SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XIII Thường Niên 28/6-4/7/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


Chúa Nhật

Cải tử hoàn sinh

Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh vẫn còn tiếp tục ở Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, như trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XIII Thường Niên Nam B hôm nay (Marco 5:21-43 hay 5:21-24,35a-43) cho thấy, qua phép lạ Chúa Giêsu hồi sinh người con gái đã chết của ông Giairô nhờ lòng tin tưởng của ông.

Thật vậy, thái độ "sụp lạy và van xin" của một trưởng hội đường như ông, được Thánh ký Marco diễn tả trong bài Phúc Âm hôm nay đã chứng tỏ đức tin của ông: "Trông thấy Người, ông sụp lạy và van xin rằng: 'Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi và được sống'". 

Chính Chúa Giêsu "là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25) cũng muốn lợi dụng trường hợp người con gái của ông để tỏ mình ra. Bởi thế, cho dù đứa con gái của ông đã "chết rồi", như người nhà của ông báo cho ông biết và can ông rằng: "còn phiền Thầy làm chi nữa?" nhưng chính Chúa Giêsu bấy giờ lại đích thân trấn an ông và củng cố đức tin cho ông: "Ông đừng sợ, hãy cứ tin".

Tại sao Chúa Giêsu lại tỏ ra ân cần với người cha trưởng hội đường này một cách đặc biệt như vậy? Phải chăng vì ông có đức tin? Bằng không, ông không thể nào bỏ đứa con gái đang hấp hối gần chết và chết bất cứ lúc nào của mình ở nhà để đích thân tìm đến với Người, nhỡ ở nhà con gái của ông chết thì sao, và như thế thì ông không được nhìn nó lần cuối. Để đề phòng ông có thể sai gia nhân hay thân nhân đi đến với Chúa Giêsu thay cho ông cũng được vậy, nhưng ông lại không làm thế, chứng tỏ ông hết lòng tin tưởng cậy trông nơi Đấng duy nhất có thể cứu con ông.

Chưa hết, nếu Chúa Giêsu không chậm trễ một chút bởi người đàn bà loạn huyết 12 năm được chữa lành trên đường Người đến nhà ông Giairô thì có thể Người đã đến nhà ông ngay trước khi người con gái của ông chết. Thế nhưng, vì Người có quyền cải tử hoàn sinh cho bất cứ một con người nào, như sau này Người đã làm cho Lazarô chết 4 ngày vẫn có thể hồi sinh (xem Gioan 11:43-44), mà Người đã không cần hấp tấp hối hả. Có lẽ vì việc chữa lành cho người đàn bà loạn huyết 12 năm này không hợp với chủ đề "sự sống" nên Giáo Hội không buộc phải đọc đoạn liên quan đến người đàn bà này.

Về những trường hợp người chết được Chúa Giêsu cải tử hoàn sinh, như trường hợp Lazarô đã chết mà Người bảo là đang ngủ (xem Gioan 11:11) thế nào thì trường hợp của người con gái ông Giairô này cũng thế, như Thánh ký marcô thuật lại: "Chúa Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: 'Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó'".

Thật vậy, Chúa Giêsu đến trần gian này không phải chỉ để cứu vớt linh hồn người ta mà cả thân xác của họ nữa, nghĩa là Người cứu toàn thể bản tính của con người (bao gồm cả hồn lẫn xác), bằng chính nhân tính Người mặc lấy để có thể tử giá và phục sinh, nhờ đó, nơi Người, nhân tính của loài người đã bị hư đi bởi nguyên tội, được giải cứu khỏi tội lỗi và sự chết. 

Thế nên, đối với người và theo công cuộc cứu độ của Người thì con người chết đi chẳng khác gì như là một giấc ngủ để chờ ngày phục sinh từ trong cõi chết. Cái chết đáng sợ nhất, cái chết thật sự là chết, không còn bao giờ hồi sinh sống lại nữa, vĩnh viễn hư đi, không thể nào còn cứu được nữa đó là "cái chết lần thứ hai", như được Sách Khải Huyền nói tới (xem 2:11; 20:6,14; 21:8).

Theo dự án thần linh của mình, Thiên Chúa tạo dựng nên loài người là để cho họ được hiệp thông thần linh với Ngài, được sống sự sống thần linh của Ngài và với Ngài muôn đời muôn kiếp, chứ không phải để đầy đọa họ, bởi thế, sau khi họ bị tiêm nhiễm nọc độc sự chết từ ma quỉ, Ngài chẳng những không trừng phạt họ như trừng phạt ma quỉ mà còn sai Con Một của Ngài xuống trần gian vô cùng thấp hèn và chịu chết vô cùng khốn khổ nhục nhã để giải cứu họ khỏi sự chết và tội lỗi cùng ban sự sống cho họ. 

Sách Khôn Ngoan (1:13-15; 2:23-25) trong bài đọc 1 hôm nay đã cảm nhận, xác tín và tuyên xưng như thế: "Thiên Chúa không tạo dựng sự chết, chẳng vui mừng khi người sống phải chết. Người tác thành mọi sự cho có. Người tạo dựng mọi sự trên mặt đất đều lành mạnh, chúng không có nọc độc sự chết, và không có địa ngục ở trần gian. Vì chưng, công chính thì vĩnh cửu và bất tử. Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, để sống vĩnh viễn. Nhưng bởi ác quỷ ghen tương, nên tử thần đột nhập vào thế gian: kẻ nào thuộc về nó thì bắt chước nó".

