắt quan sát mọi sự" ở bên ngoài đền thờ, hôm nay, "khi vào đền thờ", thì ở bên trong Người mới thấy diễn ra một cảnh tượng không thể nào chấp nhận được, không thể nào không thẳng tay thanh tẩy đền thờ cho đúng với ý nghĩa "là nhà cầu nguyệncủa đền thờ, một nơi linh thiêng thánh hảo đã bị con người trần tục hóa, một nơi con người "đã biến thành hang trộm cướp", trở thành sào huyệt của lợi lộc thấp hèn trần tục.

Cấu trúc của đền thờ, theo lời chỉ dẫn của chính Thiên Chúa, được Sách Xuất Hành thuật lại về Lều Tạm (The Dwelling / Tabanacle) ở đoạn 26 (31-37) và được Thư Do Thái nhắc lại ở đoạn 9 (1-7), bao gồm 2 phần: phần thánh (holy place) ở bên ngoài (outside one) và phần cực thánh (the holy of holies) bên trong tấm màn thứ hai (behind the second veil): Phần Thánh gồm có cái bàn (table) ở phía bắc và chân đèn (lampstand) ở phía nam Lều Tạm, nơi các vị tư tế (priests) có thể vào thường xuyên. Còn Phần Cực Thánh là nơi có Bàn Thờ Hương bằng vàng và Hòm Bia đựng hai tấm bia giao ước (the tablets of covenant), một hũ bằng vàng đựng manna (the golden jar containing the manna) và cây gậy nở hoa của Aaron (the rod of Aaron which had blossomed), và là nơi chỉ có vị thượng tế (high priest) mới được vào mỗi năm 1 lần mà thôi. 

Tuy nhiên, Sách Xuất Hành ở đoạn 27 (9-19) sau đó còn thuật lại một phần nữa của Lều Tạm theo lời chỉ dẫn của Thiên Chúa hết sức tỉ mỉ bao gồm cả 4 phía đông, tây, nam, bắc, kèm theo kích thước đàng hoàng, gọi là Court of the Dwelling, có thể coi là tiền đường của Lều Tạm, một tiền đường có cửa vào được treo một tấm màn (curtain) nữa, tức tấm màn thứ nhất so với tấm màn thứ hai phân nơi thánh và nơi chí thánh ở nội cung Lều Tạm. Đền thờ Giêrusalem đầu tiên, theo Sách Chư Vương quyển 1 (6:15-38), được Vua Solomon xây 7 năm (27:38) và cũng được cấu trúc theo đúng như cấu trúc của Lều Tạm, cũng có nơi thánh và nơi cực thánh ở nội cung, và tiền đường bên ngoài (27:36), một cấu trúc có thể ám chỉ về con người có thân xác như tiền đường, linh hồn như nơi thánh và lương tâm như nơi cực thánh.  

Như thế, theo suy đoán thì Chúa Giêsu vào đền thờ bấy giờ là vào tiền đường của đền thờ mà thôi, nơi dân chúng tụ họp, chứ ngài không vào bên trong nơi thánh như một vị tư tế hay vào nơi cực thánh như một vị thượng tế. Và chính ở tiền đường cũng là một phần trong cấu trúc làm nên nguyên vẹn đền thờ là nơi cầu nguyện đầy tính cách linh thiêng này đã bị con người ta biến thành hang trộm cướp bằng những thứ buôn bán trần tục, bất xứng với một nơi gọi là đền thờ mà Người đã phải thẳng tay thanh tẩy như Phúc Âm hôm nay thuật lại. 

Hai biến cố trong cùng một ngày có liên hệ với nhau trên đây cho thấy, trước hết, về phương diện tự nhên, một sinh vật (điển hình như cây vả là một thứ cây ăn trái) không thể nào không sinh hoa trái là những gì biểu hiệu cho sự sống đích thực và dồi dào của nó, sau nữa, về phương diện siêu nhiên, một con người có hồn thiêng bất tử không thể nào chỉ "sống nguyên bởi bánh" mà chính là "sống bởi mọi lời bởi miệng Thiên Chúa phán ra" (xem Mathêu 4:4), nghĩa là sống bởi đức tin nữa. 
Đó là lý do, sau khi nghe thấy Tông Đồ Phêrô báo cho biết rằng "Lạy Thầy, hãy coi, cây vả Thầy nguyền rủa đã chết khô rồi", Chúa Giêsu mới lợi dụng cơ hội ấy để dạy cho vị tông đồ này nói riêng và các tông đồ nói chung về đức tin, như bài Phúc Âm hôm nay trình thuật tiếp như sau: "Hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật các con, nếu ai bảo núi kia: 'Hãy dời đi và gieo mình xuống biển', mà trong lòng không hồ nghi, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì người ấy sẽ được như ý".

