“Chính Đức Thánh Cha đã cung cấp cho chúng con những thứ dự trữ chúng con cần, những tặng ân mà chỉ có Vị Chủ Chăn của chúng con mới có thể ban phát”.

 

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI Tông Du Malta 17-18/4/2010 – Những Lời Nghênh Đón và Tạ Từ Ngài của Tổng Thống Malta George Abela

 

 

(3 đoạn đầu và đoạn cuối cùng  là những lời chào đón và lý do cùng mục đích viếng thăm của ĐTC)

 

Thánh Phaolô, như chúng ta thấy được ghi lại trong Sách Tông Vụ, bấy giờ đang trên đường tới vụ xử ở Rôma thì một trận bão nổi lên khiến cho 276 hành khách trên tầu phải tìm nơi trú ngụ ở Đảo Malta, bấy giờ là Melite, một lãnh địa của người Roma. Dân cư ở đây, như Thánh Luca diễn tả là barbaroi, do đó họ không biết nói tiếng Hy Lạp hay Latinh, là thành phần dân ngoại nhưng đã đối xử với vị Tông Đồ cùng tất cả mọi người bị đắm tầu “một cách hiếu khách lạ thường bằng việc nhóm lửa lên bởi trời mưa và lạnh lẽo”. Ngài đã chữa lành người cha của Publius, the Protos, vị lãnh đạo của Hải Đảo này, và sau đó những người khác đến cùng Thánh Phaolô và cũng được chữa lành. Theo những di tích cổ thì có một thành phố Roma phức tạp là Melite thịnh vượng ở tâm điểm của Hải Đảo này, nơi hiện nay là Mdina và Rabat. Thánh Phaolô dường như được tự do đôi chút trong việc di chuyển, vì ngài được coi trọng trước mắt của Julius là viên đại đội trưởng Rôma canh chừng ngài, và vì thế ngài thường thi hành sứ vụ của ngài ở vùng thành phố, ngài có thể đã đến thành phố này và đã gặp gỡ các phần tử của cộng đồng sống ở đó. Hang Động của Thánh Phaolô, một hang động theo truyền thống được liên kết với Thánh Phaolô qua các thế kỷ, được tìm thấy nơi chính khu vực lân cận đây. 

 

Cho dù Sách Tông Vụ không nói năng gì tới việc Thánh Phaolô rao giảng và việc trở lại của dân cư ở đây, cũng không thể nào có thể cho rằng Vị Tông Đồ của Dân Ngoại, vị đã cho mình là “Người Nhiệt Tâm với Thiên Chúa”, lại có thể sống trên Hải Đảo này 3 tháng, như Sách Tông Vụ cho biết, mà không giảng dạy cho dân cư ở đây sứ điệp Cứu Độ. Theo tự nhiên cũng có thể nghĩ được rằng một cộng đồng nhỏ Kitô hữu đã được xuất phát dính liền với hình ảnh của Vị Tông Đồ này. Ý nghĩ về Thiên Chúa, như được cha ông tổ tiên chúng con ôm ấp trước vụ đắm tầu này, đã thay đổi mau chóng trong thời gian Thánh Phaolô ở Malta từ ý nghĩ “về Vị Quan Án Báo Oán, như được thuật lại khi có một con rắn từ trong lửa xuất hiện quấn lấy bàn tay của Thánh Phaolô, thành ý nghĩ về một Vị Thiên Chúa Chữa Lành, Vị Thứ Tha và Vị Cứu Thế”. Đó là cách thức hoán cải đã xẩy ra của cha ông chúng con.

 

Bởi vậy Thánh Phaolô noí chung được coi là đã gieo những hạt giống đầu tiên của việc truyền bá phúc âm hóa trên hải đảo này và đã dẫn dân chúng của nó đến cuộc họ lần đầu tiên gặp gỡ Chúa Giêsu hay “với một biến cố, một con người, cống hiến hồn sống cho một chân trời mới và một hướng đi quyết liệt, như được Đức Thánh Cha thích đáng diễn tả trong thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” của mình. Như thế có nghĩa là dân chúng của những Hải Đảo của chúng con đây đã đủ may mắn để nhận được tin mừng về Nước Trời thậm chí trước cả cuốn sách phúc âm đầu tiên được cho rằng biên soạn.

 

Đó là giây phút quyết liệt trong lịch sử của chúng con, một giây phút chẳng những được nhìn theo quan điềm về lịch sử và tôn giáo của nó mà còn theo những hàm nghĩa về luân lý và văn hóa nữa, vì nó đã đặt những nền tảng về đạo lý và tri thức cho Quốc Gia của chúng con. Nó đã cống hiến cho Malta một căn tính mới: một căn tính Kitô giáo là nhuững gì từ từ đã thay thế nền văn hóa đa thần dân ngoại bằng văn hóa Kitô giáo.

