Giáo Lý về Giáo Hội Cộng Đồng
ĐTC Phanxicô hướng dẫn trong các Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần từ 18/6/2014 đến
Dẫn nhập của người dịch:
Trong buổi triều kiến chung Thứ Tư 18/6/2014, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bắt đầu
loạt bài giáo lý theo chủ đề mới, chủ đề về Giáo Hội.
Khi vừa lên làm giáo hoàng, ngài đã tiếp tục loạt bài giáo lý về Đức Tin, nối
sau các bài của tiền nhiệm Biển Đức XVI trong Năm Đức Tin và cho Năm Đức Tin.
Sau đó ngài đã sang loạt bài giáo lý chủ đề về 7 Bí Tích, với 9 bài, từ ngày
9/1/2014 đến 3/4/2014, rồi đến loạt bài giáo lý về chủ đề 7 Tặng Ân Thánh Linh,
với 7 bài, từ ngày 10/4/2014 đến ngày 12/6/2014.
Thật ra loạt bài giáo lý chủ đề về Giáo Hội đã chẳng những được Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II mà còn được cả Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khai triển và giáo
huấn nữa. Mỗi vị một cách khác nhau.
Chẳng hạn ĐTC GPII khai triển và giáo huấn chủ đề về Giáo Hội (sau chủ đề về
từng Ngôi) theo Kinh Tin Kính, với 137 bài và trong thời khoảng 4 năm, từ
ngày 10/7/1991 đến ngày 30/8/1995, còn ĐTC Biển Đức XVI khai triển và huấn dụ về
chủ đề Giáo Hội có tính cách lịch sử Tông Truyền, từ thời các Thánh Tông Đồ cho
tới Nữ Tiến Sĩ đệ tam Têrêsa Hài Đồng Giêsu, với 138 bài và trong thời khoảng 5
năm, từ ngày 15/3/2006 đến ngày 13/4/2011.
Chính ĐTC Phanxicô cũng đã có một số bài nói về Giáo Hội theo Kinh Tin Kính
trong Năm Đức Tin, với 11 bài và trong thời khoảng từ ngày 29/5/2013 đến
ngày 23/10/2013, nhưng lần này ngài khai triển và huấn dụ theo một chiều kích
khác, có thể không theo chiều kích tín lý hoàn toàn cho bằng chiều kích mục vụ
và tu đức thực tiễn, như chúng ta vẫn thầy ngài thường bày tỏ trong các bài
giảng huấn hay giáo huấn hoặc sứ điệp của ngài...
Chúng ta hãy cùng nhau theo dõi và học hỏi.
ĐTC Phanxicô: Giáo Lý Giáo
Hội Cộng Đồng - Bài 14 Thứ Tư 19/11/2014
Anh Chị
Em thân mến,
Công Đồng Chung Vaticanô
II đã được một đại tặng ân đó là việc tái nhận thức nhãn quan về Giáo Hội được
xây dựng trên mối hiệp thông, cũng như phục hồi được nguyên tắc về thẩm quyền và
về phẩm trật theo
chiều hướng hiệp thông ấy. Điều
này đã giúp cho cúng ta hiểu hơn nữa là tất cả mọi Kitô hữu, bởi đã lãnh nhận
Phép Rửa, có cùng một phẩm vị trước nhan Chúa và có cùng một ơn gọi đó là ơn gọi
nên thánh (xem Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân: 39-42). Vậy chúng ta đặt vấn đề là ơn
gọi phổ quát nên Thánh bao
gồm những gì? Và làm sao chúng ta có thể đạt được nó?
Trước
hết, chúng ta cần phải ý thức rằng thánh
thiện không phải là một cái gì đó chúng ta theo đuổi cho bản thân mình; không
phải là những gì chúng ta chiếm được nhờ các phẩm tính của chúng ta và các khả
năng của chúng ta. Thánh thiện là một tặng ân, nó là một tặng ân Chúa Giêsu ban
cho chúng ta, khi Người kéo chúng ta đến với Người, lấy Bản Thân Người bao
phủ chúng ta và
làm cho chúng trở nên
giống như Người. Trong
Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô, Tông Đồ Phaolô đã khẳng định rằng "Chúa Kitô đã yêu
thương Giáo Hội và hiến Mình Người cho Giáo Hội, để Người có thể thánh hóa Giáo
Hội" (5:25-26). Đó,thánh thiện thực sự là dung
nhan tuyệt mỹ nhất của Giáo Hội: Nó là việc tái
nhận thức mình trong mối hiệp thông với Thiên Chúa, trong sự viên trọn nơi sự
sống của Ngài
cũng như nơi tình
yêu của Ngài.
Bởi
vậy người ta hiểu rằng thánh thiện không phải chỉ là một đặc ân của một số
người: thánh
thiện là tặng ân được cống hiến cho tất cả mọi người; không ai là người bị loại
trừ hết, nó là những gì cấu tạo nên đặc tính chuyên biệt của hết mọi Kitô hữu.
Tất cả những điều ấy làm
cho chúng ta hiểu rằng trở
nên thánh thiện không cần phải là Giám Mục, linh mục hay tu sĩ... Tất cả chúng
ta đều được
kêu gọi nên
Thánh! Tuy nhiên, chúng ta rất thường thiên
về ý nghĩ thánh thiện chỉ giành cho những ai có cơ hội tách mình ra khỏi các
công việc thường tình, hoàn toàn hiến mình cho đời sống cầu nguyện. Nhưng không
phải thế! Một số người nghĩ rằng thánh thiện là nhắm mắt lại và ra vẻ
mặt đạo đức... Không phải vậy! Đó không phải là thánh thiện! Thánh thiện là một
cái gì đó cao cả hơn nữa, sâu xa hơn nữa Thiên Chúa ban cho chúng ta. Thật vậy, chính
là ở chỗ sống một cách yêu thương và cống hiến chứng từ Kitô giáo trong các công
việc hằng ngày của chúng ta mà chúng ta được kêu gọi nên Thánh - mỗi người
theo điều kiện và bậc sống của mình. Anh chị em
là những người tận hiến ư? Hãy thánh thiện bằng việc hân hoan sống đời sống hy
hiến của mình và thừa tác vụ của mình. Anh chị em lập gia đình ư? Hãy thánh
thiện bằng cách yêu thương và chăm sóc cho chồng mình hay vợ mình, như Chúa
Kitô đã đối xử với Giáo Hội. Anh chị em là người lãnh nhận phép rửa không lập
gia đình ư? Hãy thánh thiện bằng cách thực hiện việc làm của mình một cách thành
tín và đảm đang cùng bỏ giờ ra phục vụ anh chị em
của mình. 'Thế nhưng, thưa cha, tôi làm việc ở trong một hãng
sản xuất... Tôi
là một kế toán viên, lúc nào cũng thấy toàn con số là con số, tôi không thể làm
thánh ở đó được...' - 'Được chứ! Anh chị em có thể nên thánh khi làm
việc ở đó.
Thiên
Chúa ban cho anh chị em ơn để nên thánh. Thiên Chúa trao đổi với anh chị em. Anh
chị em có thể nên thánh ở mọi lúc và hết mọi nơi, tức là chấp nhận ân sủng đang
hoạt động trong chúng ta và dẫn chúng ta đến chỗ thánh thiện.
Anh chị em là cha mẹ hay ông bà ư? Hãy thánh thiện bằng việc thiết tha dạy cho
con cái hay cháu chắt của anh chị em nhận biết và theo chân Chúa Giêsu. Việc này
cần
nhiều nhẫn nại, để làm một người cha tốt,
một người ông
tốt, một người mẹ tốt, một người bà tốt, cần
nhiều nhẫn nại, và sự nhẫn nại này là sự thánh thiện sống nhẫn
nại. Anh chị
em là giáo lý viên, là giáo dục viên hay tình nguyện viên ư? Hãy nên Thánh bằng
việc trở thành một dấu hiệu hữu hình cho tình yêu của Thiên Chúa cũng như cho sự
hiện diện của Ngài bên chúng ta. Hết mọi bậc sống bao giờ cũng đều
dẫn tới thánh thiện là thế! Ở
nhà, ngoài đường, trong sở, tại nhà thờ, trong lúc nào đó và tùy bậc sống của
mình đều hướng đến thánh
thiện. Đừng
nản lòng trong cuộc hành trình trên con đường này. Thiên Chúa ban cho anh chị
em ân sủng để làm điều ấy. Và đó là tất cả những gì Chúa đòi hỏi, ở chỗ chúng
ta hiệp thông với Ngài và phục vụ người khác. Nếu được sống
hiệp thông với Chúa và phục vụ người khác.
Đến đây, mỗi một người
chúng ta có thể khảo sát lương tâm mình, chúng ta có thể làm như thế bây
giờ đây, hết mọi người trong lòng trả lời cho mình cách âm thầm xem: Cho đến
nay cho ta đã đáp lại ơn Thiên Chúa gọi nên thánh ra sao? Thế
tôi có muốn cải tiến để trở thành một Kitô hữu tốt lành hơn chăng? Đó
là con đường dẫn đến thánh thiện. Khi Chúa gọi chúng ta nên thánh là Ngài không
gọi chúng ta làm một cái gì đó khó khăn hay buồn phiền... Không phải một tí nào
hết! Nó là một mời gọi tham phần vào niềm vui của Ngài, hân hoan sống động và
cống hiến hết mọi giây phút của cuộc đời
mình, đồng
thời biến nó thành một tặng ân yêu thương cho tha nhân quanh chúng ta. Nếu chúng
ta hiểu được điều này thì hết mọi sự sẽ đổi thay và mang một ý nghĩa mới, một ý
nghĩa mỹ miều, bắt đầu bằng những điều nhỏ mọn hằng ngày. Một thí dụ như thế
này. Có một người đàn bà đi chợ mua đồ và gặp một người hàng xóm khác, rồi
bắt đầu nói chuyện, sau đó xì xèo chuyện người khác, thì người đàn bà ấy liền
nói: 'Không, không, không tôi không muốn xì xèo về chuyện của người khác'. Đó là
một cố gắng sống thánh thiện, điều ấy giúp anh chị em nên thánh hơn. Rồi ở
nhà, đứa con trai của anh chị em xin anh chị em nói cho nó nghe về những truyện
thần tiên của nó: 'Ồ, tôi mệt quá, hôm nay tôi làm
việc quá
vất vả...' - 'Thế nhưng, anh chị em ngồi xuống lắng nghe đứa con trai của anh
chị em, cháu cần điều ấy'. Và anh chị em ngồi xuống, anh chị em lắng nghe một
cách nhẫn nại... Đó là một cố gắng sống thánh thiện. Thế rồi kết thúc ngày sống,
tất cả chúng ta đều mệt, nhưng vẫn cầu
nguyện... Chúng ta cần phải cầu nguyện! Đó là một cách nên thánh. Đến Chúa Nhật,
anh chị em đi Lễ và Hiệp Lễ, có những lúc, thực hiện việc xưng tội một cách tốt
đẹp để giúp cho chúng ta nên sạch sẽ hơn một chút. Đó là một cố gắng nên thánh.
Rồi Đức Mẹ là Đấng rất tốt lành, rất mỹ lệ, tôi cầm Tràng Hạt lên cầu kinh. Đó
là một cố gắng nên thánh. Và rất nhiều cố gắng nên thánh, những cố gắng nho
nhỏ... Rồi tôi ra đường, thấy một người nghèo, một người nào đó thiếu thốn, tôi
hỏi họ, tặng cho họ một điều gì đó, một cố gắng khác nữa để nên thánh. Những
điều nhỏ là các nỗ lực nho nhỏ nên thánh. Hết
mọi nỗ lực nên thánh làm cho chúng ta trở thành người tốt hơn, thoát khỏi tính
vị kỷ và khép kín bản thân mình, hướng chúng ta tới những người anh chị em của
chúng ta và tới các nhu cầu của họ.
Các bạn thân mến, trong Bức Thư Thứ Nhất của Thánh Phaolô, đây là lời huấn dụ được ngỏ cùng chúng ta: 'Vì mỗi người đều đã lãnh nhận được một tặng ân, hãy sử dụng nó cho nhau, như là những quản lý viên tốt lành của ân sủng đa dạng Thiên Chúa ban, ở chỗ, ai nói năng thì hãy nói như người nói lời của Thiên Chúa, ai phục vụ thì như người thực hiện bằng sức mạnh Chúa ban, để trong hết mọi sự Thiên Chúa được hiển vinh nơi Chúa Giêsu Kitô" (4:10-11). Hãy lưu ý tới lời mời gọi nên thánh! Chúng ta hãy hân hoan nhận lãnh lời mời gọi này, và hỗ trợ nhau, vì con đường nên thánh không phải là một cuộc hành trình lẻ loi một mình, mỗi người tự mình tiến bước, mà là cùng nhau hành trình, trong cùng một Thân Mình duy nhất là Giáo Hội, được Chúa Giêsu yêu thương và thánh hóa.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch
(kèm theo nhan đề tự đặt và các chỗ nhấn mạnh tự ý)
http://www.zenit.org/en/
"Các vị thừa tác viên của Giáo Hội cần những
gì để các vị có thể sống việc phục vụ của mình một cách chân thực và trung thành?"
Trong bài giáo lý trước chúng ta đã thấy được cách thức để Chúa
có thể tiếp tục chăn nuôi đàn chiên của Người qua thừa tác vụ của các Giám Mục,
linh mục và phó tế. Chính
nơi các vị mà Chúa Giêsu đích thân hiện diện, bằng quyền năng Thần Linh
của Người, và tiếp tục phục vụ Giáo Hội, nuôi dưỡng đức tin, đức cậy và chứng từ đức mến của Giáo Hội. Bởi
thế, những thừa tác vụ này là một đại tặng ân của Chúa ban cho hết mọi cộng đồng
Kitô hữu cũng như cho toàn thể Giáo Hội, vì chúng là dấu hiệu hiện diện
sống động của Người và tình yêu thương của Người.
Hôm nay, chúng ta cần phải tự hỏi các
vị thừa tác viên của Giáo Hội cần những gì để các vị có thể sống việc phục vụ
của mình một cách chân thực và trung thành?
Trong "Các Bức Thư Mục Vụ" của mình gửi cho các người môn đệ
Timothêu và Titô, Tông Đồ Phaolô đã cẩn thận chia sẻ về hình ảnh của các Giám
Mục, linh mục và phó tế. Có cả hình ảnh về tín hữu, về giới già, về giới trẻ.
Ngài lưu ý tới việc diễn tả về hết mọi Kitô hữu trong Giáo Hội. Đối với các Giám
Mục, linh mục và phó tế ngài nhấn mạnh đến những gì các vị được kêu gọi cùng với
những đặc quyền đặc nhiệm ở nơi các vị, thành phần được chọn cho những thừa tác
vụ ấy. Vậy, tiêu biểu được nêu lên, cùng với các tặng ân vốn có nơi đức tin cũng
như nơi chính đời sống thiêng liêng, đó là một
số phẩm tính nhân bản tốt đẹp không thể coi thường đã được liệt kê đó là hiếu
khách, nhã nhặn, nhẫn nại, hiền lành, khả tín và tốt bụng.
Tôi xin lập lại nhé: hiếu khách, nhã nhặn, nhẫn nại, hiền lành, khả tín và tốt
bụng. Đó
là bản mẫu tự, là văn phạm căn bản của hết mọi thừa tác vụ! Nó cần phải là thứ văn phạm căn bản của hết mọi Giám Mục, hết mọi
linh mục và hết mọi phó tế! Đúng thế, vì nếu thiếu mất điều kiện tiên quyết tốt
lành và chân thực này để gặp gỡ, nhận biết, đối thoại, cảm nhận và liên hệ với
những người anh em một cách trân trọng và chân thành thì không thể nào có được
một thứ phục vụ và chứng từ thật sự hân hoan và khả tín.
Bởi thế, có một thái độ được Thánh Phaolô khuyên dụ các môn đệ của
mình, theo đó cũng cho tất cả những ai dấn thân cho thừa tác mục vụ như Giám
Mục, linh mục hay phó tế. Vị Tông Đồ này huấn dụ rằng hãy
liên tục làm tái sinh động tặng ân đã nhận lãnh (cf. 1 Timothy 4:14;
2 Timothy 1:6). Điều này có nghĩa là việc nhận thức ấy cần phải luôn tồn tại ở
chỗ mình không phải là Giám Mục, linh mục hay phó tế vì mình thông minh hơn, tốt
lành hơn hay khá hơn người khác mà chỉ vì đó là một tặng ân của
tình yêu thương, một tặng ân được Thiên Chúa ban cho nhưng không bằng quyền năng
của Thần Linh Ngài cho thiện ích của dân Ngài.