CẢM NGHIỆM

Biến cố Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Giêrusalem trong bài Phúc Âm hôm nay, nhưng trước đó Người nguyền rủa cây vả không sinh hoa trái và sau đó cây vả bị Người nguyền rủa chết khô, có thể hiểu về bản thân là Đền Thờ Thánh Linh của Kitô hữu (1Corinto 3:16-17; 6:19-20), thành phần nhờ Phép Rửa đã được thông phần vào bản tính thần linh của Thiên Chúa, nhờ đó được sống sự sống thần linh của Thiên Chúa và với Thiên Chúa, một sự sống thần linh vô cùng viên mãn không thể nào không sinh hoa trái, liên lỉ sinh hoa trái, chứ không theo thời hay tùy thời.

Tuy nhiên, nếu Kitô hữu sống lơ là theo bản tính tự nhiên vốn xu hướng về trần tục, về những sự dưới thế hơn là những sự trên trời, đến độ biến tâm hồn là nơi Thiên Chúa ngự trị bởi Thánh Linh của Ngài như là một "nhà cầu nguyện", một Đền Thờ linh thiêng "thành hang trộm cướp", thì chắc chắn sẽ "được" Người thương thanh tẩy để khỏi bị chết đi như cây vả không sinh hoa trái cho Người bất cứ lúc nào Người mong muốn và đòi hỏi.

Sự kiện đền thờ Giêrusalem được Chúa Giêsu thanh tẩy và hiện tượng cây vả chết khô theo lời nguyền rủa của Chúa Giêsu có một mối liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau, ở chỗ cái chết của cây vả là dấu báo cho tình trạng đền thờ bị tục hóa rồi sẽ bị tàn phá, bởi đền thờ được bàn tay con ngưòi xây lên đã bị chính con người tục hóa. Mà hình ảnh đền thờ Giêrusalem bị tàn phá theo lời Chúa Giêsu tiên báo được coi là dấu hiệu cho ngày cùng tháng tận. Đó là lý do, Thánh Phêrô trong Bài Đọc 1 hôm nay đã vừa cảnh báo về ngày cùng tháng tận vừa khuyên nhủ Kitô hữu Do Thái của ngài phải sống ra sao trong trường hợp như thế:

"Anh em thân mến, ngày cùng tận của vạn vật đã gần rồi. Vậy anh em hãy khôn ngoan và tỉnh thức cầu nguyện... chớ có kinh dị, vì ngọn lửa đã bốc lên nơi anh em để thử luyện anh em, như thể một việc mới lạ xảy đến cho anh em. Nhưng được thông phần vào cuộc khổ nạn của Ðức Kitô, anh em hãy vui mừng, để khi vinh quang của Người được tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ".


Thứ Bảy sau Chúa Nhật 8 Quanh Năm

 

Bài Ðọc I: (Năm II) Gđ 17, 20b-25

"Thiên Chúa có quyền năng bảo tồn anh em vô tội và đặt anh em tinh toàn trước thiên nhan sáng láng của Người".

Trích thư của Thánh Giuđa Tông đồ.

Anh em thân mến, anh em hãy nhớ lại những điều do các tông đồ đã loan tin trước về Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Anh em tự xây dựng trên đức tin rất thánh thiện của anh em và nguyện cầu bởi ơn Thánh Thần, anh em hãy tự kiên trì trong tình yêu Thiên Chúa, hầu mong đợi lòng thương xót của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cho được sống đời đời. Anh em hãy thuyết phục những người này, họ là kẻ hay phân vân. Hãy cứu vớt những người kia, lôi kéo họ ra khỏi lửa. Còn như đối với hạng người khác nữa, anh em hãy tỏ lòng thương, đồng thời cũng phải lo sợ, gớm ghét cả đến tấm áo dài đã bị xác thịt làm nhơ bẩn.

Nguyện cho Ðấng có quyền năng / bảo tồn anh em vô tội và đặt anh em tinh toàn trước thiên nhan sáng láng của Người một cách hân hoan, trong ngày Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta trở lại; nguyện cho Thiên Chúa duy nhất là Ðấng cứu độ chúng ta nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, được vinh quang, oai nghiêm, dũng lực và quyền năng, từ trước muôn thuở, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen. Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 62, 2. 3-4. 5-6

Ðáp: Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, linh hồn con khao khát Chúa (c. 2b).

Xướng: 1) Ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa con, như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước. - Ðáp.

2) Con cũng mong được chiêm ngưỡng thiên nhan ở thánh đài, để nhìn thấy quyền năng và vinh quang của Chúa. Vì ân tình của Ngài đáng chuộng hơn mạng sống, miệng con sẽ xướng ca ngợi khen Ngài. - Ðáp.