Thánh Phaolô Tông Đồ, ở bài đọc 2 hôm nay, qua Thư 2 gửi Giáo Đoàn Corinto (8:7,9,13-15), cũng đã căn cứ vào gương sống quảng đại của Chúa Kitô, "Vị mục tử nhân lành hiến mạng sống mình vì chiên... cho chiên được sống và sống viên mãn" (Gioan 10:11,10): "mặc dù giàu sang, Người đã nên thân phận nghèo khó, để nhờ việc nghèo khó của Người, anh em nên giàu có", để huấn dụ Kitô hữu ở đây sống bác ái yêu thương nhau được thể hiện bằng việc bù đắp tình trạng thiếu thốn của nhau: "Trong hoàn cảnh hiện tại, sự dư giả của anh em bù đắp lại chỗ thiếu thốn của họ, để sự dư giả của họ bù đắp lại sự thiếu thốn của anh em". 

Trước tình yêu vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng dựng nên con người để cho họ được sống, và cho dù có đã chết đi cũng đã được Ngài cải tử hoàn sinh nơi Người Con của Ngài, mà loài người nói chung và những ai thuộc về Dân Chúa nói riêng cần phải có một tâm tình tri ân cảm mến chúc tụng Ngài, như Bài Thánh Vịnh 29 (2 và 4,5-6,11-12a và 13b) trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Chúa đã đưa linh hồn con thoát xa âm phủ; Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. 

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Ngài, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. 


3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con. Lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. 



Thứ Hai


Sự sống homeless


Hôm nay, 29/6, Phụng Vụ của Giáo Hội trọng kính nhị vị đại Tông Đồ Phêrô và Phaolô. 


Thánh Phêrô trước hết là một trong những chứng nhân tiên khởi của Chúa Kitô, bằng quyền năng chữa lành và không gì có thể ngăn cản, như bài đọc 1 trong cả lễ vọng lẫn lễ chính ngày cho thấy (xem Tông Vụ 3:1-10; 12:1-11); sau nữa ngài là vị đại diện Chúa Kitô trên trần gian để chăn dắt đoàn chiên của Người, như bài Phúc Âm lễ vọng cho thấy (xem Gioan 21:15-19); và sau hết ngài còn là vị Giáo Hoàng tiên khởi được Chúa Kitô trao chìa khóa quyền năng giáo huấn cho, như được Thánh ký Mathêu đề cập đến trong bài Phúc Âm cho lễ chính ngày (Mathêu 16:13-19).


Thánh Phaolô là một tín đồ Do Thái giáo nhiệt thành hơn bất cứ một ai, nhưng đã được Chúa Kitô tuyển chọn đặc biệt để rao giảng tin mừng đặc biệt cho dân ngoại, một tin mừng ngài đã lãnh nhận trực tiếp từ chính Chúa Kitô chứ không bởi bất cứ một ai, như bài đọc 2 trong lễ vọng cho thấy (xem Galata 1:11-20), và ngài đã trung thành với sứ vụ rao giảng tin mừng cho dân ngoại cho đến cùng để xứng đáng lãnh nhận triều thiên vinh phúc Chúa ban, như trong bài đọc 2 trong lễ chính ngày đề cập tới (xem 2Timothêu 4:6-8,17-18). 


Có những năm sẽ xẩy ra là hôm nay lại không trùng với Lễ Thánh Phêrô và Phaolô, nên phần phụng vụ Lời Chúa cho Thứ Hai Tuần XIII Thường Niên bao gồm bài đọc 1 ( Khởi Nguyên 18:16-33) và Phúc Âm (Mathêu 8:18-22). 


Bài Phúc Âm cho ngày trong tuần hôm nay rất ngắn gọn, chỉ bao gồm 2 câu trả lời của Chúa Giêsu cho 2 trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ 1 về "Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng: 'Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo'" , và trường hợp thứ 2 về "Một người khác là người môn đệ thưa với Người: 'Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã.'"

 


Chúa Giêsu đã trả lời cho vị kinh sư rằng "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu", và trả lời cho người môn đệ rằng: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ". 

 


Trước hết, chúng ta thấy nơi 2 câu Chúa Giêsu trả lời như thế này: câu thứ nhất cho vị kinh sư hoàn toàn có tính chất khách quan, thách đố và mời gọiđể vị kinh sư này suy nghĩ xem có thể theo Người là một tôn sư homeless vô gia cư để rồi tự quyết định lấy. 


Trái lại, câu trả lời thứ hai của Người (hình như) cho một trong thành phần môn đệ đã theo Người ngỏ lời xin phép Người cho về nhà lo phần an táng thân phụ của mình, có tính cách chủ quan, cương quyết và nghiêm ngặt, như thể đã theo Người thì không được coi ai hơn Người, dù là thân nhân ruột thịt của mình, và vì thế đừng lo chuyện thế gian, hãy để cho thế gian lo chuyện thế gian, "phần con, hãy theo Thày" (Gioan 21:22). 


Cả 2 câu trả lời này đều phản ảnh Bài Giảng Trên Núi về các Phúc Đức Trọn Lành mà Người đã huấn dụ các môn đệ của Người. Câu trả lời thứ nhất liên quan đến mối phúc đức trọn lành "ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật, vì chưng Nước Chúa Trời là của họ" (Mathêu 5:3), và câu trả lời thứ hai liên quan đến lời huấn dụ của Người: "Trước hết hãy tìm Nước Chúa và sự cống chính của Ngài, còn tất cả mọi sự khác sẽ được ban cho sau" (Mathêu 6:33). 