 

Trong lúc ghi nhớ đến những gốc gác về lịch sử này, chúng con giờ đây cần phải nhìn vào hiện tại và tự hỏi mình câu hỏi thích đáng sau đây: Malta hiện nay đang ở chỗ nào rồi? Cũng Tông Đồ Phaolô sẽ nói gì về Malta ngày nay nếu ngài ở đâu đây để thấy được tất cả những gì đã xẩy ra từ hồi đó? 

 

Malta ngày nay chẳng những là một xứ sở độc lập mà còn tiến tới độ phát triển về kinh tế và xã hội khiến nó có thể trở thành một Phần Tử của Khối Hiệp Nhất Âu Châu. Như tất cả phần còn lại của Âu Châu và thế giới tây phương, chúng ta hiện nay đang phải đương đầu với một cuộc xung khắc giữa một bên là Kitô giáo và một bên là chủ nghĩa thế tục hay chủ nghĩa trần thế là những gì, theo lời của triết gia Marcello Pera, như ông mới đây diễn tả về nó trong II Corriere della Sera, ám chỉ về Âu Châu: “như ở giữa một cuộc chiến tranh. Cuộc chiến tranh giữa chủ nghĩa trần thế và Kitô giáo”.

 

Và khi so sánh với chủ nghĩa Nazi và Cộng sản, ông lập lại rằng:

 

“Ngày nay cũng như hôm qua, có những người muốn hủy diệt đi tôn giáo. Vậy Âu Châu đang trả giá về cái tự do của mình cho cái cuồng loạn hủy hoại này… dân chủ tự mình sẽ bị mất chỗ đứng nếu Kitô giáo bị loại trừ”.

 

Ngày nay, chúng ta đang đối diện với một triều sóng của chủ nghĩa thế tục là chủ nghĩa được mở đầu bằng việc triệt để phân rẽ Giáo Hội và Quốc Gia: đó là một mẫu thức duy trần tục biện hộ rằng Quốc Gia cần phải triệt để tách khỏi tôn giáo là những gì được coi như hoàn toàn thuộc về lãnh vực riêng tư> Tính chất trần tục này đã từng triển nở nơi một số Quốc Gia Âu Châu là những gì đang lôi cuốn dân chúng trở thành duy trần tục hay thậm chí phản Kitô giáo.

 

Tuy nhiên, như tất cả chúng ta đều biết hay tất cả cúng ta cần phải biết, các nền tảng về luân lý của một xã hội như một khối chung, bao gồm cả thành phần tín ngưỡng, thành phần bất khả thần tri hay thành phần vô thần, được phục vụ tốt đẹp hơn, không phải bằng việc xa lìa khỏi tôn giáo mà bằng cách tái cường tráng ý thức về luân lý của Quốc Gia. Đức Thánh Cha đã diễn tả một cách minh tường điều này trong tác phẩm của Đức Thánh Cha là “Các Thứ Giá Trị trong một thời điểm Biến Động”:

 

“Một điểm duy nhất là nền tảng nơi tất cả mọi thứ văn hóa, đó là tôn trọng những gì là thánh hảo đối với người khác, và kính trọng đối với Đấng Thánh là Thiên Cúa. Người ta thực sự có thể cần điều này thậm cí cả những ai tự mình không muốn tin tưởng vào Thiên Chúa. Ở đâu tan biến niềm trân trọng này thì có một cái gì đó trong xã hội đang bị diệt vong”.

 

Tâu Đức Thánh Cha, những ai trong chúng ta tin tưởng, những người được củng cố bởi các giá trị nền tảng do Giáo Hội đề cao, và cho dù chúng ta có nhìn nhận rằng các phần tử của giáo hội, thậm chí là thành phần thừa tác viên của Giáo Hội, có những lúc chẳng may đi sai lạc, chúng ta vẫn chắc chắn các thứ giá trị ấy là những gì được áp dụng phổ quát và cái hiệu năng của nó vượt cả thời gian lẫn không gian. Theo tôi thì thật là sai lầm khi cố gắng lợi dụng những bất khôn đáng trách của một số ít để chụp mũ tối tăm lên toàn thể Giáo Hội. Giáo Hội Công Giáo vẫn dấn thân bảo vệ trẻ em và tất cả những ai yếu kém, và bảo đảm không còn chỗ nấp cho những ai muốn gây tác hại. Bởi thế, Giáo Hội và ngay cả nhiệm vụ của Quốc Gia cần phải cùng nhau ban hành những chỉ thị và luật pháp, nhờ đó mới có được những guồng máy rõ ràng hiệu nghiệm cùng với những phương thức hòa hợp và khẩn trương để ngăn chặn những trường hợp lạm dụng, để công lý chẳng những sẽ được thực hiện mà còn bảo đảm được thực hiện.