Nhận thức này thật là quan trọng và là một ân huệ cần cầu xin hằng ngày! Thật thế, vị Mục Tử
nào nhận thức thừa tác vụ của mình chỉ xuất phát từ tình thương và cõi lòng của
Thiên Chúa sẽ không bao giờ tỏ thái độ uy quyền, như thể hết mọi người đều ở
dưới chân mình và cộng đồng là tài sản của mình, là vương quốc tư riêng của mình.
Ý thức mọi sự đều là hồng ân, mọi sự đều là ân sủng, cũng giúp
cho vị Mục Tử không chiều theo khuynh hướng quan trọng hóa bản thân mình và chỉ
tin tưởng vào mình mà thôi.
Chúng là các khuynh hướng hoang tưởng, kiêu kỳ, tự mãn, ngạo mạn. Khốn
cho vị Giám Mục nào, linh mục nào hay phó tế nào nghĩ rằng mình biết hết mọi sự,
mình bao giờ cũng giải quyết được mọi sự và chẳng cần đến ai.
Ngược lại, ý thức rằng mình là đối tượng đầu tiên nơi tình thương và lòng cảm
thương của Thiên Chúa phải là những gì giúp cho vị thừa tác viên của Giáo Hội
luôn khiêm tốn và cảm thông khi đối xử với người khác. Cũng thế, bằng việc ý
thức mình được kêu gọi để can đảm bảo vệ kho tàng đức tin (xem 1Timothêu 6:20),
vị thừa tác viên biết lắng nghe dân chúng. Thật vậy, vị thừa tác viên nhận thức
rằng mình luôn có một cái gì đó để học hỏi, cũng như nhận thức về những ai có
thể vẫn còn xa đức tin và xa Giáo Hội. Với những người anh em Giám Mục của mình,
với các linh mục và phó tế, tất cả đều phải dẫn ngài đến chỗ có được một thái độ
mới được thể hiện bằng việc chia sẻ, đồng nhiệm và hiệp thông.
Các bạn thân mến, chúng ta luôn phải nhớ ơn Chúa, vì nơi bản thân
và thừa tác vụ của các vị Giám Mục, linh mục và phó tế, Ngài tiếp tục hướng dẫn
và hình thành Giáo Hội của Người, làm cho Giáo Hội tăng trưởng trên con đường
nên thánh. Chúng
ta đồng thời cũng cần phải tiếp tục cầu nguyện để các vị Mục Tử của những
cộng đồng chúng ta có thể trở thành hình ảnh sống động của mối hiệp thông và
tình yêu Thiên Chúa.
http://www.zenit.org/en/articles/full-text-of-pope-s-general-audience-catechesis-nov-12th
"Nơi sự hiện diện và thừa tác vụ của các vị Giám
Mục, Giáo sĩ và Phó tế, chúng ta có thể nhận thấy chân dung của Giáo Hội: đó là
một Mẹ Thánh Giáo Hội Phẩm Hàm"
Chào Anh Chị Em thân mến buổi sáng,
Trong bài
giáo lý trước, chúng ta đã chú ý tới cách thức Thánh Linh luôn làm cho Giáo Hội
tràn đầy các tặng ân của Ngài. Bởi thế, nhờ
quyền năng và ân sủng của Thần Linh mình, Chúa Kitô không thôi tiếp nối các thừa
tác vụ để xây dựng những cộng đồng Kitô hữu như là Thân Mình của Người. Nổi bật
nhất trong các thừa tác vụ này đó là thừa tác vụ giáo phẩm. Nơi vị
Giám Mục, được hỗ trợ bởi hàng Giáo Sĩ và Phó Tế, là chính Chúa Kitô, Đấng hiện
diện và là Đấng tiếp tục chăm sóc Giáo Hội của mình, bảo vệ và hướng dẫn Giáo
Hội.
Nơi sự hiện diện và thừa tác vụ của các vị Giám Mục, Giáo sĩ và Phó tế, chúng ta
có thể nhận thấy chân dung của Giáo Hội: đó là một Mẹ Thánh Giáo Hội Phẩm Hàm (the
Hierarchical Holy Mother Church). Thật vậy, qua những người anh em được Chúa
chọn này và là những người được thánh hiến bằng Bí Tích Truyền Chức Thánh, Giáo
Hội thực thi vai trò làm mẹ của mình ở chỗ hạ sinh chúng ta thành Kitô hữu nơi
Phép Rửa, giúp chúng ta tái sinh trong Chúa Kitô; Giáo Hội chăm lo cho việc tăng
trưởng đức tin của chúng ta; Giáo Hội nâng đỡ chúng ta trong cánh tay của
Chúa để chúng ta nhận được ơn tha thứ của Ngài; Giáo Hội sửa soạn cho chúng
ta để chúng ta tiến đến với bàn tiệc Thánh Thể, nhờ đó Giáo Hội nuôi chúng ta
bằng lời Chúa và Mình Máu Chúa Giêsu; Giáo Hội xin Thiên Chúa ban phúc lành cho
chúng ta và sức mạnh của Thần Linh Ngài, bảo trì chúng ta suốt cuộc đời của
chúng ta và bao bọc chúng ta bằng niềm êm ái nồng nàn của Ngài, nhất là trong
những lúc khó khăn nhất của cơn thử thách, khổ đau và chết chóc.
Vai trò làm mẹ này của Giáo Hội được thể hiện đặc biệt nơi bản thân của vị Giám
Mục và thừa tác vụ của ngài. Thật vậy, như Chúa
Giêsu đã chọn các Tông Đồ và sai các vị đi loan báo Phúc Âm cùng nuôi dưỡng đàn
chiên của Người thế nào thì vị Giám Mục cũng thế, thành phần thừa kế các
tông đồ, cũng được đặt làm đầu của các cộng đồng Kitô hữu, như một bảo đảm viên
cho đức tin của họ và như dấu hiệu sống động về sự hiện diện của Chúa giữa chúng
ta.
Bởi thế
chúng ta cần phải hiểu rằng nó không phải là vấn đề có được một vị thế danh giá,
một trách nhiệm vinh dự. Giám
mục không phải là một vai trò vẻ vang. Mà là việc phục vụ! Chúa Giêsu muốn nó
như thế. Tâm thức thế tục không được có chỗ đứng trong Giáo Hội.Tâm
thức thế tục cho thấy một con người có được "một nghề nghiệp giáo hội và làm
giáo mục". Không được có một tâm thức như thế trong Giáo Hội. Hàng Giáo Phẩm là
một việc phục vụ, nó không phải là một vị thế danh dự để huyênh hoang. Là
giám mục nghĩa là luôn thấy trước mặt của mình tấm gương của Chúa Giêsu, Đấng là
mục tử nhân lành, đến để phục vụ chứ không phải để được hầu hạ (xem
mathêu 20:28; Marco 10:45) và
hiến mạng sống mình cho chiên (xem
Gioan 10:11). Các vị giám mục thánh - và có nhiều vị giám mục thánh trong lịch
sử Giáo Hội - cho chúng ta thấy rằng thừa tác vụ này không phải là những gì tìm
kiếm được, những gì đòi hỏi mà có, những gì tạo mãi được, mà là những gì được
nhận lãnh bằng đức tuân phục, không phải do tự nâng mình lên mà là hạ mình
xuống, như Chúa Giêsu "đã tự hạ và vầng lời cho đến chết cho dù có chết trên
thập tự giá' (Philiphe 2:8). Thật
là buồn khi chúng ta thấy một người tìm kiếm vai trò này và làm đủ thứ để đoạt
lấy, và khi chiếm được rồi thì chẳng phục vụ gì, trái lại đi vòng vòng như một
con công và chỉ sống cho cái hoang tưởng của mình.
Một yếu
tố quí báu khác nữa đáng được chú ý tới. Khi Chúa Giêsu chọn và gọi các Tông Đồ,
Người đã nghĩ về các vị gắn liền với nhau, chứ không phải riêng từng vị, mà là
cùng nhau, nhờ đó các vị ở với Người, liên kết với nhau như một gia đình duy
nhất, các vị giám mục cũng làm nên một Đoàn duy nhất, qui tụ quanh Giáo Hoàng,
vị là bảo quản viên và là bảo đảm viên của mối hiệp thông nền tảng này, một mối
hiệp thông Chúa Giêsu và các Tông Đồ của Người đã hết sức mong muốn. Thế nên,
tuyệt vời biết bao khi các vị Giám mục, với Giáo Hoàng, thể hiện đoàn tính này!
Và cố gắng trở nên tôi tớ của tín hữu mỗi ngày một hơn, tôi tớ của Giáo Hội!
Chúng ta đã cảm thấy điều ấy vừa mới đây nơi Thượng Nghị Giám Mục về Gia Đình.
Tuy nhiên, chúng ta nghĩ về tất cả các vị giám mục ở tản mát khắp nơi trên thế
giới này, các vị, mặc dù sống ở các địa phương khác nhau, khác văn hóa, khác cảm
thức và khác truyền thống. Có một vị giám mục ngày nọ nói với tôi rằng để đến
Rôma ngài phải mất 30 tiếng đồng hồ - cách xa nhau, cảm thấy mình thuộc về nhau
và trở thành biểu hiện của mối liên kết sâu xa trong Chúa Kitô giữa các
cộng đồng của các vị. Vàtrong lời cầu chung của
Hội Thánh, tất cả các vị Giám Mục cùng nhau lắng nghe Chúa và Thần Linh, nhờ đó
có thể sâu xa chú trọng tới con người cũng như tới các dấu chỉ thời đại(xem
Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, 4).
Các bạn
thân mến, tất cả những sự ấy làm cho chúng ta hiểu được lý do tại sao các
cộng đồng Kitô hữu nhìn nhận nơi vị Giám Mục một đại tặng ân, và các vị được kêu
gọi để nuôi dưỡng mối hiệp thông chân thành và sâu xa với ngài, bắt đầu là các
Giáo Sĩ và Phó tế.Giáo Hội không lành mạnh nếu
giáo dân, linh mục, phó tế không hiệp nhất chung quanh vị Giám Mục của mình.
Giáo Hội mà không hiệp nhất chung quanh vị Giám Mục của mình là một Giáo Hội
bệnh hoạn. Chúa Giêsu muốn mối hiệp thông này, mối hiệp nhất của tất
cả tín hữu với Giám Mục, với cả các vị giáo sĩ và phó tế nữa. Với nhận thức rằng
chính ở nơi vị Giám Mục mà mối liên hệ này trở thành hữu hình trong mỗi Giáo Hội
với các tông Đồ và với tất cả mọi cộng đồng khác, liên kết với các vị Giám Mục
của các Giáo Hội ấy và với Giáo Hội trong một Giáo Hội duy nhất của Chúa Giêsu,
một Mẹ Giáo Hội Giáo Phẩm của chúng ta.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ cố ý
nhấn mạnh riêng) theo
http://www.zenit.org/en/articles/full-text-of-pope-s-general-audience-catechesis-nov-5th
"Nếu là Một Giáo Hội duy nhất thì
chúng ta hiểu thế nào về mối liên hệ giữa thực tại hữu hình và thiêng liêng của
Giáo Hội?"
Trong bài giáo lý trước, chúng ta đã nhấn mạnh đến vấn đề tự bản
chất Giáo Hội là những gì thiêng liêng ra sao, ở chỗ Giáo Hội là Thân Mình của
Chúa Kitô, được xây dựng trong Thánh Thần. Tuy nhiên, khi chúng ta nói đến Giáo
Hội thì chúng ta nghĩ ngay đến các cộng đồng của chúng ta, các giáo xứ của chúng
ta, giáo phận của chúng ta, đến các cơ cấu tổ chức chúng ta thường cùng nhau qui
tụ lại, và dĩ nhiên về cả yếu tố cũng như những nhân vật hướng dẫn cùng quản trị
nó. Đó là thực tại hữu hình của Giáo Hội. Vậy chúng ta cần phải đặt vấn đề là:
Phải chăng chúng là hai điều khác nhau hay chỉ là Một Giáo Hội duy nhất? Mà nếu
là Một Giáo Hội duy nhất thì chúng ta hiểu thế nào về mối liên hệ giữa thực tại
hữu hình và thiêng liêng của Giáo Hội?
1- Trước hết, khi chúng ta nói về thực tại hữu hình của Giáo Hội là
chúng ta đã nói đến vấn đề có cả hai rồi - thực tại hữu hình mà chúng ta thấy và
thực tại thiêng liêng - chúng ta không được chỉ nghĩ về Giáo Hoàng, các vị Giám
Mục, các linh mục và những người sống đời tận hiến tu trì. Thực
tại hữu hình của Giáo Hội được làm nên bởi nhiều anh chị em đã lãnh nhận phép
rửa trên khắp thế giới là những ai tin cậy mến. (Tới đây ĐTC bắt đầu nói buông như sau: Chúng
ta thường nghe dân chúng nói rằng: 'Giáo Hội không làm điều này... Giáo Hội
không làm điều kia!' 'Hãy cho tôi biết Giáo Hội là ai?' - 'Ồ Giáo Hội là các vị
linh mục, các vị giám mục, là Giáo Hoàng...' Tất
cả chúng ta đều là Giáo Hội! Tất cả chúng ta, tất cả chúng ta đã lãnh nhận Phép
Rửa! Chúng ta là Giáo Hội, Giáo Hội của Chúa Giêsu').
Tất cả những ai theo Chúa Giêsu, và nhân danh Người, sống gần gũi với người
nghèo nàn và những ai đau khổ, cố gắng cống hiến cho họ những gì là nhẹ nhõm, ủi
an và bình yên. (Ngài lại nói buông: Tất
cả những ai làm các điều ấy, những gì Chúa sai chúng ta đi làm, đều là Giáo
Hội). Thế
nên chúng ta biết rằng không thể nào đo lường được thực tại hữu hình của Giáo
Hội, không thể nào biết được tất cả tầm vóc viên trọn của Giáo Hội:
làm thế nào để người ta biết được tất cả những gì là thiện hảo thực hiện? (Ngài
nói buông tiếp: Rất nhiều tác
động yêu thương, rất nhiều sự trung thành trong các gia đình, rất nhiều công
việc giáo dục con cái, trong việc thực hiện đức tin, truyền đạt đức tin, rất
nhiều khổ đau nơi bệnh nhân là những người hiến dâng nỗi khổ đau của mình cho
Chúa. Chúng ta không thể nào đo lường được hết các điều ấy! Nó rất ư là nhiều,
rất ư là nhiều!) Làm sao chúng ta có thể biết được tất cả những điều kỳ diệu mà
qua chúng ta, Chúa Kitô có thể tác động nơi tâm hồn và đời sống của mỗi người?
Anh chị em thấy đó: thực
tại hữu hình của Giáo Hội vượt lên trên tầm kiểm soát của chúng ta, vượt ra
ngoài sức lực của chúng ta, và nó là một thực tại huyền nhiệm, bởi nó xuất phát
từ Thiên Chúa.
2- Để hiểu được mối liên hệ này trong Giáo Hội giữa thực tại hữu hình và thiêng liêng của Giáo Hội, không còn cách nào khác ngoài việc nhìn lên Chúa Kitô, Đấng có Thân Mình là Giáo Hội và từ Thân Mình này Giáo Hội được xuất phát, bằng một tác động vô cùng yêu thương. Thật vậy, thậm chí nơi cả Chúa Kitô, nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta thấy được một bản tính loài người và một bản tính thần linh, được liên hợp nơi cùng một ngôi vị một cách tuyệt diệu và bất khả phân ly. Giáo Hội cũng thế. Như nơi Chúa Kitô, nhân tính phục vụ thần tính để hoàn thành Ơn Cứu Độ thế nào thì tương tự như vậy thực tại hữu hình cũng phục vụ thực tại linh thiêng của Giáo Hội như vậy. Bởi thế, Giáo Hội cũng là một mầu nhiệm, một mầu nhiệm mà những gì không thấy được còn quan trọng hơn cả những gì được thấy, và chỉ có thể nhận biết bằng con mắt đức tin thôi (cf. Const. Dogmatic Constitution. On the Church Lumen Gentium, 8).