Tóm lại, qua hai câu trả lời này, Chúa Giêsu kêu gọi ai muốn theo Người thì phải sống trọn lành hơn, một sự sống như Người (câu trả lời 1) và với Người (câu trả lời 2), một sự sống nhờ đó mới có thể "nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" (Mathêu 5:48). 


Bài đọc 1 năm lẻ hôm nay, được trích từ Sách Khởi Nguyên (18:16-33) cho thấy vai trò của thành phần công chính đẹp lòng Thiên Chúa có thể mang lại lợi ích thiêng liêng cho tha nhân, nhất là thành phần tội lỗi, thành phần nhờ một thiểu số công chính nhân mà không bị trừng phạt mà được sống. Chính Thiên Chúa vì muốn cứu thành Sôđôma và Gômôra nên mới tiết lộ dự tính trừng phạt thành này cho Abraham là một người công chính, để ông biết mà ngỏ lời can thiệp vào việc cứu thành này, và quả thực ông đã can thiệp bằng cách mặc cả tay đôi với Chúa với 5 con số: từ 50 còn 45, còn 30, còn 20, còn 10. 



Thứ Ba

"Muốn sống thì đừng nhìn lại"

Bài Phúc Âm hôm nay của Thánh ký Mathêu (8:23-27) tương tự như bài Phúc Âm của Thánh ký Marco cho Chúa Nhật XII Thường Niên vừa rồi. 

Tương tự ở 3 điểm sau đây: 1- thày trò đang ở trên cùng một thuyền thì "biển động dữ dội, đến nỗi sóng phủ lên thuyền, thế mà Người vẫn ngủ"; 2- cảm thấy hoảng sợ "Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy mà rằng: 'Lạy Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!'"; 3sau khi thấy Người dẹp yên bão tố xong thì các môn đệ tỏ vẻ kinh ngạc về Người: "Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục?".

Thế nhưng, có một chi tiết hơi khác nhau giữa 2 bài phúc âm cùng thuật về một biến cốđó là thái độ của Chúa Giêsu trước tâm trạng của các môn đệ khi gặp nạn bấy giờ. Trong khi ở bài Phúc Âm Thánh ký Marco Chúa Giêsu dẹp yên sóng gió đã rồi mới lên tiếng khiển trách lòng tin của các môn đệ: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?", thì ở bài Phúc Âm Thánh ký Mathêu hôm nay Người lại khiển trách các vị trước khi ra tay dẹp yên bảo tố: "Hỡi những kẻ yếu lòng tin! Sao các con nhát sợ?" 

Trong câu Chúa Giêsu khiển trách sau khi dẹp yên bão tố, vấn đề sợ hãi trước rồi mới tới đức tin sau, như thể Người muốn nói với các vị rằng: "Vì các con sợ nên các con mới yếu tin, nên Thày đã tỏ quyền năng của Thày ra để các con tin vào Thày hầu sau này có bị nạn các con không sợ hãi nữa"; còn ở câu Người khiển trách trước khi ra tay khuất phục sóng gió, vấn đề đức tin trước sợ hãi sau, như thể Người muốn nói với các vị rằng: "Vì các con yếu tin nên các con mới sợ, bởi vậy Thày sẽ tỏ cho các con biết Thày là ai để các con lần sau không cảm thấy sợ hãi nữa khi Thày đang ở với các con". 

Trong bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, từ Sách Khởi Nguyên (19:15-29), Thiên Chúa cũng đã ra tay cứu Lot và gia đình của người cháu Abraham này khi Ngài ra tay thiêu hủy thánh Sođôma và Gômôra, và sở dĩ gia đình người cháu này được cứu là nhờ ở vị tổ phụ công chính luôn tin tưởng vào Chúa ấy: "Khi Chúa phngười cháu này đã cư ngụ".

Thiên Chúa đã vì Abraham mà cứu cháu Lot của ông và gia đình cháu, đến độ, như Sách Khởi Nguyên trong bài đọc 1 hôm nay kể: "Khi ông Lót còn đang do dự, các thiên thần nắm tay ông cùng vợ ông và hai con gái ông, vì Chúa muốn cứu thoát ông. Các thiên thần kéo ông ra ngoài thành và nói: 'Ngươi muốn sống thì hãy chạy đi, đừng nhìn lại phía sau; cũng đừng dừng lại nơi nào cả trong miền quanh đây, nhưng hãy trốn lên núi, để khỏi chết lây!'"

Sở dĩ người cháu này của tổ phụ Abraham tỏ ra lưỡng lự không phải vì tiếc của hay vì không tin vào thần sứ của Thiên Chúa cho bằng xin chạy đi lánh nạn ở một thành phố nhỏ gần đó hơn là lên núi: "Lạy Chúa tôi, tôi van xin Ngài: Tôi tớ Chúa đã được Chúa thương yêu, và Chúa đã tỏ lòng khoan dung đại độ gìn giữ mạng sống tôi. Tôi không thể trốn lên núi kẻo gặp sự dữ mà chết mất. Gần đây có một thành phố nhỏ, tôi có thể chạy tới đó và thoát nạn. Thành đó chẳng nhỏ bé sao, xin cho tôi ẩn tránh tại đó để được sống".