 

Tâu Đức Thánh Cha, chúng con cảm thấy hãnh diện là một quốc gia được thừa hưởng một gia sản Kitô giáo là cốt lõi của căn tính về lịch sử của chúng con, cho dù chúng con không phải là một quốc giáo. Cả chúng con nữa cũng đang trải qua, như tất cả phần còn lại của Âu Châu, hiện tượng duy đa văn hóa, thế nhưng điều ấy không có nghĩa là chúng con cần phải từ bỏ các niềm tin tưởng của riêng mình. Chúng con vẫn yêu chuộng một bộ luật về các thứ giá trị là những gì được nuôi dưỡng duy trì bằng Đức Tin của chúng con, chẳng hạn như giá trị cột trụ về hôn nhân và gia đình. Chúng con nhìn nhận rằng gia đình của người Malta đang trải qua những thay đổi và thách đố nhanh chóng về xã hội, những gì bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lối sống hiện tại của thế giới Tây phương, và đang gia tăng hơn bao giờ hết tình trạng trần thế hóa xã hội Malta. Thế nhưng, đa số dân chúng của chúng con vẫn tin tưởng chấp nhận sống hôn nhân một vợ một chồng, một cuộc sống hôn nhân được đặt trên mối liên hệ giữa một người nam và mợt người nữ, hướng về việc sinh sản con cái, theo đó hướng về việc hình thành một gia đình như là rường cột của quốc gia.

 

Chúng con trân quí tính chất bất vi phạm của con người và khẳng định việc chúng con hoàn toàn tôn trọng các thứ quyền lợi của con người và chấp nhận các nguyên tắc về công lý xã hội bằng việc cống hiến các cơ hội ngang nhau cho tất cả mọi người cùng bảo đảm rằng hết mọi người đều có thể được hưởng những nhu cầu căn bản của mình. Chúng con chống lại nạn buôn người và yêu chuộng tính chất thánh hảo của sự sống con người từ lúc nó được thụ thai cho tới khi nó tự nhiên qua đi. Chúng con tin tưởng vào các thứ giá trị ctự do, bình đẳng và đoàn kết, những nguyên tắc nồng cốt cho nền dân chủ cũng như cho nguyên tắc của luật pháp.

 

Nằm ngay ở tâm điểm của Địa Trung Hải, Malta được phơi bày và đang phải đối diện với gánh nặng của tình trạng di dân bất hợp pháp là tình trạng đang làm tiêu hao đi các nguồn tài chính và nhân lực của chúng con. Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn này, chúng con không bao giờ được thoái lui trước các giá trị truyền thống của mình về tình đoàn kết và lòng hiếu khách đối với những người di dân ấy trong khi họ đang ở Malta, với tất cả sự tôn trọng của chúng con đối với quyền lợi của họ và nhân phẩm của họ.

 

Chúng con nhận lấy sứ vụ của mình trong việc hoạt động cho hòa bình và thịnh vượng ở miền Địa Trung Hải của chúng con và chúng con không chấp nhận việc khuyến khích cái xung khắc giữa các nền văn hóa và chủ động phát động việc đối thoại, bao gồm cả việc đối thoại liên tôn và việc hiểu biết nhau giữa các dân tộc. Con tin rằng con đang nói thay cho đa số đồng hương của con khi con nói rằng nơi Cây Thập Giá chúng ta thấy được một biểu hiệu cho lịch sử của chúng con, cho văn hóa của chúng con, và nhất là cho Đức Tin của chúng con. Dung nhan của Chúa Giêsu khổ đau trên Thánh Giá là dung nhan của Vị Thiên Chúa đã thứ tha cho các kẻ thù của mình lúc Ngài đang hấp hối chết.

 

Đại đa số giới trẻ của chúng con, mặc dù không thoát được nhiễm lấy một số khuynh hướng tiêu cực của thế giới tân tiến này, vẫn nuôi dưỡng những giá trị tích cực và hết sức dấn thân sửa soạn bản thân mình dể trở thành những người công dân tốt của mai ngày. (đề cập tới cuộc gặp gỡ giơiù trẻ và ĐTC sắp xẩy ra).