3- Tuy nhiên, nơi trường hợp của Giáo Hội, chúng ta cần phải tự vấn rằng: Làm
thế nào thực tại hữu hình có thể phục vụ thực tại linh thiêng chứ? Một lần nữa,
chúng ta có thể hiểu vấn đề này bằng cách nhìn lên Chúa Kitô. (Đến đây ĐTC
lại một lần nữa nói buông: Thế
nhưng Chúa Kitô là mô phạm và Giáo Hội là Thân Mình của Người mà Người là mô
phạm cho tất cả Kitô hữu, cho tất cả chúng ta! Nhìn
lên Chúa Kitô anh chị em không thể nào sai lạc được!).
Phúc Âm theo Thánh Luca nói cho chúng ta biết Chúa Giêsu xuất thân từ Nazarét ra
sao, nơi Người lớn lên, Người đã đi vào hội đường và đọc đoạn sách của tiên tri
Isaia ám chỉ về Người rằng: "Thần Chúa ở trên tôi, vì Ngài đã xức dầu cho tôi để
tôi mang tin mừng cho người nghèo khó. Ngài đã sai tôi đi loan báo tự do cho kẻ
bị cầm tù và phục quang cho kẻ đui mù, giải thoát kẻ bị áp bức" (4:18-19). Đó,
cách Chúa Giêsu đã sử dụng nhân tính của Người - vì Người cũng là một con người
- trong việc loan báo và thi hành dự án Cứu Chuộc và Cứu Độ, vì thế Giáo Hội
cũng vậy. Nhờ
thực tại hữu hình của mình -
hết mọi sự chúng ta nhìn thấy - Các Bí Tích và chứng từ của tất cả mọi Kitô hữu
chúng ta -mà hằng
ngày Giáo Hội được kêu gọi tiến đến gần với hết mọi người, trước tiên là người
nghèo, những ai đang chịu khổ đau và những ai đang sống bên lề xã hội, để tiếp
tục giúp cho tất cả mọi người cảm thấy ánh mắt thương cảm và nhân hậu của Chúa
Giêsu.
Anh chị em thân mến, như là Giáo Hội chúng ta thường cảm thấy nỗi yếu hèn của
chúng ta và những hạn hữu của chúng ta, tất cả chúng ta, tất cả chúng ta đều có
những thứ ấy. Tất
cả chúng ta đều là tội nhân, không ai có thể nói tôi không phải là một con
người tội lỗi. Tình
trạng yếu hèn này, những gì hạn hữu ấy, các tội lỗi của chúng ta đây cần phải
gợi lên trong chúng ta cái cảm giác hết sức trăn trở, nhất là khi chúng ta gây
ra gương mù và chúng ta thấy mình trở thành cội nguồn bê bối. Chúng ta đã thường
nghe thấy ở hàng xóm làng giềng của chúng ta nói rằng: "Con
người ấy lúc nào cũng đi nhà thờ nhà thánh mà lại rỉ tai nhảm nhí về hết mọi
người, phê bình chỉ trích người này người kia - quả thật là một gương mù! Đó
không phải là Kitô hữu! Đó là một gương mù gương xấu. Thế nên người ta mới nói:
'Nếu
người này là Kitô hữu, thì tôi thà là một kẻ vô thần!
Bởi dân chúng căn cứ vào chứng từ của chúng ta".
Vậy chúng ta hãy xin tặng ân đức tin, để chúng ta có thể hiểu làm
thế nào mà, bất chấp thân phận nhỏ mọn của chúng ta và tình trạng bần cùng của
chúng ta, Chúa cũng thực sự làm cho chúng ta trở thành phương tiện của ân sủng
và là một dấu hiệu hữu hình của tình Người yêu thương toàn thể nhân loại. Phải,
chúng ta có thể trở thành nguồn mạch bê bối nhưng chúng ta cũng có thể trở thành
nguồn mạch của niềm hy vọng bằng đời sống chứng nhân của chúng ta như ý muốn của
Chúa Giêsu! Xin cám ơn anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (nhan đề và những chi
tiết nghiêng mầu do tự ý) từ
http://www.zenit.org/en/articles/full-text-of-pope-s-general-audience-catechesis-oct-29
Xin xem tiếp Video Clip về buổi triều kiến chung hôm nay ở cái link
dưới đây:
"Giáo Hội hình thành thân mình theo ý nghĩa nào?
Và tại sao Giáo Hội được định
nghĩa là 'thân mình của Chúa Kitô?'
ĐTC Phanxicô - Giáo Lý Giáo Hội Cộng Đồng -
Bài 10, Thứ Tư 22/10/2014
Anh chị em thân mến, xin chào anh chị em buổi sáng.
Hình ảnh về thân mình được sử dụng khi người ta muốn cho thấy làm thế nào các yếu tố làm nên một thực tại liên kết với nhau và cùng nhau hình thành nên một sự vật duy nhất. Bắt đầu từ Thánh Phaolô, việc diễn tả này đã được áp dụng vào Giáo Hội và được công nhận là một đặc tính chuyên biệt sâu xa và tuyệt vời nhất của ngài. Hôm nay, chúng ta cần phải đặt vấn đề là Giáo Hội hình thành thân mình theo ý nghĩa nào? Và tại sao Giáo Hội được định nghĩa là "thân mình của Chúa Kitô?"
Trong Sách Tiên Tri Êzêkiên có một thị kiến lạ kỳ được trình bày một cách ấn tượng nhưng có thể khiến cho lòng chúng ta tin tưởng và hy vọng. Thiên Chúa cho vị tiên tri này thấy một thung lũng xương rời rạc và khô cứng. Một cảnh tượng hoang tàn. Hãy tưởng tượng mà xem một ngọn đồi toàn là xương với xương. Thế rồi Thiên Chúa bảo vị tiên tri hãy kêu cầu Thần Linh xuống trên đám xương ấy. Bấy giờ các khúc xương mới bắt đầu xích lại mà liên kết, trước hết xuất hiện các giây thần kinh nơi chúng rồi đến thịt, nhờ đó làm nên một thân mình, hoàn toàn và đầy sự sống (37:1-14). Đó là Giáo Hội! Tôi khuyên anh chị em là hôm nay về nhà hãy đọc Sách Tiên Tri Êzêkiên đoạn 27. Đừng quên nhé! Tuyệt vời lắm. Đó là một tuyệt phẩm, một tuyệt phẩm do Thần Linh thực hiện, một tuyệt phẩm được nhận lãnh sự sống mới của Đấng Phục Sinh và được đặt ở gần với nhau, cái này phục vụ và nâng đỡ cái kia, nhờ đó làm cho tất cả chúng ta trở thành một thân mình duy nhất, được cấu tạo trong hiệp thông và yêu thương.
Tuy nhiên, Giáo Hội không phải chỉ là một thân mình được cấu tạo trong Thần Linh mà Giáo Hội là thân mình của Chúa Kitô! Đó không phải chỉ là một cách nói về vấn đề chúng ta thực sự là thế! Đó là một đại tặng ân chúng ta nhận được vào ngày chúng ta lãnh nhận Phép Rửa! Thật vậy, nơi Bí Tích Rửa Tội, Chúa Kitô làm cho chúng ta thành của Người, đón nhận chúng ta vào tâm điểm của mầu nhiệm Thánh Giá, mầu nhiệm tối hậu của tình Người yêu thương chúng ta, giúp chúng ta sống lại với Người như là các tạo vật mới. Đó, đó là cách Giáo Hội được hạ sinh ra sao, cách Giáo Hội được công nhận là thân mình của Chúa Kitô. Phép Rửa cấu tạo nên một cuộc tái sinh thực sự, một cuộc tái sinh chúng ta trong Chúa Kitô, khiến chúng ta thuộc về Người, và chặt chẽ liên kết chúng ta với nhau như là các phần thể thuộc về cùng một thân mình mà Người là đầu (xem Roma 12:5; 1Corinto 12:12-13).
Bởi vậy cái hiện lên đó là một mối hiệp thông yêu thương sâu xa. Thật là khéo léo biết bao khi Thánh Phaolô trong việc huấn dụ các người chồng "hãy yêu thương vợ của mình như bản thân mình", đã nói: "Như Chúa Kitô cũng đã yêu thương Giáo Hội, vì chúng ta đều là chi thể của thân mình Người" (Epheso 5:28-30). Thật là tuyệt vời khi chúng ta thường hay nhớ tưởng hơn nữa về thân phận chúng ta là gì, Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta nên gì: chúng ta là Thân Mình của Người, một Thân Mình không gì và không ai có thể tách ly chúng ta được và Người bao bọc tất cả chúng ta một cách say mê và thương yêu, như chồng đối với vợ mình vậy. Tuy nhiên, ý nghĩ này cần phải làm phát sinh trong chúng ta ước vọng muốn đáp ứng Chúa và muốn chia sẻ tình yêu của Người giữa chúng ta với nhau như là các phần thể sống động của thân mình Người. Vào thời của Thánh Phaolô, cộng đồng Corinto đã gặp nhiều khó khăn theo chiều hướng, như chúng ta cũng thường, trải qua kinh nghiệm chia rẽ, ghen tương, hiểu lầm và tẩy chay loại trừ.
Tất cả những điều ấy đều không tốt, ở chỗ thay vì xây dựng và làm cho Giáo Hội tăng trưởng như là thân mình của Chúa Kitô thì nó lại xé lẻ nó ra thành nhiều mảnh, lại phân thể nó ra.
Điều này thậm chi xẩy ra cả ở trong thời đại của chúng
ta nữa. Hãy nghĩ đến các cộng đoàn Kitô giáo, các giáo xứ, hãy nghĩ đến hàng
xóm láng giềng của chúng ta. Biết bao nhiêu là chia rẽ, biết bao nhiêu là
ghen tương, nói ở đằng sau lưng nhau, biết bao nhiêu là những hiểu
lầm và tẩy chay!
Điều ấy gây ra những gì? Nó phân thể chúng ta! Nó là khởi điểm của chiến tranh. Chiến tranh không bắt đầu ở ngoài mặt trận. Các thứ chiến tranh bắt đầu ở ngay tâm điểm của những hiểu lầm, chia rẽ, ghen tương đối chọi nhau ấy. Cộng đồng Corinto này là như thế đó. Họ là những tay chuyên gia!
Bởi thế mà Vị Tông Đồ đã cống hiến cho tín hữu Corinto một số lời khuyên cụ thể được áp dụng cho chúng ta, đó là đừng ghen tương, nhưng hãy cảm nhận trong các cộng đồng của mình những tặng ân và phẩm tính nơi anh chị em của chúng ta.
Ghen tương... Tôi nhìn thấy người ta mua một cái
xe hơi mới khiến tôi bắt đầu cảm thấy ghen tương. Thấy người ta trúng vé số
lại ghen tương. Thấy người này làm được điều hay cũng ghen tương. Đó là
những gì phân thể gây đớn đau cho chúng ta! Anh chị em không được như thế!
Vì các thứ ghen tương gia tăng đầy trong cõi lòng. Một
con tim ghen tương là một con tim cay cực, một con tim đầy dấm chua thay vì
máu me. Đó là một con tim không bao giờ hạnh phúc. Một con tim
phân thể cộng đồng.
Thế nhưng chúng ta cần phải làm gì đây? Hãy cảm
nhận được trong cộng đồng của mình những tặng ân, các phẩm tính của người
khác, của những người anh
chị em chúng ta. Thế nhưng khi chúng
ta ghen tương, vì ghen tương xẩy ra cho mọi người, mà
tất cả chúng ta đều là tội nhân. Khi anh chị em cảm thấy mình ghen
tương hãy thưa: "Tạ ơn Chúa vì Chúa đã ban điều này cho người ấy".
Hãy cảm nhận các phẩm tính; hãy kề cận và dự phần
vào những nỗi đớn đau của những ai hèn mọn nhất cũng như của những ai thiếu
thốn nhất; hãy tỏ ra biết ơn tất cả mọi người.
Hãy nói cám ơn! Con tim biết nói cám ơn là một con
tim tốt lành, một con tim cao quí, một con tim hạnh phúc. Hãy biết nói
cám ơn. Tôi muốn hỏi là tất cả chúng ta có luôn nói cám ơn hay chăng? Không
phải lúc nào cũng thế phải không! Vì ghen tương đố kỵ...
ngăn cản chúng ta một chút đấy.
Sau hết, đây là một lời khuyên nhủ được Tông Đồ Phaolô nhắn gửi tín hữu Corinto mà chính chúng ta phải theo, đó là đừng coi bất cứ ai vượt trên người khác.
Biết bao nhiêu là người coi mình ngon hơn kẻ khác! Ngay cả chúng ta nhiều lần đã nói như người Pharisiêu trong dụ ngôn: "Tạ ơn Chúa vì tôi không phải như tên kia, tôi ngon lành hơn hắn". Thật là quái gở! Đừng bao giờ như thế nhé! Khi anh chị em có ý nghĩ như thế thì hãy nhớ đến tội lỗi của anh chị em, những tội chẳng hề có ai biết, hãy hạ mình xuống trước nhan Chúa mà nói: "Chúa ơi, Chúa mới biết ai là người trổi vượt. Con xin ngậm miệng mình lại". Như thế chúng ta sẽ cảm thấy khoan khoái.
Bao giờ cũng sống trong tình bác ái, coi mình là phần thể của nhau, để anh chị em có thể sống và làm ích cho tất cả mọi người" (xem 1 Corinto 12-14).
Anh chị em thân mến, như tiên tri Êzêkiên và như
Tông Đồ Phaolô, chúng ta cũng cầu khẩn Thánh Linh để ân sủng của Ngài và các
tặng ân dồi dào phong phú của Ngài giúp chúng ta luôn sống
như là thân mình liên kết của
Chúa Kitô! Như là một gia đình, như thân mình của Chúa
Kitô và như một dấu hiệu hữu hình mỹ lệ của tình yêu Chúa Kitô.
Cám ơn anh chị em.
Đaminh Maria Cao
Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ
http://www.zenit.org/en/
(nhan đề
và các chỗ nghiêng mầu là do tự ý của người dịch)
"Giáo Hội là Dân Chúa đi theo Chúa Giêsu và ngày ngày dọn mình để gặp Người như
cô dâu gặp phu quân của mình vậy"
Anh Chị Em thân mến,
Hôm nay chúng ta cần tự hỏi mình rằng vậy thì cuối cùng Dân Chúa sẽ là gì? Mỗi
người chúng ta sẽ trở thành những gì? Chúng ta cần phải mong đợi điều chi? Thánh
Phaolô đã phấn khích Kitô hữu ở cộng đồng Thessalonica hãy tự hỏi mình những câu
hỏi ấy, rồi ngài kết luận: "Vì thế chúng ta sẽ luôn ở với Chúa!" (4:17).
Nó biểu hiệu ở trong Sách Khải Huyền mà Thánh Gioan, tiếp tục cái trực giác của
các vị tiên tri, đã diễn tả chiều kích vĩnh viễn cuối cùng đó là "tân Giêrusalem
từ trời nơi Thiên Chúa mà xuống, được trang điểm như cô dâu sửa soạn nghênh đón
phu quân của mình" (21:2). Đó là những gì chúng ta trông đợi! Và Giáo Hội là
vậy đó: Giáo
Hội là Dân Chúa đi theo Chúa Giêsu và ngày ngày dọn mình để gặp Người như cô dâu
gặp phu quân của mình vậy. Đó
không phải chỉ là một kiểu nói mà sẽ là một cuộc hiệp hôn thực sự và
thích đáng! Đúng thế, vì Chúa Kitô, khi làm người như chúng ta và làm cho tất cả chúng ta
nên một với Người, với cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người là Người thực sự đã
kết hôn với chúng ta và biến chúng ta thành Thê Nương của Người. Điều này
chính là việc hoàn trọn dự án hiệp thông và yêu thương được Thiên Chúa đan kết
trong suốt giòng lịch sử.
Tuy nhiên, còn một yếu tố khác khiến chúng ta cuối cùng phải chạm trán và mở
lòng chúng ta ra, đó là trong Giáo Hội, Thê Nương của Chúa Kitô, như Thánh Gioan
cho biết, hiển hiện một "tân Giêrusalem". Có nghĩa là Giáo
Hội, ngoài thân phận là Thê Nương, còn được kêu gọi trở thành một Thành Đô, biểu
hiệu tuyệt vời về việc chung sống và mối liên hệ loài người.Bởi thế, dễ thương biết bao khi có thể thấy được rằng, căn cứ vào
một hình ảnh còn gợi ý hơn nữa, tất cả mọi dân tộc và mọi quốc gia cùng nhau qui
tụ lại ở thành đô này, như ở một nơi cư ngụ, "nơi cư ngụ của Thiên Chúa" (21:3)!