Thiên Chúa chẳng những đã chiều theo ý của người cháu này mà còn vì người cháu ấy mà không thiêu hủy thành mà người cháu ấy ngỏ ý muốn đến trú ẩn nữa: "'Thôi được, ta cũng chiều ý ngươi xin mà không tàn phá thành ngươi đã nói tới. Ngươi hãy mau mau trốn thoát tới đó, vì ta chẳng làm được gì trước khi ngươi đi tới đó'. Bởi vậy thành ấy được gọi là Segor. Mặt trời vừa mọc lên thì ông Lót vào đến thành Segor. Vậy Thiên Chúa cho mưa sinh diêm và lửa từ trời xuống trên thành Sôđôma và Gômôra". 

Như thế, chúng ta thấy, chính nhờ đức tin được thể hiện qua đời sống công chính mà Abraham đã cứu được gia đình cháu Lot của ông khỏi bị thiêu hủy trong thành mà cháu đã sống, và cũng nhờ đức tin công chính của người cháu Lót này của ông mà thành phố có sự hiện diện của người cháu ấy đã thoát bị thiêu hủy. 

Trong Bài Đáp Ca hôm nay, được trích từ Thánh Vịnh 25 (2-3,9-10,11-12), tâm tình của thành phần công chính, như của tổ phụ Abraham hay của Cháu Lot của ông, đã được bày tỏ cùng Thiên Chúa như sau:

1) Lạy Chúa, xin hãy thăm dò và thử thách con, xin Ngài luyện lọc thận tạng và tâm can. Vì con nhìn xem tình thương Ngài trước mắt, và con sống theo chân lý của Ngài. 


2) Xin đừng cất linh hồn con cùng linh hồn người tội lỗi, đừng cất mạng sống con cùng mạng sống kẻ sát nhân; bọn người này nắm chặt tội ác trong tay, và tay hữu chúng ôm đầy lễ vật.


3) Phần con, con vẫn sống tinh toàn, xin Ngài giải thoát và xót thương con. Chân con đứng vững trong đường bằng phẳng, trong các buổi hội họp, con sẽ chúc tụng Chúa. 



Thứ Tư

"từ trong đám mồ mả"

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Phúc Âm Thánh Ký Mathêu (8:28-34) cho Thứ Tư Tuần XIII Thường Niên, Thánh ký Mathêu thuật lại việc Chúa Giêsu trừ quỉ cho hai người bị quỉ ám.

Có mấy chi tiết hay hay trong câu chuyện trừ quỉ lần này có một không hai của Chúa Giêsu: trước hết là chi tiết không phải thân nhân của hai nạn nhân xin Chúa Giêsu trừ quỉ cho họ; sau nữa là chi tiết "hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người", trong khi đó có lẽ 2 người này chưa bao giờ đã từng gặp Chúa Giêsu mà lại nhận ra Người, chắc là nhờ đám quỉ tinh quái ám họ; sau hết là chi tiết chính Chúa Giêsu không trực tiếp ra tay trừ bọn quỉ ấy, mà chính bọn quỉ muốn xuất khỏi hai người bị chúng ám này, để tránh khỏi bị Người khu trừ: "Bọn quỷ nài xin Người rằng: 'Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia'". 


Qua câu chuyện này chúng ta thấy ma quỉ nhận biết Chúa Kitô là ai và đến thế gian để làm gì: "Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?" Đúng như lời Thánh Gioan viết trong Thư Thứ Nhất của ngài: "Chính là để phá hủy các công việc của ma quỉ mà Con Thiên Chúa đã tỏ mình ra" (3:8). 

Công việc của ma quỉ là gì, nếu không phải là những gì liên quan đến chết chóc, nên hai người bị quỉ ám đã sống ở nơi "mồ mả" chết chóc, và chết chóc lại liên quan đến xác thịt (cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - "khuynh hướng của xác thịt thiên về sự chết" - Roma 7:6), nên bọn quỉ đã xin nhập vào đàn heo là loài vật vốn được tiêu biểu cho xác thịt, khiến cho "tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết".

Quả vậy, sau nguyên tội, con người như bị quỉ ám, bởi bản tính của loài người đã bị nọc độc tội lỗi và chết chóc của ma quỉ tiêm nhiễm vào, khiến họ bắt đầu xu hướng về tội lỗi và rất dễ sa ngã phạm tội. Bởi nơi bản thân họ đã chất chứa sẵn mầm mống tội lội là đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu, những thứ mầm mống tội lỗi đóng vai trò làm nội công cho ma quỉ, như thể con người bị ma quỉ cài đặt sẵn tần số tội lỗi nơi họ, đến độ nó chẳng cần cám dỗ con người mà chỉ cần sử dụng bộ phận viễn khiến - remote control từ hỏa ngục là con người cũng đủ quay cuồng mù quáng làm theo ý muốn gian ác của chúng.

Cho dù con người có lãnh nhận Phép Rửa chăng nữa, họ chỉ được khỏi nguyên tội (nếu mới sơ sinh) và tư tội (nếu đã khôn lớn) cùng với các hình phạt kèm theo tội lỗi, nhưng bản tính của họ vẫn còn nguyên mầm mống nguyên tội là đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu và vẫn phải chịu hậu quả nguyên tội là đau khổ và chết chóc. Tuy nhiên, bởi Phép Rửa họ có được sự sống thần linh, một sự sống của Đấng Vượt Qua "nắm toàn quyền trên trời dưới đất" (Mathêu 28:18), nhờ đó họ có thể cùng với Chúa Kitô Phục Sinh chiến thắng tội lỗi và sự chết. 