3) Con sẽ chúc tụng Ngài như thế trọn đời con, con sẽ giơ tay kêu cầu danh Chúa. Hồn con được no thoả dường như bởi mỹ vị cao lương, và miệng con ca ngợi Chúa với cặp môi hoan hỉ. - Ðáp.

 

Alleluia: Gc 1, 18

Alleluia, alleluia! - Do ý định của Thiên Chúa, Người đã sinh chúng ta bằng lời sự thật, để chúng ta nên như của đầu mùa các tạo vật. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 11, 27-33

"Ông lấy quyền nào làm sự đó?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ lại đến Giêrusalem. Và trong khi Chúa Giêsu đi lại trong đền thờ, thì những trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão đến hỏi Người: "Ông lấy quyền nào mà làm sự đó? Và ai đã ban quyền cho ông để làm như vậy?" Chúa Giêsu đáp: "Tôi sẽ hỏi các ông một câu thôi, hãy trả lời cho Tôi thì Tôi sẽ bảo cho các ông hay Tôi lấy quyền nào mà làm việc đó: Phép rửa của Gioan bởi trời hay bởi người ta? Hãy trả lời Tôi đi". Họ liền bàn riêng với nhau rằng: "Nếu chúng ta trả lời "Bởi trời", ông ấy sẽ nói: "Vậy sao các ông không tin Người?" Nhưng nếu chúng ta nói "Bởi người ta", chúng ta sợ dân chúng, vì mọi người đều coi Gioan thật là một tiên tri. Vậy họ thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Chúng tôi không biết". Và Chúa Giêsu bảo họ: "Vậy thì tôi cũng không nói cho các ông biết bởi quyền phép nào Tôi làm sự đó".

Ðó là lời Chúa.

 

 



"Ngồi trong tối tăm và trong bóng tối chết chóc"

SUY NIỆM

Ý nghĩa phụng vụ Lời Chúa cho Thứ Bảy Tuần VIII Thường Niên hôm nay vẫn bao gồm bài Phúc Âm theo Thánh Marco (11:27-33) và Sách Huấn Ca (51:17-27), như từ ngày đầu tuần lễ này cho tới ngày cuối tuần hôm nay. 

B
ài Phúc Âm hôm nay tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, bài Phúc Âm Chúa Kitô thẳng tay thanh tẩy đền thờ, một nơi linh thiêng thánh hảo "là nhà cầu nguyện" nhưng đã bị dân chúng "biến thành hang trộm cướp" với đầy những thứ buôn bán kiếm lợi, cho dù là những thứ cần thiết như "các con chim câu" (Marco 11:15), liên quan đến việc tuân giữ lề luật của những cha mẹ dâng con trai đầu lòng cho Thiên Chúa trong đền thờ, như trường hợp của Thánh Gia (xem Luca 2:24). 
Chứng kiến thấy hành động dữ dội của Chúa Giêsu như một nhân vật đầy uy quyền như thế, thành phần có thẩm quyền của dân Do Thái là "những trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão"thành phần có thể đã cho phép buôn bán như thế trong đền thờ từ trước đến nay, và vì thế hành động của Người đã đụng đến họ, nên Người đã bị họ đặt vấn đề như hạch hỏi Người như sau: "Ông lấy quyền nào mà làm sự đó? Và ai đã ban quyền cho ông để làm như vậy?". Đại khái là họ không ủy quyền cho Người mà tại sao Người dám lộng quyền qua mặt họ như thế! 
Chúa Giêsu đã sử dụng cái chiêu để cho họ tự trả lời lấy. Bởi thế, thay vì Người nói thẳng ra là Người lấy quyền nào hay ai trao quyền cho Người để Người thẳng tay thanh tẩy đền thờ như vậy, Người đã đặt vấn đề ngược lại với họ để họ tự nhận thức lấy và trả lời thay cho Người: "Tôi sẽ hỏi các ông một câu thôi, hãy trả lời cho Tôi thì Tôi sẽ bảo cho các ông hay Tôi lấy quyền nào mà làm việc đó: Phép rửa của Gioan bởi trời hay bởi người ta? Hãy trả lời Tôi đi".
Thật ra, thành phần lãnh đạo dân chúng này đã thừa biết Người lấy quyền nào hay ai ban quyền cho Người để Người thẳng tay thanh tẩy đền thờ rồi. Nhưng họ muốn chính miệng Người nói ra để nại cớ bắt Người hay tố cáo Người, vì "Người chỉ là loài người mà dám coi mình ngang hàng với Thiên Chúa" (Gioan 10:33), và vì chính họ, qua thành phần được họ sai đến với Tiền Hô Gioan để điều tra xuất xứ của ngài đã biết rằng ngài không phải là Đấng Thiên Sai (xem Gioan 1:19-27).
Đó là lý do họ đã bàn với nhau như Phúc Âm thuật lại như thế này: "Nếu chúng ta trả lời 'Bởi trời', ông ấy sẽ nói: 'Vậy sao các ông không tin Người?' Nhưng nếu chúng ta nói 'Bởi người ta', chúng ta sợ dân chúng, vì mọi người đều coi Gioan thật là một tiên tri". Rồi Phúc Âm cho biết tiếp về câu trả lời dứt khoát của họ như sau: "Chúng tôi không biết". Và vì thế bài Phúc Âm được kết thúc: "Chúa Giêsu bảo họ: 'Vậy thì tôi cũng không nói cho các ông biết bởi quyền phép nào Tôi làm sự đó'". 