Và nơi cấu trúc hiển vinh này thì sẽ không còn bất cứ những gì là cô lập, gian
tà và biệt phân - có tính chất xã hội, sắc tộc hay tôn giáo - nhưng tất cả chúng
ta sẽ nên một trong Chúa Kitô.
Trước viễn cảnh chưa từng thấy và tuyệt vời này lòng chúng ta không thể nào
không cảm thấy hết sức hy vọng. Niềm hy vọng Kitô giáo không phải chỉ là một mong muốn, một ước
muốn: đối với Kitô hữu thì hy vọng là niềm đợi trông, một thứ đợi trông nhiệt
liệt thiết tha về việc hoàn trọn cuối cùng và vĩnh viễn của một mầu nhiệm, mầu
nhiệm tình yêu Thiên Chúa là mầu nhiệm nhờ đó chúng ta được tái sinh và trong đó
chúng ta đang sống động rồi. Và nó cũng là niềm trông đợi về một vị sắp đến đó là Chúa
Kitô, Đấng biến Mình ngày ngày gần gũi với chúng ta hơn bao giờ hết, và là Đấng
cuối cùng dẫn chúng ta đến tình trạng được trọn vẹn hiệp thông với Người
và được bình an nơi Người. Vậy Giáo Hội có nhiệm vụ làm sao để giữ cho ngọn đèn hy vọng hiện
hữu một cách sáng tỏ và tốt đẹp, nhờ đó nó có thể tiếp tục chiếu tỏa ra như
một dấu hiệu chắc chắc của ơn cứu độ và có thể chiếu soi cho toàn thể nhân loại
thấy con đường dẫn tới chỗ gặp được dung nhân nhân hậu của Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến, bởi thế điều chúng
ta trông đợi đó là việc Chúa Giêsu trở lại! Thê Nương Giáo Hội đang đợi chờ phu quân của mình! Tuy nhiên,
chúng ta cần phải tự vấn hết sức chân thành rằng: chúng
ta có thực là thành phần chứng nhân sáng ngời và khả tín cho niềm hy vọng này
hay chăng? Các cộng đồng của chúng ta vẫn đang sống theo dấu hiệu về niềm hy
vọng Chúa Giêsu này và bằng niềm trông đợi nồng nàn việc Người lại đến hay
chăng, hay các cộng động của chúng ta dường như mệt mỏi, tắc nghẹn bởi gánh nặng
của lao nhọc và buông xuôi? Chúng ta còn có cả nguy cơ bị cạn kiệt dầu đức tin
hay chăng? Chúng ta hãy cẩn thận coi chừng!
Chúng ta hãy kêu cầu Trinh Nữ Maria, Mẹ hy vọng và Nữ Vương Thiên Đình, để Mẹ
gìn giữ chúng ta luôn có một thái độ lắng nghe và trông đợi, nhờ đó giờ đây
chúng ta đã có thể thấm nhuần tình yêu của Chúa Kitô và một ngày kia được dự
phần vào niềm vui khôn cùng trong mối hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.zenit.org/en/articles/full-text-of-pope-s-general-audience-catechesis-oct-15th
(nhan đề và những chi tiết in nghiêng mầu là do tự ý của người
dịch)
"Trong cuộc hành trình lịch sử của mình, Giáo Hội bị cám dỗ bởi Tên Gian Ác, kẻ
cố gắng chia rẽ Giáo hội, và bất hạnh thay, Giáo Hội đã bị đánh dấu bằng các
cuộc phân rẽ trầm trọng và đau thương".
ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Giáo Hội - Bài 8 - Thứ Tư 8/10/2014
Anh Chị Em thân mến,
Trong các buổi giáo lý vừa rồi, chúng ta muốn làm sáng tỏ bản chất và vẻ đẹp của
Giáo Hội, và chúng ta tự hỏi mỗi người chúng ta cần phải làm gì đế có thể trở
nên thành phần của dân này. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng có rất
nhiều anh chị em chung dự với chúng ta về niềm tin vào Chúa Kitô, nhưng họ lại
có những niềm tin khác và thuộc về những truyền thống khác với truyền thống của
chúng ta. Nhiều người đã phải buông xuôi theo tình trạng chia rẽ này, một tình
trạng trong giòng lịch sử thường gây ra những xung đột và khổ đau. Thậm chí cho
đến ngày nay các mối liên hệ không phải lúc nào cũng tỏ ra trân trọng và thân
ái... Phần chúng ta, chúng ta giải quyết tất cả những điều này làm sao đây?
Chúng ta có thường buông xuôi nếu không phải thực sự là dửng dưng lạnh lùng hay
chăng? Hay chúng ta mạnh mẽ tin tưởng rằng chúng ta có thể và cần phải bước đi
theo chiều hướng hòa giải và trọn vẹn hiệp thông?
Những cuộc chia rẽ giữa Kitô hữu chẳng những làm tổn thưởng đến
Giáo Hội mà còn đến Chúa Kitô nữa. Thật vậy,
Giáo Hội là Thân Mình của Chúa Kitô là Đầu. Chúng ta đã quá rõ Chúa Giêsu thiết
tha biết bao mong muốn cho các môn đệ của Người được liên kết nên một trong tình
yêu thương của Người. Chỉ cần nghĩ đến những lời của Người trong đoạn Phúc Âm 17
của Thánh Gioan, lời nguyện cầu được Người dâng lên Cha của Người ngay trước
Cuộc Khổ Nạn của Người: "Lạy Cha Thánh, xin vì danh Cha mà gìn giữ họ, những
người Cha đã ban cho Con, để họ được nên một như Chúng Ta là một" (17:21). Mối
hiệp nhất này đã bị đe dọa trong khi Chúa Giêsu còn ở giữa thành phần thuộc về
Người: thật thế, trong Phúc Âm, chúng ta thấy rằng các Tông Đồ đã tranh cãi nhau
xem ai là kẻ cả, là người lớn (xem Luca 9:46). Thế nhưng, Chúa Kitô đã nhấn
mạnh đến mối hiệp nhất vì danh Cha, khiến chúng ta hiểu rằng việc loan
báo của chúng ta và việc làm chứng của chúng ta sẽ càng khả tín hơn một khi
chúng ta làm sao để sống hiệp thông và yêu thương nhau. Đó là những
gì các Tông Đồ của người, với ơn Chúa Thánh Thần, bấy giờ đã hiểu một cách sâu
xa và đã ấp ủ nó, đến độ Thánh Phaolô tiến đến chỗ đã van xin cộng đoàn Corintô
bằng những lời lẽ sau đây: "Anh em ơi, tôi xin anh em, vì danh của Chúa Giêsu
Kitô Chúa chúng ta, tất cả anh em hãy thuận thảo chứ đừng bất hòa với nhau,
nhờ đó anh em được liên kết trong cùng một tâm trí và cùng một phán đoán" (1
Corintô 1:10).
Trong cuộc hành trình lịch sử của mình, Giáo Hội bị cám dỗ bởi
Tên Gian Ác, kẻ cố gắng chia rẽ Giáo hội, và bất hạnh thay, Giáo Hội đã bị đánh
dấu bằng các cuộc phân rẽ trầm trọng và đau thương.
Chúng là những chia rẽ đôi khi đã được kéo dài lâu đời theo thời gian, cho đến
tận ngày nay, để rồi tới lúc này khó lòng mà tái thiết được tất cả mọi động lực,
nhất là trong việc tìm kiếm những giải quyết khả dĩ. Những
lý do đã dẫn đến những đổ vỡ và phân rẽ có thể khác nhau lắm: từ những khác biệt
về các nguyên tắc tín lý và luân lý cũng như về các quan niệm khác nhau về thần
học và mục vụ, đến những tác động thuận lợi về chính trị, đến những đụng độ gây
ra bởi hận thù và những tham vọng riêng tư. Điều chắc chắn đó là, dù cách này
hay cách khác, ở đằng sau những chia cắt này bao giờ cũng là những gì kiêu hãnh
và vị kỷ, những nguyên nhân gây ra tất cả mọi thứ bất đồng và khiến chúng ta trở
nên bất khoan nhượng, mất khả năng lắng nghe và chấp nhận những quan niệm hay
chủ trương khác với chúng ta.
Vậy, trước tất cả những gì như thế, là phần tử của Mẹ Thánh Giáo
Hội, mỗi một người chúng ta có thể và cần phải làm gì hay chăng? Chắc chắc không
thể thiếu được việc cầu nguyện để tiếp nối và hiệp thông với lời cầu nguyện của
Chúa Giêsu. Rồi cùng với lời nguyện cầu, Chúa xin chúng ta hãy tái cởi mở: Người
xin chúng
ta đừng khép kín mình trước việc đối thoại và gặp gỡ, nhưng hãy lợi dụng tất cả
những gì là giá trị và tích cực được cống hiến cho chúng ta từ người nghĩ khác
chúng ta hay chủ trương khác chúng ta. Người xin chúng ta đừng tập trung vào
những gì chia rẽ chúng ta, trái lại, vào những gì liên kết chúng ta, cho thấy chúng ta nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu hơn nữa
và chia sẻ tình yêu phong phú của Người. Điều này đòi phải gắn bó một cách cụ
thể với chân lý, cùng với khả năng tha thứ cho nhau, cảm thấy mình thuộc về cùng
một gia đình, coi mình là một tặng ân cho nhau và cùng nhau thực hiện nhiều điều
tốt lành, nhiều công việc bác ái.
Các bạn thân mến, vậy chúng ta hãy tiến tới mối hiệp nhất trọn
vẹn! Lịch sử đã phân rẽ chúng ta, thế nhưng chúng ta đang tiến trên con đường
hướng về việc hòa giải và hiệp thông! Cho
dù đích điểm ấy có vẻ quá xa vời hầu như bất khả đạt, khiến chúng ta cảm thấy
chán chường, chúng ta hãy can đảm lên bởi ý nghĩ là Thiên Chúa không thể nào bịt
tai của Ngài lại trước tiếng nói của Chúa Giêsu Con Ngài mà không nghe lời cầu
nguyện của Người và của chúng ta, xin cho tất cả mọi Kitô hữu được thực sự hiệp
nhất nên một.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.zenit.org/en/articles/full-text-of-pope-s-general-audience-catechesis-oct-8thand
(Nhan đề và những chỗ in nghiêng mầu là do tự ý của người dịch).
"Đặc sủng thực sự là gì? Làm sao chúng ta có thể nhận ra nó và nhận lãnh nó?
Và nhất là trong Giáo Hội xẩy ra sự kiện là có đa dạng và dồi dào các đặc sủng thì
phải chăng sự kiện ấy được coi là những gì tích cực
tốt lành hay lại là một vấn đề?"
ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Giáo Hội - Bài 7, Thứ Tư 1/10/2014
Anh Chị Em thân mến, xin chào anh chị em buổi sáng,
Từ ban đầu, Chúa đã tuôn đổ tràn đầy Giáo Hội các tặng ân của Thần Linh Ngài,
nhờ đó Người đã làm cho Giáo Hội luôn sinh động và sai trái. Trong những tặng ân
này nổi bật là một số tặng ân đặc biệt quí báu cho việc xây dựng và cuộc hành
trình của cộng đồng Kitô giáo: chúng là các đặc sủng (charisms). Trong bài giáo
lý này, chúng ta cần phải tự hỏi đặc
sủng thực sự là gì? Làm sao chúng ta có thể nhận ra nó và nhận lãnh nó? Và nhất
là trong Giáo Hội xẩy ra sự kiện là có đa dạng và dồi dào các đặc sủng thì phải
chăng sự kiện ấy được coi là những gì tích cực tốt lành hay lại là một vấn đề?
Theo ngôn ngữ thường tình thì một khi nói đến "charism" thì thường được hiểu
như là một tài năng, như là một khả năng tự nhiên. Bởi vậy mới có câu: "Anh ta
là một con người có thiên khiếu - he is a charismatic person" khi gặp
một người đặc biệt minh tường và năng động. Tuy nhiên, theo quan điểm Kitô giáo
thì charism là một điều gì đó hơn cả phẩm tính cá thể nữa, một phú bẩm con người
có thể được ban cho. Charism
là một ân sủng, một tặng ân do Thiên Chúa Cha ban cho qua tác động của Thánh
Linh. Nó là một tặng ân được ban cho ai đó không phải vì họ khá hơn những người
khác hay vì họ đáng nhận được nó: nó là một tặng ân Thiên Chúa thực hiện để
Ngài, bằng cùng một lòng ưu ái và cùng một tình yêu thương, có thể sử dụng nó để
phục vụ toàn thể cộng đồng cho lợi ích của tất cả mọi người.
Cần phải nhấn mạnh ngay đến một điều đó là sự kiện người ta không thể
biết được những gì mình có nếu họ nhận được đặc sủng và là đặc sủng nào.
Chính ở trong cộng đồng mà các tặng ân do Chúa Cha tràn xuống trên chúng
ta ấy tuôn chảy và nở hoa; và chính trong lòng của cộng đồng mà người ta nhận ra
các tặng ân ấy như là một dấu chỉ về tình yêu của Ngài đối với tất cả mọi con
cái của Ngài. Bởi vậy mỗi người chúng ta cần tự hỏi mình rằng: "Phải
chăng có một đặc sủng nào đó được Chúa ban cho xuất hiện nơi tôi, theo ân sủng
của Thần Linh của Ngài hay chăng, và đặc sủng nào đã được anh chị em của tôi
trong cộng đồng Kitô hữu đã nhận thấy nơi tôi và phấn khích tôi? Tôi đang tác
hành ra sao với tặng ân này: tôi có sống tặng ân này một cách quảng đại, bằng
cách mang ra phục vụ tất cả mọi người hay chăng, hoặc tôi coi thường nó tới độ
lãng quên nó? Có thể nó trở thành lý do kiêu hãnh nơi tôi cho đến độ tôi luôn
thương hại những người khác và đến độ cho rằng đường lối của tôi là những gì cần
phải được thực hiện trong cộng đồng?"
Tuy nhiên, cảm nghiệm tuyệt vời nhất đó là nhận thức được việc Chúa Cha làm
tràn đầy Giáo Hội của Ngài bằng nhiều đặc sủng khác nhau và nhiều tặng ân của
Thần Linh Ngài! Điều này không được coi như là lý do cho việc nhầm lẫn, cho
thái độ ngượng ngùng: chúng tất cả đều là tặng ân Thiên Chúa thực hiện cho
cộng đồng Kitô giáo, để cộng đồng này có thể tăng trưởng một cách hòa hợp
trong đức tin và trong tình yêu thương của Ngài, như là một thân thể duy nhất,
Thân Thể của Chúa Kitô. Bởi thế, trước
tính chất dồi dào của đặc sủng, tâm hồn của chúng ta cần phải cởi mở hân hoan và
chúng ta cần phải nghĩ rằng: "Thật là một điều tuyệt vời. Thật là nhiều tặng ân
khác nhau, vì tất cả chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa, và tất cả đều được
yêu thương một cách đặc biệt". Thế
nên thật
khốn thay khi những tặng ân này lại trở thành lý do ghen tương và chia rẽ! Tông Đồ
Phaolô đã nhắc nhở chúng ta trong Thư Thứ Nhất của ngài gửi Tín Hữu
Côrintô, đoạn 12, đó là tất
cả mọi đặc sủng đều quan trọng trước nhan Thiên Chúa, đồng thời cũng chẳng có ai
lại bất khả thay thế.Tức
là trong cộng đồng Kitô hữu chúng ta đều cần đến nhau, và hết mọi tặng ân lãnh
nhận được chỉ trọn vẹn tác hành một khi nó được chia sẻ với anh chị em khác cho
lợi ích của tất cả mọi người. Đó
là Giáo Hội! Khi Giáo Hội thể hiện mình nơi mối hiệp thông, qua các đặc sủng
khác nhau thì Giáo Hội không thể nào sai lầm: đó là vẻ đẹp và sức mạnh của the
sensus fidei, cái cảm thức siêu nhiên của đức tin, những gì được Thánh Linh ban
cho để cùng nhau tất cả chúng ta có thể tiến vào tâm điểm của Phúc Âm và có
thể theo Chúa Giêsu trong đời sống của chúng ta.