Trong bài đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Khởi Nguyên (21:5,8-20), chúng ta thấy xuất hiện đứa con sinh bởi xác thịt của tổ phụ Abraham với người tỳ nữ Ai Cập Agar. Đứa con mang tên Ismael này cho dù không phải là đứa con sinh bởi lời hứa như Isaac, và vì thế không được thừa hưởng gia nghiệp của vị tổ phụ này theo lời hứa của Thiên Chúa, nhưng "vì nó là dòng dõi ngươi" mà nó cũng được Thiên Chúa quan tâm chăm sóc theo thân phận và sứ mệnh thiên định của nó

"Thiên Chúa nghe thấy tiếng đứa trẻ và từ trời sứ thần Thiên Chúa gọi Hagar và nói: 'Sao thế, Hagar? Đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nghe thấy tiếng đứa trẻ, ở chỗ nó nằm. Đứng lên! Đỡ đứa trẻ dậy và ôm nó trong tay, vì Ta sẽ làm cho nó thành một dân tộc lớn'. Thiên Chúa mở mắt cho nàng, và nàng thấy một giếng nước. Nàng đi đổ nước đầy bầu da, rồi cho đứa trẻ uống. Thiên Chúa ở với đứa trẻ, nó lớn lên, sống trong sa mạc, và trở thành người bắn cung". 


Phải chăng giòng dõi của Ismael này là khối Ả Rập Hồi giáo hiện nay, một khối dân hầu hết theo Hồi giáo cũng tin kính tổ phụ Abraham, và giòng dõi của đứa con của lời hứa Isaac là dân Do Thái, tuy nhỏ bé cả về địa dư lẫn dân số (khoảng hơn kém 15 triệu dân khắp thế giới) giữa một khối Ả Rập khổng lồ bao gồm cả 22 quốc gia hùng hậu cả về dân số (khoảng 422 triệu dân) lẫn địa dư, hầu hết tập trung ở vùng Trung Đông và Tiểu Á, nhưng vẫn ngang nhiên tồn tại một cách hết sức gai mắt đối với Khối Ả Rập mà khối khổng lồ này vẫn không thể nào ăn tươi nuốt sống họ nổi?

Phải chăng Thiên Chúa để như vậy cho có lợi cho cả đôi bên: bên Khối Ả Rập Hồi giáo nhận biết rằng Thiên Chúa ở cùng dân tộc được Ngài tuyển chọn, và bên Dân Do Thái luôn ý thức về thân phận của mình được Thiên Chúa ưu tuyển giữa chư dân và cho chư dân nói chung, nhất là Khối Ả Rập Hồi giáo là anh em cùng tổ phụ Abraham với họ?

Phải chăng trận chiến thiêng liêng giữa xác thịt hùng mạnh và thánh sủng thiêng liêng trong linh hồn cũng thế, cũng liên lỉ kéo dài như tới thiên thu bất tận, và thường xác thịt thắng thế nhưng chẳng những vẫn không làm gì nổi thánh sủng mà còn nhờ thánh sủng trong linh hồn mà được thanh tẩy và thánh hóa nữa?


Thứ Năm

ằng nào dễ hơn"

Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh tiếp tục với bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần XIII Thường Niên hậu Phục Sinh hôm nay, trong đó, Thánh ký Mathêu (9:1-8) đã thuật lại việc Chúa Giêsu chữa một người bại liệt để tỏ quyền năng tha tội của Người, một sự kiện tha tội liên quan đến sự sống thần linh

"Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: 'Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi!'" 

Thật vậy, chính vì nguyên tội mà con người đã bị chết về phần hồn (xem Khởi Nguyên 2:17) kèm theo cả cái chết về phần xác là hậu quả tất yếu của tội lỗi nữa (xem Khởi Nguyên 3:19). Tất cả những khổ đau con người phải chịu trên trần gian này đều là biểu hiệu của sự chết cả về tâm linh lẫn thể xác. Chứng bại liệt nơi thân xác của con người, như nạn nhân trong bài Phúc Âm hôm nay, chẳng những là hậu quả của nguyên tội mà còn là biểu hiệu cho tình trạng bất lực của con người mang bản tính nhiễm lây nguyên tội nữa. 


Đó là lý do, một khi con người được tha tội là con người được giải phóng về phần hồn, và vì bệnh nạn tật nguyền về phần xác gây ra bởi tội lỗi mà họ cũng có thể thoát được những chứng bệnh họ đang mắc phải, như trường hợp của người bất toại ở bài Phúc Âm hôm nay. Cho dù được khỏi tội mà không khỏi bệnh con người có tâm hồn trong sạch theo lòng tin tưởng vẫn có thể sống với bệnh tật một cách an bình, thậm chí còn lợi dụng được cả bệnh tật để làm vinh danh Chúa nữa (xem Gioan 9:3). 

Có ích gì cho con người nếu thân xác được lành mạnh mà lại lạm dụng nó để sống đời tội lỗi chứ. Nếu thà mất đi một phần thân thể mà được vào Nước Trời còn hơn lành cả thân xác mà bị quẳng vào hỏa ngục (xem Mathêu 5:29), thì đúng như Chúa Giêsu nói với thành phần "kinh sư nghĩ bụng rằng: 'Ông này nói phạm thượng'", "trong hai điều: một là bảo: 'Con đã được tha tội rồi', hai là bảo: 'Đứng dậy mà đi', điều nào dễ hơn?"


Đối với Thiên Chúa thì "con đã được tha tội rồi" thì "dễ hơn", còn đối với loài người thiển cận và dính bén với trần thế thì "đứng dậy mà đi" thì "dễ hơn", "dễ hơn" ở chỗ họ (nếu là nạn nhân) được "dễ" chịu hơn, vì được khỏi bệnh, và ở chỗ họ (thành phần khán giả hay chứng dự) "dễ" nhận hơn vì thấy được tỏ tường quyền năng thần linh. 