Thật ra, “phép rửa của Gioan” chỉ là phép rửa thống hối chứ không phải là phép rửa tha tội như của Chúa Giêsu. Bởi thế, “phép rửa của Gioan” chỉ là phép rửa “bởi người ta” còn phép rửa của Chúa Giêsu mới “bởi trời”, và vì thế, Người có quyền thanh tẩy đền thờ, một hành động tiêu biểu cho việc Người thanh tẩy tội lỗi nơi tâm hồn của con người ta bằng Phép Rửa của Người vậy.

Tâm trạng của thành phần hạch hỏi và bắt bẻ Chúa Giêsu về hành động Người thanh tẩy đền thờ trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy rằng họ quả thực là sợ sự thật, không dám chấp nhận sự thật, bởi thế họ không gặp được sự thật, tức là họ không được sự thật giải phóng (xem Gioan 8:32), và vì thế họ vẫn tiếp tục "ngồi trong tối tăm và trong bóng tối chết chóc" hết sức là tội nghiệp, vì họ đã có cơ hội được trực diện với "ánh sáng thế gian... ánh sáng sự sống" (Gioan 8:12) là Chúa Giêsu Kitô, nhưng họ không nhận ra Người, vì "họ yêu tối tăm hơn ánh sáng" (Gioan 3:19), "họ ghét ánh sáng không dám đến gần ánh sáng vì sợ các công việc họ làm bị lộ tẩy" (Gioan 3:20).

CẢM NGHIỆM

Câu trả lời mập mờ đầy nhút nhát không dám chân nhận sự thật của thành phần trong Hội Đồng Đầu Mục lãnh đạo dân Do Thái cũng chẳng khác nào tâm trạng của Kitô hữu mỗi khi gặp khó khăn trong đời sống đức tin, cần phải bỏ mình và vác thập giá theo Chúa thì tìm cách trốn tránh cho bằng được, với những lý lẽ trần tục, cố gắng trấn an lương tâm, thậm chí kể cả những lúc họ cầu nguyện để tìm biết rõ ý Chúa muốn để làm theo, họ cũng không dám làm khi biết rõ ý Chúa, giả vờ như không biết hay cho đó vẫn chưa phải là ý Chúa, bởi ý Chúa ấy không hợp với ý của họ, hóa ra ý họ mới là ý Chúa. Đó là lý do Tông Đồ Giuđa trong Bài Đọc 1 hôm nay đã khuyên nhủ chúng ta rằng:

"Anh em tự xây dựng trên đức tin rất thánh thiện của anh em và nguyện cầu bởi ơn Thánh Thần, anh em hãy tự kiên trì trong tình yêu Thiên Chúa, hầu mong đợi lòng thương xót của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cho được sống đời đời. Anh em hãy thuyết phục những người này, họ là kẻ hay phân vân", thậm chí muốn tránh né sự thật như thành phần "trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão" trong Bài Phúc Âm hôm nay.

Muốn tránh khỏi tình trạng "hay phân vân" bối rối vì muốn lẩn tránh sự thật, sợ sự thật, tâm hồn thiện chí cần phải có một tâm tình của Thánh Vịnh gia ở Bài Đáp Ca hôm nay: "Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, linh hồn con khao khát Chúa" (TV 62:2b), Đấng "đã sinh chúng ta bằng lời sự thật, để chúng ta nên như của đầu mùa các tạo vật" như Câu Alleluia tung hô hôm nay:

 1) Ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa con, như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước.

2) Con cũng mong được chiêm ngưỡng thiên nhan ở thánh đài, để nhìn thấy quyền năng và vinh quang của Chúa. Vì ân tình của Ngài đáng chuộng hơn mạng sống, miệng con sẽ xướng ca ngợi khen Ngài.

3) Con sẽ chúc tụng Ngài như thế trọn đời con, con sẽ giơ tay kêu cầu danh Chúa. Hồn con được no thoả dường như bởi mỹ vị cao lương, và miệng con ca ngợi Chúa với cặp môi hoan hỉ.