Các bạn thân mến, hãy lưu ý tới những gì Chúa muốn chúng ta hôm nay đây, đó là hãy
nhận thức một cách hân hoan và tri ân các đặc sủng khác nhau được Ngài phân phối
trong cộng đồng, hãy sống cho nhau theo thừa tác vụ và các dịch vụ chúng ta được
kêu gọi.
Có thế Giáo Hội mới tăng trưởng nhờ ân sủng của Chúa mình, và trở thành dấu chỉ
khả tín và chứng từ sống động của tình yêu Thiên Chúa trong mọi lúc và hết mọi
nơi
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.zenit.org/en/articles/full-text-of-pope-s-general-audience-catechesis-oct-1
(nhan đề và những chỗ in nghiêng mầu là do tự ý của người dịch)
"Nếu Giáo Hội bẩm sinh là Công Giáo thì có nghĩa là Giáo Hội xuất thân ‘lên đường’, truyền giáo"
Anh Chị Em thân mến,
Khi chúng ta tuyên xưng đức tin của chúng ta, chúng ta xác tín rằng Giáo Hội
"Công Giáo" và "Tông Truyền". Thế nhưng ý nghĩa của hai chữ này, hai đặc tính
quá quen thuộc này của Giáo Hội thực sự là gì? Và những chữ này có giá trị ra
sao đối với cộng đồng Kitô hữu cũng như đối với mỗi một người chúng ta?
1- Công
giáo có nghĩa là phổ quát. "Chúng
ta có được một định nghĩa đầy đủ và rõ ràng từ một trong những vị Giáo Phụ của
Giáo Hội là Thánh Cyrilô thành Giêrusalem qua câu phát biểu: "Thực sự Giáo
Hội được tuyên xưng là Công Giáo, tức là phổ quát, ở
chỗ Giáo
Hội lan tràn khắp nơi từ chân trời đến góc biển của trái đất này; và
theo tính chất phổ quát cũng như không lầm lạc Giáo
Hội giảng dạy tất cả mọi chân lý mà con người cần phải nhận biết liên quan đến
những sự trên trời hay dưới thế" (18th
Catechesis, 23).
Một dấu hiệu rõ ràng về tính chất công giáo của Giáo Hội đó là việc Giáo Hội nói
bằng tất cả mọi ngôn ngữ. Điều
này là hoa trái của biến cố Hiện Xuống (xem Sách Tông Vụ 2:1-13). Thật vậy,
chính Thánh Linh giúp cho các Tông Đồ và toàn thể Giáo Hội âm vang cho đến tận
cùng trái đất tất cả Tin Mừng cứu độ và tình yêu của Thiên Chúa. Giáo
Hội bẩm sinh là Công Giáo, từ gốc đã là những gì "hợp tấu" và không thể là gì
khác ngoài Công Giáo, hướng
tới việc truyền bá phúc âm hóa và gặp gỡ tất cả mọi người. Ngày
nay Lời Chúa được đọc bằng tất cả mọi thứ ngôn ngữ, hết mọi người đều có
Phúc Âm để đọc theo ngôn ngữ của mình. Tôi
xin lập lại là bao giờ cũng nên mang theo mình một cuốn Phúc Âm nhỏ, trong
túi đựng hay trong túi xách mà đọc một đoạn trong ngày. Đó là điều thiện ích cho
chúng ta. Phúc Âm đã lan tràn nơi tất cả mọi ngôn ngữ vì Giáo Hội, tác nhân loan
truyền Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Chuộc, ở trên toàn thế giới. Vì lý do đó chúng
ta gọi Giáo Hội là Công Giáo vì Giáo Hội thì phổ quát.
2- Nếu
Giáo Hội bẩm sinh là Công Giáo thì có nghĩa là Giáo Hội xuất thân "lên đường",
truyền giáo. Nếu
các vị tông đồ cứ ở trên Căn Thượng Lầu, không ra đi để nguyện cầu Phúc Âm, thì
Giáo Hội chỉ là Giáo Hội của những con người ấy, của thành phố ấy, của nhà tiệc
ly ấy. Thế nhưng, tất cả đều đã đi vào thế giới, từ giây phút Giáo Hội được hạ
sinh, từ giây phút Thánh Thần hiện xuống. Thế nên Giáo
Hội bẩm sinh là xuất thân
"lên đường", là truyền giáo. Đó
là những gì chúng ta diễn tả khi nhận định Giáo Hội là Tông Truyền. Chữ này nhắc
nhở chúng ta rằng Giáo Hội - trên nền tảng các Tông Đồ và tiếp tục với các vị
- được mời gọi để mang đến cho tất cả mọi người việc loan truyền Phúc Âm, kèm
theo những dấu dịu dàng và quyền năng của Thiên Chúa. Điều này cũng xuất phát từ
biến cố Hiện Xuống: thật vậy, chính vì Thánh Linh mà thắng vượt hết mọi đối
chọi, thắng vượt khuynh hướng khép mình lại, trong một số ít tuyển chọn, và coi
mình là thành phần lãnh nhận viên duy nhất của phúc lành Chúa ban... Nếu có một
nhóm Kitô hữu nào như thế - "Chúng tôi là thành phẩn tuyển chọn, chỉ duy một
mình chúng tôi thôi" - thì cuối cùng họ sẽ chết. Họ chết, trước hết trong linh
hồn của họ rồi đến thân xác của họ, vì họ không có sự sống, họ không có khả năng
sản sinh sự sống cho người khác, cho những người khác. Họ không phải là tông
truyền. Chính Thần Linh dẫn chúng ta đến chỗ gặp gỡ anh chị em chúng ta, bao gồm
cả những ai xa cách nhất ở hết mọi ý nghĩa của nó, nhờ đó họ có thể chia sẻ với
chúng ta tình yêu thương, sự bình an và niềm vui là những tặng ân được Chúa Phục
Sinh lưu lại cho chúng ta.
3- Đối
với các cộng đồng của chúng ta cũng như đối với mỗi người chúng ta thì trong việc
thuộc về một Giáo Hội Công Giáo và Tông Truyền bao gồm những gì? Trước
hết, có nghĩa là ôm ấp lấy ơn cứu độ của toàn thể nhân loại, đừng
cảm thấy dửng dưng hay xa lạ trước số phận của rất nhiều anh chị em của chúng
ta, song hướng về và liên kết với họ. Hơn
nữa, nghĩa
là có cái cảm quan trọn vẹn, hoàn toàn và hòa hợp của đời sống Kitô hữu, luôn loại
trừ đi những chủ trương bán phần, riêng lẻ là những gì khép kín chúng ta lại.
Việc thuộc về Giáo Hội Tông Truyền nghĩa là nhận thức rằng đức tin của chúng
ta được gắn liền với việc loan truyền và làm chứng của chính các vị tông đồ của
Chúa Giêsu, và vì thế, bao giờ cũng cảm thấy mình được sai đi, trong
mối hiệp thông với chư vị thừa kế các Tông Đồ, để loan truyền, bằng một tấm lòng
tràn đầy hân hoan, Chúa Kitô và tình yêu của Người cho toàn thể nhân loại.
Đến đây tôi xin gợi nhớ những đời sống anh hùng của nhiều thật nhiều các nhà
truyền giáo đã lìa bỏ quê hương của mình để ra đi rao giảng Phúc Âm ở các xứ sở
khác, ở các châu lục khác. Một vị hồng y Ba Tây đã từng làm việc ở Amazon có
lần đã nói với tôi rằng khi ngài đến một địa điểm, một thành phố ở miền Amazon,
thì bao giờ ngài cũng đến nghĩa trang để viếng thăm các ngôi mộ của những nhà
truyền giáo, các vị linh mục, các tu sĩ nam nữ đã đến đó rao giảng Phúc Âm, các
vị tông đồ. Và ngài nghĩ rằng giờ đây có thể phong thánh cho tất cả những vị
này, vì họ đã từ bỏ tất cả để công bố Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa
vì Giáo Hội của chúng ta đang có nhiều nhà truyền giáo, đã có nhiều vị thừa sai,
nhưng dù sao vẫn cần nhiều hơn nữa! Chúng con tạ ơn Chúa vì điều ấy. Có lẽ trong
số nhiều giới trẻ, những em trai cũng như em gái đang có mặt ở đây, có người
mong muốn trở thành một nhà truyền giáo: các con cứ việc nhé! Thật là một điều
tuyệt vời được loan truyền Phúc Âm của Chúa Giêsu. Hãy hiên ngang và dũng cảm!
Giờ đây chúng ta hãy xin Chúa tái tấu trong chúng ta tặng ân Thần Linh của
Người, nhờ đó hết mọi cộng đồng Kitô hữu và hết mọi người đã lãnh nhận phép
rửa đều phản ảnh Mẹ Thánh Giáo Hội Công Giáo và Tông truyền.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ
http://www.zenit.org/en/articles/pope-s-general-audience-the-church-was-born-catholic-and-apostolic
(nhan đề và các chỗ in nghiêng và mầu là do tự ý của người dịch)
"Một Kitô hữu có thể nào hiện hữu mà chẳng xót thương hay chăng?
Không! Một Kitô hữu cần phải xót thương vì đó là tâm điểm của Phúc Âm"
ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Giáo Hội - Bài 5 - Thứ Tư 10/9/2014
Chào anh chị em thân mến buổi sáng.
Trong hành trình giáo lý về Giáo Hội, chúng ta dừng lại để suy nghĩ về Giáo Hội
như một người mẹ. Tuần vừa qua chúng ta đã nhấn mạnh đến cách thức Giáo Hội làm
cho chúng ta tăng trưởng, và bằng ánh sáng cùng sức mạnh của Lời Chúa, tỏ cho
chúng ta thấy đường lối cứu độ, cũng như bênh vực chúng ta khỏi sự dữ. Hôm nay,
tôi muốn đề cao một chiều kích đặc biệt về hành động giáo dục này của mẹ Giáo
Hội, đó là việc Giáo Hội dạy chúng ta thực hiện các công việc của tình thương
như thế nào.
Một vị thày dạy giỏi thì tập trung vào những điều chính yếu. Họ không
thiếu về chi tiết, nhưng muốn truyền đạt những gì thật sự cần thiết để đứa trẻ
hay học sinh thấy được ý nghĩa và niềm vui của cuộc đời. Đó là chân lý! Và theo
Phúc Âm thì điều thiết yếu đó là tình thương. Điều
thiết yếu trong Phúc Âm chính là tình thương! Thiên
Chúa đã sai Con của Ngài! Thiên Chúa đã hóa Thân làm người để cứu chuộc chúng
ta, tức là, để cống hiến cho chúng ta tình thương của Ngài. Chúa Giêsu đã
nói điều này một cách tỏ tường, tóm gọn giáo huấn của Người cho các môn đệ: "Các
con hãy xót thương như Cha của các con thương xót" (Luca
6:36).
Một Kitô hữu có thể nào hiện hữu mà chẳng xót thương hay chăng? Không! Một Kitô
hữu cần phải xót thương vì đó là tâm điểm của Phúc Âm.
Trung thành với giáo huấn này, Giáo Hội chỉ có thể lập lại cũng một điều như
vậy với con cái của mình: "Các con hãy xót thương" như Cha là Đấng thương xót và
như Chúa Giêsu đã xót thương. Tình thương!
Như thế là Giáo Hội tác hành như Chúa Giêsu. Giáo Hội không giảng các bài học lý
thuyết về tình yêu, về tình thương. Giáo Hội không truyền bá khắp thế giới một
thứ triết lý, một đường lối khôn ngoan... Dĩ nhiên, Kitô giáo là tất cả
những điều này, nhưng là thành quả của việc phản tỉnh. Mẹ Giáo Hội, như Chúa
Giêsu, dạy chúng ta bằng gương mẫu, các ngôn từ là những gì giúp soi sáng ý
nghĩa về những hành vi cử chỉ của Giáo Hội.
Mẹ Giáo Hội dạy chúng ta hãy cống hiến đồ ăn và thức uống cho những ai đói khát,
cống hiến quần áo cho những ai trần trụi. Giáo Hội đã làm như thế bằng cách nào?
Bằng gương mẫu của rất nhiều các thánh nhân, những vị đã làm như thế một cách
gương mẫu. Nhưng còn bằng cả gương lành của rất nhiều người cha người mẹ, những
người cha người mẹ dạy cho con cái mình rằng những
gì còn lại cho chúng ta là để dành cho những ai thiếu thốn.
Rất cần phải biết điều ấy.
Qui luật về sự tiếp đãi bao
giờ cũng là những gì linh thánh đối với các gia đình Kitô hữu bình thường
nhất, đó là không
bao giờ thiếu thức ăn và giường ngủ cho những ai thiếu thốn.
Có lần, một người mẹ thuộc một giáo phận khác đã nói với tôi rằng chị muốn
dạy điều ấy cho con cái của chị, và chị bảo chúng hãy giúp đỡ cùng cống
hiến đồ ăn cho những ai đói khổ. Chị có 3 đứa con. Thế rồi vào một ngày kia đang
bữa trưa, người cha phải đi làm còn chị ở nhà với 3 đứa con nhỏ. Đứa 7, đứa 5
và đứa 4 tuổi quãng đó. Có ai đó gõ cửa và một người đàn ông xuất hiện muốn xin
một chút gì đó để ăn. Người mẹ đã nói với ông ta rằng "Xin làm ơn chờ một chút".
Chị đến nói với các con của chị rằng: "Có một người đang xin ăn. Chúng ta phải
làm sao bây giờ?" Các đứa con nói: "Được má, chúng ta hãy cho họ cái gì đi".
Mỗi đứa có một miếng thịt bò (steak) kèm theo khoai chiên trên đĩa ăn của mình.
Rồi người mẹ nói "Được rồi, chúng ta hãy cho ông ấy một nửa của từng đĩa ăn và
chúng ta sẽ cho ông ấy một nửa miếng thịt bò của mỗi con nhé". Các cháu nói:
"Không được đâu má, đó không phải là cách cần
phải làm". Chị nói: "Đó là cách cần phải làm! Các
con cần phải cho đi phần ăn của các con".
Như vậy đó, người mẹ này đã dạy các con của mình cống hiến cho những người khác
miếng ăn từ phần ăn của chúng. Đó
là một mẫu gương tuyệt vời đã giúp cho tôi rất nhiều.
"Thế nhưng con không có bất cứ một điều gì còn dư hết". Vậy thì hãy cho những gì
con có. Đó là cách thức Mẹ Giáo Hội dạy chúng ta. Có rất nhiều bà mẹ đang ở nơi
đây, các chị biết các chị cần phải dạy cho con cái của mình những gì rồi. Nhờ đó
chúng chia sẻ những gì của chúng cho những ai thiếu thốn.
Mẹ Giáo Hội dạy chúng ta hãy gần gũi với những ai yếu đau bệnh hoạn. Biết
bao nhiêu là con người nam nữ đã phục vụ Chúa Giêsu như thế! Biết bao nhiêu là
con người nam nữ bình thường hằng ngày thực hành công việc thương xót này ở
trong một căn phòng của nhà thương, hoặc ở một dưỡng lão viện, hay tại nhà riêng
của mình, giúp đỡ người bệnh.
Mẹ Giáo Hội dạy chúng ta hãy gần gũi với những ai đang bị ngục tù. "Nhưng
Cha ơi điều này nguy hiểm đó. Họ là thành phần xấu!" Tuy nhiên, mỗi một người
chúng ta đều có thể trở thành như vậy. Hãy nghe cho kỹ đây: Mỗi một người chúng
ta đều có thể làm những gì mà một người nam hay nữ ở trong tù đã làm! Tất cả
chúng ta đều có khả năng phạm tội và làm như thế! Gây ra lầm lỗi trong đời. Họ
không tệ hơn anh chị em hay tôi đâu.
Tình thương thắng vượt hết mọi bức tường ngăn cách, hết mọi rào cản và mang anh
chị em đến chỗ luôn tìm kiếm dung nhan của con người. Chính
tình thương là những gì làm thay đổi cõi lòng và đời sống, những gì có thể tái
sinh một con người và giúp họ có thể tái hội nhập vào xã hội một cách mới mẻ.