Bởi thế, Chúa Giêsu đã phải chiều theo khuynh hướng của loài người, hay nói đúng hơn, đã lợi dụng yếu điểm tò mò của loài người để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó họ có thể thấy được vị thế thần linh siêu việt của Người, một vị thế vượt trên tất cả mọi vị tiên tri trong lịch sử của họ, hơn cả Moisen là vị cứu tinh dân tộc của họ cũng đã thực hiện không ít dấu lạ, một vị thế thần linh ở nơi quyền tha tội của Người, một con người như họ và ở giữa họ

"Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt: 'Đứng dậy, vác giường đi về nhà!' Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế".


Tuy nhiên, cho dù Thiên Chúa có quyền tha tội cho con người qua Con của Ngài một cách "dễ" dàng như thế, Ngài vẫn không "dễ" dãi với Con của Ngài, trái lại, Thiên Chúa "đã không dung tha cho Con của Ngài, một phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), nghĩa là Ngài muốn, hay đúng hơn, Ngài "bắt" Người Con duy nhất vô cùng dấu yêu của Ngài phải khổ nạn và tử giá vô cùng hèn hạ và ô nhục như một hy tế đền bù tội lỗi của nhân loại và cho nhân loại, một tội phạm đến Ngài là Đấng vô cùng thì cũng phải có một Đấng vô cùng là Con Ngài đền thay mới cân xứng.


Cuộc khổ nạn và tử giá của Người Con duy nhất chí ái này của Thiên Chúa cho phần rỗi của chung loài người, như trong bài đọc 1 hôm nay trích Sách Khởi Nguyên (22:1-19) cho thấy, đã được tiên báo ở biến cố tổ phụ Abraham (hình bóng của Thiên Chúa Cha) sẵn sàng sát tế Isaac là người con duy nhất (hình bóng Chúa Giêsu Kitô: "Chiên làm lễ toàn thiêu, chính Thiên Chúa sẽ liệu") được sinh ra theo lời hứa cho một dân tộc "đông như sao trời cát biển" (ám chỉ thành phần dân thánh Chúa, thành phần được cứu độ).

Thế nhưng, chính lúc "Abraham đưa tay ra cầm lấy dao để sát tế con mình" thì "sứ thần Thiên Chúa từ trời gọi ông: 'Abraham! Abraham!... Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!... Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta'".

 


Thứ Sáu

"với bọn thu thuế và quân tội lỗi"

Nếu bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến quyền năng tha tội của Chúa Giêsu thì bài Phúc Âm cho Thứ Sáu Tuần XIII Thường Niên hôm nay (Mathêu 9:9-13), tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, liên quan đến tội nhân, đúng hơn liên quan đến sứ vụ của Người đối với thành phần tội nhân.

Đúng thế, sau khi gọi "một người tên là Mathêu đang ngồi tại trạm... 'Anh hãy theo tôi!'", Chúa Giêsu đã đến nhà của viên thu thuế này để "dùng bữa ... có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ", và hậu quả xẩy ra là: "Thấy vậy, những người Pharisiêu nói với các môn đệ Người rằng: 'Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như thế chứ?'".

Nếu chính vì loài người tội lỗi mà "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), thì sứ vụ của Người đó là "tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại" (Luca 19:10), nên Người càng cần phải làm sao để có thể đến gần với họ hơn ai hết và hơn bao giờ hết, nhờ đó họ có thể cảm nghiệm được tình thương của Người mà trở về nhà Cha của Người. Đó là lý do: 

"Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói: 'Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi'".

Trước mặt Thiên Chúa loài người không ai là người công chính, tất cả đều là tội nhân đáng thương và cần được cứu độ, bao gồm cả tổ phụ Abraham vốn được xưng "là cha của tất cả các kẻ tin" (Roma 4:11), thậm chí kể cả đệ nhất tạo vật về ân sủng là Mẹ Maria, cho dù được hoài thai vô nhiễm nguyên tội, cũng đã chân nhận là mình được cứu độ (được gìn giữ một cách đặc biệt nhờ hưởng trước ơn cứu chuộc của Chúa Kitô Con Mẹ), như lời Mẹ tuyên xưng trong Ca Vịnh Ngợi Khen của Mẹ: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hân hoan trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi" (Luca 1:46-47), huống chi là thành phần biệt phái (Pharisiêu) trong dân Do Thái, thành phần bị Chúa Giêsu thậm tệ quở trách là "đồ giả hình", "thứ gian trá", "những hướng đạo viên mù quáng" (xem Mathêu toàn đoạn 23). 

Đời sống và thái độ của họ tỏ ra như thể họ là "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc". Thế nhưng, họ đã hoàn toàn lầm lạc, chỉ sống theo chữ nghĩa của lề luật hơn là tinh thần của lề luật, và sử dụng chính lề luật để xét đoán xấu cùng lên án tha nhân và khinh bỉ thành phần "thu thuế và tội lỗi", nghĩa là để sát hại hơn là để cảm thông và cứu giúp, hoàn toàn ngược với cốt lõi của dự án thần linh, phản lại với cõi lòng yêu thương vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa. Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã khuyên thành phần biệt phái kiêu hãnh về đời sống công chính hoàn toàn giả tạo của họ rằng: "Hãy về mà học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân lành chứ đâu cần lễ tế".