 

Tâu Đức Thánh Cha, con cảm thấy hãnh diện khi nói rằng tất cả các điều ấy hình thành nên những gì thuộc căn tính và gia sản quốc gia của chúng con. Vị tiền nhiệm của Đức Thánh Cha là Giáo Hoàng Đáng Kính Gioan Phaolô II, trong chuyến viếng thăm Malta của ngài vào ngày 27 tháng 5 năm 1990 đã khuyên nhủ chúng con bằng lời công bố rằng:

 

“Malta được kêu gọi góp phần vào mối hiệp nhất thiêng liêng của Châu Lục cổ kính này bằng việc cống hiến các kho tàng đức tin và giá trị Kitô giáo của mình. Âu Châu cần đến cả chứng từ trung thực của Malta nữa”.

 

Đó là những gì chúng con xin hứa cới Đức Thánh Cha hôm nay, chúng con tiếp tục đề cao những thứ giá trị này và Đức Tin của chúng con là niềm tin xem ra được bắt đầu một cách ngẫu nhiên tình cờ nhưng lại là niềm tin giờ đây chúng con yêu chuộng bởi việc chúng con chọn lựa như là niềm tin vững mạnh của mình.

 

(sau đây là những lời từ biệt tiêu biểu)

 

Đã đến lúc Đức Thánh Cha rời bỏ chúng con mà đi, nhưng tinh thần của Đức Thánh Cha sẽ vẫn ở với chúng con để tiếp tục nuôi dưỡng Đức Tin của chúng con trong một thời gian dài tới đây. Tronh Sách Tông Vụ, Thánh Luca nói với chúng ta rằng đến khi Thánh Phaolô và đồng bạn của ngài rời Malta thì các cư dân “đã tỏ ra rất kính nể và cuối cùng khi chúng tôi nhổ neo, họ đã mang đến cho chúng tôi những thứ dự trữ chúng tôi cần”. Con phải nói rằng, ở trường hợp này, chính Đức Thánh Cha – vị đang lìa bỏ chúng con – đã cung cấp cho chúng con những thứ dự trữ chúng con cần, những tặng ân mà chỉ có Vị Chủ Chăn của chúng con mới có thể ban phát.

 

Các phúc lành của Đức Thánh Cha đã củng cố Đức Tin của chúng con, những cách thức dịu hiền và những lời nói từ ái của Đức Thánh Cha đã làm ấm lòng chúng con, mối quan tâm thân phụ của Đức Thánh Cha đối với giới trẻ của chúng con đã làm cho chúng mến chuộng Đức Thánh Cha, giáo huấn tác động của Đức Thánh Cha đã giúp cho tất cả chúng con hiểu được hơn nữa vẻ đẹp của Đức Ái Kitô giáo. Sự hiện diện của Đức Thánh Cha giữa chúng con và việc Đức Thánh Cha đi qua các giáo xứ của chúng con, với tư cách là Vị Đại Diện Chúa Kitô và là Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, sẽ tiếp tục làm phong phú đời sống của chúng con và hy vọng làm cho chúng con trở thành những Kitô hữu tốt hơn và là những ngườio công dân tốt hơn……….

 

Tâu Đức Thánh Cha, con cảm thấy tin tưởng rằng những người Công Giáo Malta sẽ tiếp tục công khai và hùng hồn tuyên xưng Đức Tin của mình và các thứ giá trị của Kitô giáo là đức bác ái và tình đoàn kết với tất cả nhân loại và nỗ lực chia sẻ những tặng ân này với những người khác, chẳng những ở xứ sở này mà còn ở cả ngoài bến bờ của chúng con nữa, như nhiều thừa sai Malta đang thực hiện ở nhiều xứ sở khắp thế giới.  

 

Nhờ cảm nghiệm về chuyến tông du của Đức Thánh Cha giữa chúng con, niềm hy vọng đã được tái tấu nơi chúng con và chúng con được kiên cường đối diện với tương lai một cách an toàn hơn ngay trong đời sống hằng ngày của chúng con. Như Đức Thánh Cha dạy rất hay trong thông điệp thứ hai Niềm Hy Vọng Cứu Độ của mình: “Việc cứu độ được cống hiến cho chúng ta ở chỗ chúng ta đã được ban cho niềm hy vọng, niềm hy vọng xứng đáng, nhờ đó, chúng ta có thể đối diện với hiện tại của mình: hiện tại, cho dù có gian khổ, vẫn có thể sống và chấp nhận nếu nó dẫn đến một đích điểm, nếu chúng ta có thể nắm chắc được đích điểm ấy, và nếu đích điểm này đủ để chính đáng hóa cho nỗ lực của cuộc hành trình”. Và Đức Thánh Cha giải thích cho cúng con rằng: “Việc nhận biết Thiên Chúa – vị Thiên Chúa chân thật – nghĩa là việc lãnh nhận niềm hy vọng”…………….

 


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 17-18/4/2010