Mẹ Giáo Hội dạy chúng ta hãy gần gũi với những ai bị bỏ rơi và đang cô đơn hấp
hối. Đó
là những gì Chân Phước Têrêsa đã làm trên các đường phố ở Calcutta; và đó là
những gì nhiều Kitô hữu đã thực hiện và đang thực hiện, thành phần không
sợ cầm lấy tay của những ai đang lìa bỏ trần gian này.
Ngay cả ở chỗ này chăng nữa, tình thương cũng cống hiến an bình cho những ai đã
ra đi và những ai đang còn ở lại, khiến cho họ cảm thấy rằng Thiên Chúa còn lớn
lao hơn cả chết chóc, và việc ở trong Ngài, cho dù vào giây phút cuối
cùng, cũng chỉ là một hẹn hò "gặp anh chị sau nhé - see you later". Chân Phước
Têrêsa đã hiểu điều ấy rất rõ. Thế nhưng lại có người nói cùng mẹ rằng "Thưa Mẹ,
mẹ đang lãng phí thời gian của mẹ đấy". Mẹ muốn tìm kiếm những ai đang hấp hối
trên đường phố. Những con người đang bị đám chuột rúc rỉa trên những hẻm đường.
Mẹ mang họ về nhà để họ được chết một cách sạch sẽ, trầm lắng, được chăm sóc và
chết trong an lành. Mẹ giúp cho họ thở hơi cuối cùng. Thế nhưng tất cả những con
người mà mẹ, và rất nhiều người nam nữ làm như mẹ, là đang đợi chờ để mở cửa
thiên đàng cho họ. Việc giúp cho con người chết một cách tốt đẹp, trong an
bình.
Anh chị em thân mến, Giáo Hội là một người mẹ là như thế, bằng việc dạy con cái
mình làm việc xót thương. Giáo Hội đã học được đường lối này từ Chúa Giêsu. Giáo
Hội đã biết rằng đó là những gì thiết yếu cho phần rỗi. Yêu thương những ai
thương yêu mình vẫn chưa đủ. Làm lành cho những ai làm lành cho chúng ta cũng
chưa đủ. Việc làm
cho thế giới trở thành tốt đẹp hơn ở chỗ làm lành cho những ai không thể đáp
trả, như Cha đã tỏ ra với chúng ta khi cống hiến cho chúng ta Chúa Giêsu.
Chúng ta hãy tạ ơn Chúa là Đấng đã ban cho chúng ta ơn được Giáo Hội làm mẹ, vị
dạy cho chúng ta con đường
xót thương là con đường sự sống.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.zenit.org/en/articles/on-the-works-of-mercy-full-text-of-pope-francis-general-audience-sept-10
(Nhan đề và những chỗ in mầu và nghiêng là do tự ý của người dịch)
"Đã bao nhiêu lần trong đời sống của mình chúng ta không làm chứng cho vai trò làm mẹ này của Giáo Hội,
cho lòng can đảm từ mẫu này của Giáo Hội!"
ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Giáo Hội bài 4 Vai Trò Làm Mẹ của Giáo Hội - Thứ Tư
3/9/2014
Dẫn nhập:
ĐTC
Phanxicô đã bắt đầu loạt bài Giáo Lý về Giáo Hội, từ ngày 18/6/2014 và
25/6/2014, để rồi sau thời gian tạm nghỉ hè (dù ngài chẳng đi khỏi Vatican
như đến nhà nghỉ mát ở Bắc Ý hay ở Rôma như các vị tiền nhiệm) không có triều
kiến chung suốt 7 tuần lễ liền bao gồm cả tháng 7 và 2 tuần đầu tháng 8, ngài đã
trở lại với chủ đề Giáo Lý về Giáo Hội từ Thứ Tư 27/8/2014 (cho dù chưa hết thời
gian nghỉ hè cho tới đầu Tháng 9).
Thứ tự các bài Giáo Lý về Giáo Hội đã được ĐTC Phanxicô hướng dẫn vào các
buổi triều kiến chung Thứ Tư hằng tuần có thể được tóm gọn vắn tắt như sau: 1-
Giáo Hội - về nguồn tiền sử (18/6/2014); 2- Giáo Hội - tính cách thuộc về
(25/6/2014); 3- Giáo Hội - con cái tội lỗi (27/8/2014); 4- Giáo Hội - vai trò
làm mẹ (3/9/2014). Sau đây là bản dịch Việt ngữ cho bài giáo lý về Giáo Hội thứ
4.
Anh chị em thân mến,
Trong các bài giáo lý trước đây, chúng ta đã một số lần vạch ra rằng anh chị
em đã không tự mình trở thành Kitô hữu, nhờ nỗ lực riêng của anh chị em, tự mình
anh chị em, mà là bởi được sinh ra và nuôi dưỡng bằng đức tin giữa Dân Chúa tức
là Giáo Hội. Theo ý nghĩa đó thì Giáo
Hội thật sự là mẹ, Giáo Hội mẹ của chúng ta -
thật là tốt đẹp khi nói như thế phải không? - một
người mẹ cống hiến cho chúng ta sự sống trong Chúa Kitô cũng như trong mối hiệp
thông của Thánh Linh, đưa chúng ta vào đời sống chung với tất cả mọi anh chị em
của chúng ta.
1- Nơi điều này, nơi
vai trò làm mẹ của mình, Giáo Hội có Trinh Nữ Maria là mô phạm của Giáo Hội, một
mô phạm cao cả nhất và tuyệt vời nhất. Các
cộng đồng Kitô hữu tiên khởi đã nhấn mạnh đến điều ấy và Công Đồng Chung
Vaticanô II đã bày tỏ điều này một cách đáng khen (xem Hiến Chế Ánh Sáng Muôn
Dân, 63-64). Vai trò làm mẹ của Đức Maria thực sự là đặc thù, chuyên nhất
và được hoàn tất vào thời điểm viên trọn, khi Vị Trinh Nữ này hạ sinh Con Thiên
Chúa, bằng việc thụ thai bởi Thánh Linh. Thế nhưng vai
trò làm mẹ của Giáo Hội lại tiếp nối vai trò làm mẹ của Đức Maria đối với anh
chị em, như kéo dài vai trò này trong giòng lịch sử.
Giáo Hội, với sự phong phú của Thần Linh, tiếp tục sinh sản con cái mới trong
Chúa Kitô, bằng cách luôn lắng nghe Lời Chúa và tuân theo dự án yêu thương của
Ngài. Giáo Hội là mẹ. Thật vậy, việc
Chúa Giêsu hạ sinh nơi cung lòng của Mẹ Maria là việc mở màn cho việc tái sinh
của hết mọi Kitô hữu nơi cung lòng của Giáo Hội, vì Chúa Kitô là trưởng tử của
nhiều anh em(xem
Rôma 8:29). Người anh cả của chúng ta là Chúa Giêsu, vị đã được hạ sinh bởi Mẹ
Maria, Đấng là mô phạm cho tất cả chúng ta được sinh vào Giáo Hội. Như thế chúng
ta mới hiểu được mối liên hệ liên kết Mẹ Maria với Giáo Hội sâu xa là chừng
nào, ở chỗ, khi
nhìn vào Mẹ Maria, chúng ta thấy được dung nhan mỹ miều và dịu dàng nhất của
Giáo Hội; và khi nhìn vào Giáo Hội chúng ta nhận ra những đặc tính cao vời của
Mẹ Maria. Kitô
hữu chúng ta không phải là những đứa con mồ côi,
chúng ta có một người má, chúng ta có một người mẹ, đó là một điều quá hay.
Chúng ta không phải là những đứa bé mồ côi. Giáo Hội có một người mẹ đó là Đức
Maria và là mẹ.
2- Giáo
Hội là mẹ của chúng ta vì Giáo Hội đã sinh chúng ta nơi Phép Rửa. Khi
một đứa bé được rửa tội thì em trở thành con của Giáo Hội, từ ngày đó em ở trong
Giáo Hội là tác nhân chăm sóc cho em như một người mẹ ân cần, Giáo Hội làm cho
chúng ta lớn lên trong đức tin và, bằng quyền lực của Lời Chúa, tỏ cho chúng ta
thấy con đường cứu độ, bênh vực chúng ta khỏi sự dữ.
Giáo Hội đã nhận lãnh từ Chúa Giêsu kho tàng Phúc Âm quí báu, không phải để giữ
lấy cho mình mà là quảng đại cống hiến cho người khác - như một người mẹ
vốn thực hiện. Trong việc truyền bá phúc âm hóa ấy, tính cách làm mẹ của Giáo
Hội được tỏ ra một cách đặc biệt - ở chỗ, như một người mẹ, dấn thân cống hiến
cho con cái của mình lương thực thiêng liêng để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu và
làm cho đời sống này trổ sinh hoa trái. Bởi thế, tất cả mọi người đều được kêu
gọi cởi mở lòng trí để đón nhận Lời Chúa được Giáo Hội phân phát hằng ngày, vì
Lời này có khả năng thay đổi chúng ta từ trong lòng. Chỉ có Lời Chúa, Lời quyền
năng này của Thiên Chúa, mới có khả năng thay đổi chúng ta nên tốt hơn bắt đầu
từ bên trong, từ những cội nguồn sâu thẳm nhất của chúng ta. Mà ai cống hiến cho
chúng ta Lời Chúa? Mẹ Giáo Hội là tác nhân cống hiến cho con cái của mình lời
này, nuôi lớn chúng ta bằng lời này suốt cuộc đời của chúng ta. Thật là cao cả
chính Mẹ Giáo Hội thật sự biến đổi chúng ta từ bên trong bằng lời ấy. Những
lời Mẹ Giáo Hội cống hiến cho chúng ta là những gì biến đổi chúng ta, làm cho
nhân tính của chúng ta không còn đập theo nhịp xác thịt nữa mà là theo Thần Linh.
Trong việc chăm sóc từ mẫu của mình, Giáo Hội cố gắng tỏ cho tín hữu đường
lối để sống một cuộc đời phong phú niềm vui và bằng an. Được sáng soi bởi ánh
sáng Phúc Âm và được nâng đỡ phù trì bởi ân sủng của các phép bí tích, nhất là
Bí Tích Thánh Thể, chúng ta có thể hướng những chọn lựa của chúng ta về những gì
là tốt lành, và thắng vượt một cách can đảm và hy vọng những giây phút tối tăm
và những con đường quanh co rắc rối. Con đường cứu độ, qua đó Giáo Hội hướng dẫn
chúng ta và hỗ trợ chúng ta bằng quyền lực của Phúc Âm cùng với sự nâng đỡ của
các Bí Tích, cống hiến cho chúng ta khả năng tự vệ khỏi sự dữ. Giáo Hội có được
sự can đảm của một người mẹ trong việc bảo vệ con cái của mình khỏi những hiểm
nguy gây ra bởi sự hiện diện của Satan trên thế gian này, để mang họ về gặp gỡ
Chúa Giêsu. Việc bênh vực này cũng bao gồm lời mời gọi tỉnh thức: hãy tỉnh
táo để chống lại những gì lừa đảo và thu hút của sự dữ. Vì, cho
dù Thiên Chúa đã khống chế Satan, các chước cám dỗ của hắn vẫn luôn còn đó.
Chúng ta đều biết như thế, tất cả chúng ta đều bị tấn công. Chúng ta đừng ngây
thờ khờ dại, mà hãy tỉnh táo và vững vàng trong đức tin, đừng cưỡng lại huấn dụ
của người mẹ, đừng cự lại việc trợ giúp của Mẹ Giáo Hội. Một người mẹ tốt lành
bao giờ cũng hỗ trợ con cái của mình trong những giây phút khó khăn.
3- Các bạn thân mến, đó là Giáo Hội: đó là Giáo Hội mà tất cả chúng ta đều yêu
mến, Giáo Hội mà tôi kính mến. Một người mẹ lo lắng đến tình trạng an sinh của
con cái mình, một người mẹ có khả năng hiến sự sống cho con cái của mình. Tuy
nhiên, chúng
ta không được quên rằng Giáo Hội là tất cả mọi người đã lãnh nhận phép rửa, chứ
không phải chỉ là các vị linh mục hay các vị giám mục, không phải thế, mà là tất
cả chúng ta. Tất
cả chúng ta đều ở trong Giáo Hội, tất cả chúng ta đều là con cái, cả những Kitô
hữu khác nữa. Chúng
ta, tất cả đã lãnh nhận phép rửa, nam cũng như nữ, cùng nhau là Giáo Hội. Đã
bao nhiêu lần trong đời sống của mình chúng ta không làm chứng cho vai trò làm
mẹ này của Giáo Hội, cho lòng can đảm từ mẫu này của Giáo Hội! Vậy
chúng ta hãy ký thác bản thân mình cho Mẹ Maria, vì Mẹ
sẽ dạy chúng ta làm sao có cùng một tinh thần từ mẫu của Mẹ đối với anh chị em
của chúng ta, với một khả năng chân thành biết chấp nhận, thứ tha và tác động
niềm tin tưởng cùng hy vọng.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
(Nhan đề và những chỗ in mầu nghiêng là do tự ý người dịch)
Phụ Thêm:
Trong bài giáo lý tuần trước, Thứ Tư 27/4/2014, theo bản dịch của Zenit, có 3
chỗ [...], trong đó hai chỗ cuối xẩy ra một ở gần cuối đoạn 2 và một ở cuối đoạn
3. Bởi vì, 2 đoạn này là hai đoạn Đức Thánh Cha nói buông, không theo bài
bản đã được soạn dọn. Như thể ngài muốn khai triển thêm những gì ngài muốn nói
vào chính lúc bầy giờ. Theo tờ Vatican Insider http://vaticaninsider.lastampa.it/en/the-vatican/detail/articolo/francesco-francis-francisco-chiesa-church-iglesia-35990/ thì
2 chỗ [...] tức 2 chỗ Đức Thánh Cha đã nói buông này là hai đoạn dưới đây:
[...] 1- "Điều ấy tốt hay không tốt? Nếu có ai được chọn làm chủ tịch của
một hội đoàn, thì có lời ra tiếng vào chống lại anh ta. Có người được chọn làm
trưởng ban giáo lý, cũng lời to tiếng nhỏ chống lại chị ta" (một tràng vỗ tay
nổi lên khi ngài nói như thế). "Tôi không bảo anh chị em là hãy cắt lưỡi của anh
chị em đi, không phải thế, mà là hãy xin Chúa ơn biết kiểm chế...”.
[...] 2- "Có
rất nhiều chia rẽ giữa thành phần Kitô hữu chúng ta, nếu chúng ta nhìn vào lịch
sử của Giáo Hội! Thậm chí cho đến nay chúng ta vẫn đang chia rẽ nhau. Theo lịch
sử, là Kitô hữu, chúng ta đã gây chiến với nhau vì những khác biệt về thần học;
chúng ta hãy nghĩ đến Cuộc Chiến 30 Năm. Thế nhưng đó không phải là Kitô giáo.
Chúng ta đang chia rẽ nhau thậm chí cho đến giờ này: chúng ta cần phải xin ơn
hiệp nhất nơi tất cả mọi Kitô hữu, mối hiệp nhất mà Chúa Giêsu mong muốn, vì
Người đã nguyện cầu cho mối hiệp nhất ấy". (Biệt chú của người
dịch: ở đây ĐTC nhắc tới một trường hợp chia rẽ trầm trọng giữa Kitô
hữu đó là cuộc chiến 30 năm, cuộc chiến từ năm 1618 đến 1648, giữa hoàng đế Rôma
Thánh liên minh với Pháp, Thụy Điển, Tây Ban Nha với giáo phái Tin Lành Đức
quốc).
"Ở trong các giáo phận xưa kia của tôi, có lần tôi đã nghe được một
nhận định đáng chú ý và tích cực. Nhận định về một người đàn bà có tuổi,
người đã làm việc cho giáo xứ suốt cuộc đời của mình. Có người biết rõ về bà đã
nói rằng: 'người đàn bà này không bao giờ nói xấu về bất cứ một ai, không bao
giờ xì xèo rỉ tai đồn đoán, bà luôn luôn tươi cười'. Ngày mai có thể phong thánh
cho một người đàn bà như thế, thật là tốt lành, thật là một gương sáng".
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Xin chào buổi sáng Anh Chị Em thân mến!