Thiên Chúa tỏ tình yêu vô cùng nhân hậu của Ngài ra ở mạc khải Thánh Kinh, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, cho cả tội nhân (bằng việc tha thứ) cũng như chính nhân (bằng việc chăm sóc). Trong bài đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Khởi Nguyên (23:1-4,19; 24:1-8,62-67), chúng ta cũng thấy lòng nhân lành của Thiên Chúa được tỏ ra qua việc Ngài chăm sóc cho vị tổ phụ Abraham và Isaac con ông, khi Ngài sắp xếp cho người con được sinh ra bởi lời hứa này lấy được người vợ đúng như lòng mong ước của vị tổ phụ, một lòng mong ước trước hết ở chỗ trung thành với tất cả những gì Thiên Chúa muốn, không hề dám làm gì trái ý của Ngài.

Vị tổ phụ này cương quyết không muốn cho người con trai được sinh ra theo lời hứa này của ông lấy con gái xứ Canaan dân ngoại là nơi ông đang sống, và ông cũng không muốn cho người con trai quí báu này của ông lấy bất cứ người con gái nào ở nơi ông đã bỏ đi từ đó mà đến xứ Canaan này, nhưng lấy một người con gái thuộc chính gia tộc của ông. Ông đã dặn người lão bộc đã ở với ông ngay từ đầu như thế, bằng một lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng thần linh nhân hậu của Thiên Chúa:

"'Chú hãy đặt tay dưới đùi tôi, và tôi xin chú nhân danh Thiên Chúa là Chúa trời đất, mà thề rằng chú sẽ không cưới cho con trai tôi một người vợ trong số con gái xứ Canaan, nơi tôi đang sống. Nhưng chú sẽ về quê tôi, đến với họ hàng tôi, mà cưới vợ cho con tôi là Isaac'. Người lão bộc thưa với ông: 'Có thể người đàn bà ấy không chịu đi theo tôi về đất này; vậy tôi có phải đưa cậu con trai ông về đất mà từ đó ông đã ra đi không?' Ông Abraham bảo người ấy: 'Coi chừng, đừng có đưa con trai tôi về đó! Thiên Chúa là Chúa Trời, Đấng đã đưa tôi ra khỏi nhà cha tôi, khỏi quê hương tôi, Đấng đã phán với tôi và thề với tôi rằng: 'Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất này', chính Người sẽ sai sứ thần Người đi trước mặt chú, để từ nơi đó chú cưới vợ về cho con tôi. Nếu người đàn bà không chịu đi theo chú, thì chú không còn buộc phải giữ lời thề với tôi nữa. Nhưng dù sao, cũng đừng đưa con tôi về đó".


Quả thực, qua đoạn Sách Khởi Nguyên không được trích dẫn (vì quá dài), giữa đoạn trên đây và đoạn dưới đây, chúng ta thấy được Thiên Chúa chính là Đấng xe duyên kết nghĩa cho con người được Ngài hứa cho xuất phát một dân tộc đông như sao trời cát biển, nhưng dân tộc đông như sao trời cát biển bao gồm tất cả những ai được cứu độ ấy lại cần phải được chung hưởng gia nghiệp với một giòng dõi được tuyển chọn là dân Do Thái, bắt đầu từ cặp vợ chồng Isaac và Rebeca:


"Khi ấy cậu Isaac đã bỏ vùng giếng Beer-lahai-roi, và đang ở trong miền Negeb. Cậu Isaac ra ngoài đồng dạo mát lúc chiều tà. Ngước mắt lên, cậu thấy một bầy lạc đà đang tiến đến. Ngước mắt lên, cô Rebeca thấy cậu Isaac, cô bèn từ trên lưng lạc đà nhảy xuống và hỏi người lão bộc: 'Người đang đi ngoài đồng tiến về phía chúng ta là ai đó?' Người lão bộc trả lời: 'Chủ tôi đấy!' Cô bèn lấy chiếc khăn che mặt. Người lão bộc thưa lại với cậu Isaac tất cả những gì ông đã làm. Cậu Isaac đưa cô Rebeca vào lều của bà Sara mẹ cậu; cậu lấy cô làm vợ, cậu yêu thương cô và khuây khoả được nỗi buồn mất mẹ". 



Thứ Bảy

"rượu mới bầu mới"

Bài Phúc Âm hôm nay (Mathêu 9:14-17), Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên, ghi lại câu trả lời của Chúa Giêsu về vấn đề được "các môn đệ ông Gioan" (Tẩy Giả) đặt ra: "Tại sao chúng tôi và các người Pharisiêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?".

Câu trả lời của Chúa Giêsu cho họ là: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai".

Bài Phúc Âm hôm nay tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, mà bài Phúc Âm hôm qua về việc Chúa Giêsu cùng với các môn đệ của Người ngồi ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi ở nhà viên thu thuế Mathêu sau khi chàng được Người kêu gọi theo Người. Có thể vì thế mà việc thày trò của Người mới trở thành vấn đề (gương mù) ngứa mắt cho thành phần môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả  vốn chay tịnh nhiệm nhặt theo gương thày của họ. 

Bởi vì, thành phần môn đệ của vị tiền hô ấy chắc chắn không thể nào quên được những gì vị thày rất khả kính của họ đã hết lời nói hay nói tốt về Đức Kitô là "một Đấng đến sau nhưng cao trọng hơn tôi, tôi không đáng cởi giây giầy cho Người" (Gioan 1:27). Thế mà giờ đây nhân vật được thày họ ca tụng hết mình ấy lại ngồi "ăn nhậu" ngon lành với bọn thu thuế và tội lỗi đáng khinh bỉ và xa lánh trong xã hội!