Mỗi lần chúng ta lập lại việc tuyên xưng đức tin bằng việc đọc "Kinh Tin Kính",
chúng ta đều khẳng định rằng Giáo Hội "duy nhất" và "thánh thiện". Giáo Hội duy
nhất vì Giáo Hội bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm hiệp nhất và trọn
vẹn hiệp thông. Giáo Hội thánh thiện vì Giáo Hội được thiệt lập trên nền tảng
Chúa Giêsu Kitô, được sinh động bởi Thánh Linh tràn đầy tình yêu của Người và ơn
cứu độ của Người. Tuy nhiên, Giáo
Hội đồng thời vừa thánh thiện vừa bao gồm các tội nhân, bao gồm tất
cả chúng ta, chúng ta hằng ngày cảm nghiệm thấy những mỏng dòn của chúng ta và
những khốn nạn của chúng ta. Vậy đức tin mà chúng ta tuyên xưng đẩy chúng ta tới
chỗ hoán cải, can đảm sống hằng ngày mối hiệp nhất này và sự thánh thiện ấy, mà
nếu chúng ta không hiệp nhất, nếu chúng ta không thánh thiện là chúng ta không
trung thành với Người. Thế nhưng, Người không để chúng ta lẻ loi một mình; Người
không bỏ rơi Giáo Hội của Người! Người bước đi với chúng ta. Người hiểu chúng
ta. Người hiểu được những yếu hèn của chúng ta, tội lỗi của chúng ta, và Người
tha thứ cho chúng ta. Người luôn luôn tha thứ cho chúng ta. Người
bao giờ cũng ở với chúng ta, giúp chúng ta, và làm cho chúng ta trở thành ít tội
nhân hơn và nhiều thánh nhân hơn, cũng như hiệp nhất nên một hơn.
1- Niềm an ủi trước hết chúng ta xuất phát từ sự kiện là Chúa Giêsu đã cầu
nguyện rất nhiều cho mối hiệp nhất này của thành phần môn đệ. [...] Người đã cầu
nguyện cho mối hiệp nhất và Người đã làm như thế vào ngay trước Cuộc Khổ Nạn của
Người, khi Người sắp hy hiến mạng sống mình vì chúng ta. Đó là những gì chúng
ta được liên lỉ mời gọi đọc lại và suy niệm nơi một trong những trang sách
Phúc Âm cảm động của Thánh Gioan, đoạn 17 (xem các câu 11,21-23). Dễ thương biết
bao khi biết rằng ngay
trước khi chết Chúa đã không quan tâm đến bản thân mình mà là nghĩ đến chúng ta! Và
trong cuộc đối thoại đau lòng với Cha, Người đã thực sự cầu nguyện để chúng ta
có thể nên một với Người và với nhau. Đó, qua những lời ấy, Chúa Giêsu đã biến
thành vị chuyển cầu cùng Cha cho chúng ta, nhờ đó chúng ta cũng có thể được trọn
vẹn hiệp thông với Người. Đồng thời Người
ký thác chúng ta cho Ngài như là di chúc thiêng liêng của Người, nhờ đó mối hiệp
nhất càng có thể trở thành một dấu hiệu đặc biệt của các cộng đồng Kitô hữu
chúng ta và thành câu trả lời tuyệt vời nhất cho bất cứ ai muốn hỏi chúng ta về
lý do tại sao chúng ta lại ôm ấp niềm hy vọng (xem
1Phêrô 3:15).
2- "Cho họ được hiệp nhất nên một; như Cha ở trong Con và như Con ở trong
Cha, để họ cũng được ở trong Chúng Ta, nhờ đó thế gian nhận biết rằng Cha đã sai
Con" (Gioan 17:21). Giáo Hội ngay từ ban đầu đã tìm cách thể hiện ý định này,
một ý định rất tha thiết theo lòng
mong ước của Chúa Giêsu. Sách Tông Vụ nhắc nhở chúng ta rằng các Kitô hữu tiên
khởi đã trở nên nổi bật nhờ sự kiện có cùng "một tấm lòng và một linh hồn"
(4:32). Sau đó Thánh Phaolô đã huấn dụ các cộng đoàn của ngài đừng quên rằng họ
chỉ là "một thân thể" (1Cor 12:13). Tuy nhiên, kinh
nghiệm cho chúng ta thấy rằng có nhiều tội lỗi phạm đến hiệp nhất.
Chúng ta đừng vội nghĩ về những
thứ đại lạc thuyết và những thứ ly giáo; mà
chỉ cần nghĩ đến nhiều thứ thất bại chung nơi các cộng đồng của chúng ta,
về các tội lỗi "giáo xứ", với những thứ tội lỗi ấy trong các giáo xứ. Thật vậy, đôi
khi các giáo xứ của chúng ta, vốn được kêu gọi để trở thành nơi của sự chia sẻ
và hiệp thông, đã tiếc thay bị đánh dấu bởi những gì là bất mãn, tị hiềm, thù
hằn. Và tình trạng xì xèo rỉ tai này được lan truyền đến tất cả mọi người.
Tình trạng rỉ tai xì xèo ấy đang xẩy ra ở các giáo xứ biết là chừng nào!
Tình trạng ấy không tốt. [...] Đó không phải là Giáo Hội! Người ta không được
làm như thế, chúng ta không được làm như vậy! Chúng ta cần xin Chúa ơn đừng
làm điều ấy.
Đúng vậy, nó
là những gì nhân loại nhưng không phải là Kitô hữu! Điều ấy
xẩy ra khi chúng ta muốn chiếm chỗ nhất, khi chúng ta quan trọng hóa bản thân
mình như là những gì chủ chốt, bằng những tham vọng riêng của mình cũng như bằng
những cách thức nhận thức sự vật cùng phán đoán người khác; khi chúng ta nhìn
vào những lỗi lầm của anh chị em mình thay vì nhìn thấy các tặng ân của họ, khi
chúng ta coi trọng những gì là chia rẽ hơn là những gì đưa chúng ta lại với nhau.
3- Trước tất cả những sự ấy, chúng ta cần phải thực hiện một cuộc khảo xét lương
tâm một cách trân trọng. Trong
một cộng đồng Kitô hữu chia rẽ là một trong những trọng tội nhất, vì nó cho thấy
nó không phải là việc của Chúa mà là dấu hiệu của ma quỉ, kẻ tự bản chất là tên
gây chia rẽ, là tên hủy hoại các mối liên hệ, là tên xui xiểm những thành kiến
tổn thương. Trái lại, Thiên
Chúa muốn chúng ta lớn lên trong khả năng chấp nhận, thứ tha và yêu thương nhau,
muốn chúng ta càng trở nên như Người, Đấng là hiệp thông và yêu thương.
Sự thánh thiện của Giáo Hội là ở chỗ nhận biết mình là hình ảnh của Thiên Chúa,
tràn đầy tình thương của Ngài và ân sủng của Ngài [...]
Các bạn thân mến, chúng ta hãy để cho những lời này của Chúa Giêsu âm vang trong
lòng của chúng ta: "Phúc cho những ai hòa thuận, vì họ sẽ được gọi là con Thiên
Chúa" (Mathêu 5:9). Chúng ta hãy thành tâm xin ơn tha thứ về tất cả những lần
chúng ta đã trở nên dịp chia rẽ hay hiểu lầm trong cộng đồng của chúng ta, với ý
thức rõ ràng rằng không
thể nào đạt được hiệp thông nếu
không liên lỉ hoán cải. Chúng
ta hãy cầu nguyện để việc liên hệ giao tiếp hằng ngày của chúng ta có thể
phản ảnh một cách mỹ miều và hoan hỉ hơn bao giờ hết mối liên hệ giữa Chúa Giêsu
và Chúa Cha.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ http://www.zenit.org/en/articles/on-the-dangers-of-parish-sins
(nhan đề và các chỗ in nghiêng là do tự ý của người dịch)
Trong bài giáo lý Thứ Tư 27/4/2014, theo bản dịch của Zenit, có 2 chỗ [...],
một ở gần cuối đoạn 2 và một ở cuối đoạn 3. Bởi vì, 2 đoạn này là hai đoạn Đức
Thánh Cha nói buông, không theo bài bản đã được soạn dọn. Như thể ngài muốn khai
triển thêm những gì ngài muốn nói vào chính lúc bầy giờ. Theo tờ Vatican
Insider http://vaticaninsider.lastampa.it/en/the-vatican/detail/articolo/francesco-francis-francisco-chiesa-church-iglesia-35990/ thì
2 chỗ [...] tức 2 chỗ Đức Thánh Cha đã nói buông này là hai đoạn dưới đây:
[...] 1- "Điều ấy tốt hay không tốt? Nếu
có ai được chọn làm chủ tịch của một hội đoàn, thì có lời ra tiếng vào chống lại
anh ta. Có người được chọn làm trưởng ban giáo lý, cũng lời to tiếng nhỏ chống
lại chị ta" (một tràng vỗ tay nổi lên khi ngài nói như thế). "Tôi
không bảo anh chị em là hãy cắt lưỡi của anh chị em đi, không phải thế, mà là
hãy xin Chúa ơn biết kiểm chế...”.
[...] 2- "Có
rất nhiều chia rẽ giữa thành phần Kitô hữu chúng ta, nếu chúng ta nhìn vào lịch
sử của Giáo Hội! Thậm chí cho đến nay chúng ta vẫn đang chia rẽ nhau. Theo lịch
sử, là Kitô hữu, chúng ta đã gây chiến với nhau vì những khác biệt về thần học;
chúng ta hãy nghĩ đến Cuộc Chiến 30 Năm. Thế nhưng đó không phải là Kitô giáo.
Chúng ta đang chia rẽ nhau thậm chí cho đến giờ này: chúng ta cần phải xin ơn
hiệp nhất nơi tất cả mọi Kitô hữu, mối hiệp nhất mà Chúa Giêsu mong muốn, vì
Người đã nguyện cầu cho mối hiệp nhất ấy".
"Ở trong các giáo phận xưa kia của tôi,
có lần tôi đã nghe được một nhận định đáng chú ý và tích cực. Nhận định về một
người đàn bà có tuổi, người đã làm việc cho giáo xứ suốt cuộc đời của mình. Có
người biết rõ về bà đã nói rằng:
'người đàn bà này không bao giờ nói xấu về bất cứ một ai, không bao giờ xì xèo
rỉ tai đồn đoán, bà luôn luôn tươi cười'. Ngày mai có thể phong thánh cho một
người đàn bà như thế, thật là tốt lành, thật là một gương sáng".
"Căn tính Kitô giáo của chúng ta là thuộc về! Chúng ta là thành phần Kitô hữu
vì chúng ta thuộc về Giáo Hội"
Đức Thánh Cha Phanxicô - Giáo Lý về Giáo Hội bài 2 Thứ Tư 25/6/2014
Xin chào Anh Chị Em thân mến buổi sáng.
Hôm nay, trong Sảnh Đường Phaolô VI, có một nhóm hành hương khác cũng liên hệ
với chúng ta; họ là những người hành hương yếu bệnh, vì thời tiết này, giữa cái
nóng và cơn mưa có thể xẩy ra, họ cần phải ở trong đó là khéo nhất. Tuy nhiên,
họ được liên hệ với chúng ta qua màn hình thính thị. Bởi thế chúng ta liên kết
với nhau trong cùng một buổi Triều Kiến Chung. Hôm nay tất cả chúng ta sẽ cầu
nguyện đặc biệt cho họ, cho bệnh nạn của họ. Xin cám ơn anh chị em.
Trong bài giáo lý đầu tiên về Giáo Hội Thứ Tư tuần trước, chúng ta đã bắt đầu
bằng việc Thiên Chúa khởi động hình thành một dân tộc là thành phần sẽ mang phúc
lành của Ngài đến cho tất cả mọi dân tộc trên trái đất này. Ngài đã bắt đầu với
Abraham, để rồi sau đó, một cách rất nhẫn nại - Thiên Chúa rất nhẫn nại, Ngài
rất ư là nhẫn nại! - Ngài sửa soạn dân tộc này trong Cựu Ước để, trong Đức Giêsu
Kitô, họ là một dấu chỉ và là một dụng cụ hiệp nhất của loài người với Thiên
Chúa và với nhau (cf. Second Vatican Ecumenical Council, Constitution Lumen
Gentium, 1). Hôm nay, chúng ta muốn dừng lại ở tầm quan trọng đối
với Kitô hữu về việc thuộc về dân
tộc này. Chúng
ta sẽ nói về việc thuộc về Giáo Hội.
Chúng ta không phải là những người bị cô lập và chúng ta không phải là những
Kitô hữu với tư cách cá nhân, tự mình. Không. Căn
tính Kitô giáo của chúng ta là thuộc về! Chúng
ta là thành phần Kitô hữu vì chúng ta thuộc về Giáo Hội. Nó
giống như là một thứ tên họ vậy: nếu tên gọi -
"tôi là Kitô hữu" thì tên họ -
"tôi thuộc về Giáo Hội". Thật là tuyệt vời khi thấy rằng cái thuộc về này
cũng được bày tỏ nơi danh xưng Thiên Chúa gán cho mình. Khi trả lời cho ông
Moisen, trong trình thuật kỳ diệu về "bụi gai bốc cháy" (cf Ex 3:15), Ngài đã
thực sự diễn tả mình như là Vị
Thiên Chúa của Cha Ông. Ngài không xưng rằng: Ta là Đấng Toàn Năng...,
không: Ta là Thiên Chúa của
Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp. Nhờ đó, Ngài kêu gọi
chúng ta đến với mối liên hệ xẩy ra trước chúng ta ấy. Mối liên hệ của Thiên
Chúa với dân của Ngài xẩy ra trước tất cả chúng ta, nó xuất phát từ
thời điểm ấy.
Theo chiều hướng này, chúng ta tri ân nghĩ đến trước hết những
ai đã đi trước chúng tavà đã lãnh nhận chúng ta trong Giáo Hội. Không ai có
thể tự mình trở thành một người Kitô hữu! Điều này có rõ ràng không vậy? Không
ai tự mình có thể trở thành một Kitô hữu. Các Kitô hữu không được sản xuất trong
phòng thí nghiệm. Người Kitô hữu là phần tử của một dân tộc từ xa mà tới. Kitô
hữu thuộc về một dân tộc được gọi là Giáo Hội, và Giáo Hội này làm cho họ
thành một Kitô hữu vào ngày Rửa Tội của họ, cũng như sau đó trong tiến trình
giáo lý v.v. Tuy nhiên, không ai, không một ai tự mình có thể trở thành một Kitô
hữu. Nếu chúng ta tin tưởng, nếu chúng ta có thể cầu nguyện, nếu chúng ta nhận
biết Chúa và có thể lắng nghe Lời Ngài, nếu chúng ta cảm thấy Ngài gần gũi và
nhận ra Ngài nơi anh chị em, thì đó là vì những người khác, trước chúng ta,
những người đã sống đức tin và đã truyền lại đức tin ấy. Chúng ta đã lãnh
nhận đức tin này từ cha mẹ của chúng ta, từ tổ tiên của chúng ta, và các vị đã
dạy chúng ta niềm tin ấy. Nếu chúng ta nghĩ kỹ thì có lẽ là đã có biết bao nhiêu
là người thân yêu đã qua đi trước con mắt của chúng ta vào lúc này: có thể là
gương mặt của cha mẹ chúng ta là những vị đã xin cho chúng ta được lãnh nhận Bí
Tích Rửa Tội; hay là gương mặt của ông bà chúng ta, hoặc của những người họ hàng
nào đó đã dạy chúng ta làm dấu Thánh Giá và đọc những kinh nguyện đầu đời. Tôi
luôn nhớ đến dung nhan của Bà Dòng đã dạy giáo lý cho tôi, luôn ở trong đầu của
tôi - tôi tin rằng bà đang ở trên trời, vì bà là một người nữ thánh thiện - tôi
luôn nhớ đến bà và tôi cám ơn Thiên Chúa về Bà Dòng ấy. Hay dung nhan của một vị
linh mục coi xứ, hoặc một linh mục khác, một Bà Dòng nào đó, một giáo lý viên đã
truyền đạt cho chúng ta nội dung đức tin và giúp chúng ta tăng trưởng thành
người Kitô hữu... Thấy không, đó là Giáo Hội: một đại gia đình, trong đó chúng
ta được tiếp nhận và học hỏi để sống như là những tín hữu và là môn đệ của Chúa
Giêsu.
Chúng ta có thể sống cuộc hành trình này chẳng những nhờ ở các
người khác mà còn cùng với các người khác nữa. Vấn đề
"tự làm lấy - do it yourself" không có ở trong Giáo Hội; "những thứ thợ
xây độc lập - free builders" cũng thế. Biết bao lần Đức Giáo Hoàng Biển Đức
XVI đã diễn tả Giáo Hội là
một thứ giáo hội "chúng ta" (an ecclesial "we")! Biết
bao lần chúng ta đã nghe thấy điều này? Thế mà vấn đề này vẫn xẩy ra. Có những
người nghĩ rằng họ có thể có được một mối liên hệ riêng tư, trực tiếp, ngay liền
với Chúa Giêsu Kitô ở bên ngoài mối hiệp thông và môi giới của Giáo Hội. Đó là
những khuynh hướng nguy hiểm và tai hại. Như đại Đức Phaolô VI đã nói, chúng
là những thứ phân rẽ tương phản ngớ ngẩn (absurb dichotomies). Việc cùng nhau
bước đi thật sự là cần thiết, đôi khi nó có thể trở nên mệt mỏi, ở chỗ, một
người anh chị em nào đó gây chuyện trục trặc hay gương mù... Thế nhưng Chúa đã
ký thác sứ điệp cứu độ của Người cho con người, cho tất cả chúng ta, cho các
chứng nhân; và nó ở trong những người anh chị em của chúng ta, nơi các tặng ân
cũng như ở cả các thứ hạn hữu của họ, những gì qua đó Người đến để gặp gỡ chúng
ta và làm cho chúng ta nhận ra Người. Và đó là ý nghĩa của vấn đề thuộc về Giáo
Hội. Xin hãy nhớ kỹ điều ấy: là một Kitô hữu nghĩa là thuộc về Giáo Hội. Tên gọi
là "Kitô hữu" và tên họ là "thuộc Giáo Hội".
Các bạn thân mến, chúng ta hãy xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Trinh Nữ Maria,
Mẹ Giáo Hội, ơn đừng chiều theo khuynh hướng cho rằng chúng ta có thể làm mà
không cần đến các người khác, rằng chúng ta có thể làm mà không cần Giáo Hội,
rằng chúng ta có thể tự cứu mình, rằng chúng ta là thành phần Kitô hữu phòng thí
nghiệm (laboratory Christians). Trái lại, chúng ta không thể kính mến Thiên Chúa
mà lại không yêu thương anh chị em của chúng ta, chúng ta không thể kính mến
Thiên Chúa ở ngoài Giáo Hội; chúng ta không thể hiệp thông với Thiên Chúa mà
không ở trong Giáo Hội, và chúng ta không thể là một Kitô hữu tốt lành mà lại
không cùng với những người khác theo Chúa Giêsu, như là một dân tộc duy nhất,
như là một thân thể duy nhất, và đó mới là Giáo Hội. Xin cám ơn anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ http://www.zenit.org/en/articles/audience-address-on-belonging-to-the-church (những
chi tiết in đậm và nhan đề do tự ý người dịch)
"Kitô hữu chúng ta là dân chúc phúc, là thành phần có khả năng chúc phúc"
ĐTC Phanxicô Thứ Tư 18/6/2014 - Loạt Bài Giáo Lý về Giáo Hội: Bài 1
Xin chào buổi sáng Anh Chị Em thân mến. Chúc mừng anh chị em vì anh chị em
hay lắm trước một khí hậu không biết mưa hay chăng... Anh chị em giỏi lắm! Chúng
ta hy vọng hoàn tất buổi Triều Kiến Chung này mà không bị mưa, xin Chúa
thương đến chúng ta.
Hôm nay tôi bắt đầu loạt bài giáo lý về Giáo Hội. Nó giống như một đứa con nói
về người mẹ của mình, về gia đình của mình. Nói về Giáo Hội là là nói về người
mẹ của chúng ta, về gia đình của chúng ta. Thật vậy, Giáo Hội không phải là một
tổ chức hướng về bản thân mình hay là một hiệp hội tư nhân, một NGO (biệt chú
của người dịch: Non-Government Organization - cơ quan không thuộc chính
quyền), và người ta lại càng không được giới hạn Giáo Hội vào thành phần
giáo sĩ hay Tòa Thánh Vatican... "Giáo Hội nghĩ..." Thế nhưng tất cả chúng ta
là Giáo Hội! "Quí vị đang nói về aí đấy?" "Không phải về các vị linh mục phải
không..." À, các vị linh mục chỉ là một phần của Giáo Hội thôi, tất cả chúng ta
mới là Giáo Hội!
Giáo Hội không thể nào bị hạn hẹp vào các vị linh mục, vào các vị Giám Mục, vào
Tòa Thánh Vatican. Các vị đều thuộc về Giáo Hội, còn tất cả chúng ta mới là Giáo
Hội, tất cả là gia đình, tất cả là Người Mẹ. Giáo
Hội còn là một thực tại rộng lớn hơn thế nhiều, một thực tại hướng về toàn thể
nhân loại và là một thực tại không xuất phát từ một phòng thí nghiệm; Giáo Hội
không xuất hiện trong một phòng thí nghiệm, Giáo Hội không chớp nhoáng xuất hiện. Giáo
Hội đã được Chúa Giêsu thành lập nhưng đang là một dân tộc có một chiều dài lịch
sử trong quá khứ và đã được bắt đầu sửa soạn trước cả Chúa Giêsu nữa.
Lịch sử này, hay "tiền sử", về Giáo Hội đã được thấy ở những trang sách Cựu Ước.
Chúng ta đã nghe Sách Khởi Nguyên: Thiên Chúa đã chọn Abraham, người Cha
của chúng ta trong đức tin, và đã bảo ông ra đi, rời bỏ quê hương trần thế
của ông mà đến một miền đất khác như Ngài đã ấn định cho ông (xem 2:1-9). Nơi ơn
gọi này, Thiên Chúa đã không kêu gọi Abraham một mình, như là một cá nhân, mà
ngay từ ban đầu đã bao gồm cả gia đình của ông, họ hàng của ông cùng tất cả
những ai phục vụ trong nhà của ông. Một khi tiến hành - phải, đó là cách thức
Giáo Hội bắt đầu hành trình - thì bấy giờ Thiên Chúa lại nới rộng chân trời ra
và ban cho Abraham dồi dào phúc lành của Ngài, hứa ban cho ông muôn vàn giòng
dõi như sao trời cát biển. Chi tiết quan trọng nhất thật sự đó là bắt đầu từ Abraham
Thiên Chúa hình thành một dân tộc để lãnh nhận phúc lành của Ngài cho tất cả mọi
gia đình trên trái đất này. Mà Chúa Giêsu được sinh ra nơi dân tộc này.
Yếu tố thứ hai: không phải cho Abraham mới có chuyện cấu tạo nên một dân tộc vây
quanh ông, mà chính Thiên Chúa là Đấng đã ban sự sống cho dân tộc này. Thường
thì người ta là kẻ hướng về thực thể thần linh để tìm cách khỏa lấp khoảng cách
và kêu cầu để được nâng đỡ cùng được bảo vệ chở che. Người ta đã cầu cùng các
thần linh, các thực thể thần linh. Thế nhưng, ở trường hợp này, lại là những gì
chưa từng nghe thấy, đó là Đích Thân Thiên Chúa tự mình khởi động. Chúng
ta hãy nghe điều ấy: chính Thiên Chúa đã gõ cửa nhà của Abraham mà nói cùng ông
rằng: hãy đi, hãy đi khỏi mảnh đất của ngươi, hãy bắt đầu bước đi và Ta sẽ làm
cho ngươi thành một đại dân tộc. Và đó là khởi nguyên của Giáo Hội và Chúa
Giêsu được sinh ra nơi dân tộc này. Thiên Chúa là Đấng khởi động và ngỏ Lời của
Ngài với con người, tạo nên một liên kết và là một liên hệ mới với Ngài. "Thế
nhưng, thưa Cha, điều ấy xẩy đến ra sao? Thiên Chúa nói với chúng ta ư?" "Đúng
thế" "Vậy chúng ta có thể nói cùng Thiên Chúa hay chăng?" "Được
chứ". Điều ấy được gọi là cầu nguyện, thế nhưng chính Thiên Chúa đã thực
hiện điều này ngay từ đầu. Nhờ đó Thiên Chúa thành lập một dân tộc bao gồm tất
cả những ai nghe Lời của Ngài và ra đi, tin tưởng vào Ngài. Chỉ cần một điều
kiện duy nhất, đó là tin tưởng Thiên Chúa. Nếu anh chị em tin tưởng Thiên Chúa,
thì hãy lắng nghe Ngài và hãy ra đi, đó là những gì làm nên Giáo Hội. Tình yêu
của Thiên Chúa đi trước hết mọi sự. Thiên Chúa bao giờ cũng ở đầu,
Ngài đến trước chúng ta, Ngài đi trước chúng ta. Tiên Tri Isaia, hay Tiên Tri
Giêrêmia, tôi không nhớ rõ lắm, đã nói rằng Thiên Chúa như một bông hoa của cây
hạnh đào (almond), vì nó là cây đầu tiên nở hoa trong mùa xuân - tức là Thiên
Chúa bao giờ cũng nở hoa trước chúng ta. "Thế nhưng, thưa Cha, tôi không tin như
thế, vì nếu Cha biết được cuộc đời của con, đã từng quá ư là tệ, thì làm sao con
có thể tin rằng Thiên Chúa lại đang chờ đợi con chứ?" "Thiên Chúa đang đợi chờ
con. Nếu con đã từng là một đại tội nhân thì Ngài lại càng chờ đợi con hơn nữa
và Ngài hết sức yêu thương đợi chờ con, vì Ngài có trước nhất. Đó là vẻ đẹp của
Giáo Hội, một vẻ đẹp dẫn chúng ta đến cùng Vị Thiên Chúa là Đấng chờ đợi chúng
ta này!" Ngài đã có trước Abraham, Ngài cũng có trước cả Adong nữa.
Abraham và những người của ông lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa và ra đi, cho
dù không biết rõ vị Thiên Chúa này là ai và Ngài muốn dẫn họ đến đâu. Thật vậy,
vì Abraham ra đi, tin tưởng vào vị Thiên Chúa đã nói cùng ông này, cho dù ông
không có một cuốn sách về thần học để học biết vị Thiên Chúa này là gì. Ông tin
tưởng, ông tin tưởng vào tình yêu thương. Thiên Chúa đã làm cho ông cảm thấy
tình yêu ấy và ông tin tưởng. Tuy nhiên, điều ấy không có nghĩa là dân tộc này
bao giờ cũng được thuyết phục và trung thành. Thật vậy, ngay từ ban đầu đã xẩy
ra những thứ cưỡng chống, một quay đầu về với chính mình và những khoái thú của
mình cũng như khuynh hướng mặc cả với Thiên Chúa và khuynh hướng giải quyết các
sự việc theo đường lối riêng của mình. Đó là những thứ bội phản và tội lỗi hằn
vết trên con đường của dân tộc ấy suốt giòng lịch sử cứu độ, một lịch sử về
lòng trung thành của Thiên Chúa và sự bất trung của dân tộc này. Tuy nhiên,
Thiên Chúa vẫn không mệt mỏi; Thiên Chúa vẫn nhẫn nại. Ngài rất ư là nhẫn
nại, và theo thời gian Ngài tiếp tục dạy dỗ và huấn luyện dân của Ngài, như
người cha với đứa con của mình. Thiên Chúa bước đi với chúng ta. Tiên Tri Hosea
nói rằng: "Ta vẫn bước đi với các ngươi và Ta vẫn dạy các ngươi bước đi như
người cha dạy cho con cái mình bước đi vậy". Tuyệt vời thay hình ảnh về Thiên
Chúa ấy! Và cả với chúng ta nữa: Ngài dạy chúng ta bước đi. Ngài cũng có cùng
một thái độ như thế khi đối xử với Giáo Hội. Thật vậy, cả chúng ta nữa, bất chấp
chúng ta dứt khoát theo Chúa Giêsu, hằng ngày vẫn cảm thấy cái tôi và cái cứng
lòng của chúng ta. Tuy nhiên, khi chúng ta tự nhận mình là tội nhân thì Thiên
Chúa làm cho chúng ta tràn đầy tình thương của Ngài và tình yêu của Ngài. Ngài
tha thứ cho chúng ta, Ngài bao giờ cũng tha thứ cho chúng ta. Thật vậy,
chính điều ấy đã làm cho chúng ta tăng trưởng như là thành phần dân của Thiên
Chúa, như Giáo Hội: nó không phải là công khó của chúng ta, không phải là công
lênh của chúng ta - chúng ta chỉ là một cái gì bé mọn; không phải vậy hay sao -
thế nhưng hằng ngày lại cảm nghiệm thấy tình Chúa yêu thương chúng ta và chăm
sóc cho chúng ta biết bao. Chính điều ấy làm cho chúng ta cảm thấy Ngài thực sự,
trong bàn tay của Ngài, và làm cho chúng ta gia tăng mối hiệp thông với Ngài và
với nhau. Trở
thành Giáo Hội là cảm thấy mình ở trong bàn tay của Thiên Chúa, Đấng là Cha và
là Đấng yêu thương chúng ta, chăm sóc cho chúng ta, đợi chờ chúng ta, và làm cho
chúng ta cảm thấy nỗi dịu dàng của Ngài. Đó
là những gì tuyệt vời!
Các bạn thân mến, đó là dự án của Thiên Chúa; khi Ngài kêu gọi Abraham thì Thiên
Chúa đã nghĩ đến dự án này, đó là hình thành một dân tộc phúc đức nhờ tình yêu
thương của Ngài, một dân tộc sẽ mang phúc lành của Ngài cho tất cả mọi dân tộc
trên trái đất này. Dự án này là những gì không đổi thay; nó luôn luôn được tiến
hành. Nó đã hoàn thành nơi Chúa Kitô và ngày nay Thiên Chúa lại tiếp tục hiện
thực nó nơi Giáo Hội. Vậy chúng ta hãy xin ơn trung thành theo Chúa Giêsu và
lắng nghe Lời của Người, sẵn sàng ra đi hằng ngày, như Abraham, tiến về mảnh đất
của Thiên Chúa và của nhân loại, quê hương chân thực của chúng ta, nhờ đó trở
thành ân phúc, thành dấu hiệu của tình yêu Thiên Chúa đối với tất cả mọi con cái
của Ngài. Tôi thích nghĩ đến một đồng nghĩa, một danh xưng khác mà Kitô hữu
chúng ta có thể có được như thế này: chúng ta là những con người nam nữ, chúng
ta là dân chúc phúc. Kitô hữu bao giờ cũng cần phải chúc phúc bằng đời sống của
mình, họ cần phải chúc tụng Thiên Chúa và chúc phúc cho tất cả mọi người. Chúng
ta, Kitô hữu, là dân chúc phúc, là thành phần có khả năng chúc phúc. Đó là
một ơn gọi tuyệt vời!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo http://www.zenit.org/en/articles/pope-s-audience-address-on-the-church.
(Đầu đề và những chỗ in mầu nghiêng là do người dịch tự ý nhấn mạnh)
Phụ thêm của người dịch:
Trong bài giáo lý, ĐTC Phanxicô truy nguyên về "tiền sử" của Giáo Hội được
bắt đầu từ tổ phụ Abraham, như thế chúng ta cũng có thể suy diễn rằng hình ảnh
về Giáo Hội đã được tỏ hiện một cách nào đó ngay từ đầu của mạc khải thánh
kinh, ở đoạn thứ hai của Sách Khởi Nguyên: "người nam lìa bỏ cha mẹ mình mà
gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thân thể" (2:24).
Thật vậy, nếu "người nam" trong câu thánh kinh này là Adong thì bấy giờ
Adong đâu có ai là cha mẹ mà bỏ để gắn bó với vợ mình là Evà! Bởi thế, "người
nam" ấy phải chăng ám chỉ Chúa Kitô, vị đã bỏ Cha mình mà xuống trần gian để
cưới lấy nhân loại và nên một với Giáo Hội!?! Và nếu vợ chồng ở trên trần gian
này thực sự không thể nào "nên một thân thể" với nhau về thể lý, thì vấn đề
"nên một thân thể" phải chăng ám chỉ nhiệm thể Giáo Hội có Chúa Kitô là Đầu và
Giáo Hội là thân thể của Người bao gồm đủ mọi chi thể Kitô hữu?