Tuy nhiên, trong câu chất vấn của những người môn đệ theo Tiền Hô Gioan Tẩy Giả không hề đặt vấn đề với chính Chúa Giêsu mà chỉ đặt vấn đề về các môn đệ của Người mà thôi "Tại sao chúng tôi và các người Pharisiêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?". Có lẽ họ thấy các môn đệ hầu hết có vẻ quê mùa của Người ăn uống một cách tự nhiên thoải mái không kiêng cữ gì, chẳng những lần này ở nhà của viên thu thuế Mathêu mà còn ở những lần khác nữa hay chăng, trong khi Chúa Giêsu Thày của họ có ngồi chung bàn ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi cũng vẫn tỏ ra tư cách xứng đáng là một bậc sư phụ của các vị.

Trong câu trả lời của mình, Chúa Giêsu đã ám chỉ Người là "chàng rể" và các môn đệ của Người là thành phần "khách dự tiệc cưới". Không biết nhóm môn đệ chất vấn Chúa Giêsu có hiểu câu trả lời bóng bẩy nhưng đầy ý nghĩa sâu xa của Người hay chăng. 

Chỉ biết rằng, Người cố ý nói là khi Người còn ở với các môn đệ và sống với các môn đệ thì các vị chưa cần phải chay tịnh, "cho đến khi chàng rể bị đem đi rồi thì bấy giờ họ mới ăn chay", nghĩa là cho tới khi Người "đi để dọn chỗ cho các con" (Gioan 14:3), tức là "đi" tử nạn, nhờ đó cho dù "các con sẽ than van khóc lóc còn thế gian thì hân hoan, nhưng nỗi sầu thương của các con trong một thời gian sẽ trở thành niềm vui" (Gioan 16:20), như hai tông đồ Phêrô và Gioan đã cảm thấy "tràn đầy hân hoan" chính khi các vị bị cấm đoán và hành hạ (xem Tông Vụ 5:41). 

Trường hợp của hai tông đồ Phêrô và Gioan này đúng là trường hợp "rượu mới thì đổ vào bầu mới": nếu "rượu mới" đây ám chỉ giáo huấn trọn lành của Chúa Kitô, thì "bầu mới" (chứ không phải "bầu cũ" ám chỉ tinh thần vị luật như khuynh hướng và lối sống của nhóm luật sĩ và biệt phái) để có thể đựng thứ "rượu mới" này đó là tinh thần vị tha, là "lòng nhân lành" mà Chúa Kitô đã mong muốn trong bài Phúc Âm hôm qua, một "lòng nhân lành" rất thích hợp với thứ "rượu mới" là "giới răn mới" của Người (Gioan 13:34), và nhờ đó mới có thể hiện thực "giới răn mới" này được: ở chỗ "các con hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con" (Gioan 13:34). 

Bài đọc 1 hôm nay, trích từ Sách Khởi Nguyên (27:1-5,15-29), cũng cho thấy hai tính cách tương phản, chay tịnh (vất vả) và tiệc cưới (hân hoan), ở chỗ, trong khi Esau cần phải vất vả mới có thể đáp ứng những gì cha yêu cầu nhờ đó mới được cha chúc phúc cho, trong khi đó Giacóp lại chiếm được phúc của cha một cách dễ dàng vui vẻ không vất vả như anh của mình, nhờ có bà mẹ khôn khéo là Rebeca.

Thật vậy, bà Rebeca đã tỏ ra yêu con thứ hơn con trưởng, bởi Giacóp dường như luôn quanh quẩn ở nhà với mẹ, vụng về chứ không tài giỏi xông xáo như anh, nhưng lại dễ nghe lời mẹ và hoàn toàn cậy dựa vào mẹ của mình, nên được mẹ chăm sóc đặc biệt, nhất là trong lần được cha chúc phúc này, ở chỗ, bà chẳng những mách bảo ý định của cha cho Giacóp biết, mà còn tìm cách giúp cho Giacóp vừa không bị lộ lại vừa thỏa đáng món ăn cha thích. Sách Khởi Nguyên trong bài đọc hôm nay đã trình thuật như sau:

"Đang khi ông Isaac nói với Esau, con trai ông, thì bà Rebeca nghe được. Esau đi ra đồng để săn thú mang về.

Bà Rebeca lấy áo của Esau, con trai lớn của bà, áo sang nhất mà bà có ở nhà, và mặc cho Giacóp, con trai nhỏ của bà. Bà lấy da dê non mà bọc lấy tay và phần cổ nhẵn nhụi của cậu. Rồi bà đặt món ăn ngon và bánh đã làm vào tay Giacóp, con bà".


"Gia-cóp thưa với cha: 'Con là Esau, con trưởng của cha; con đã làm như cha bảo. Mời cha ngồi dậy xơi món thịt rừng của con, để cha đích thân chúc phúc cho con'. Ông Isaac hỏi con: 'Con ơi ! sao con tìm được mau thế?' Cậu thưa: 'Chúa, Thiên Chúa của cha, đã cho con gặp được may mắn'. Ông Isaac bảo Giacóp: 'Con ơi, lại gần đây, để cha rờ con, xem con có đúng là Esau, con cha, hay không'. Gia-cóp lại gần ông Isaac, cha ông; ông rờ cậu và nói: 'Tiếng thì tiếng Giacóp, mà tay là tay Esau'. Ông không nhận ra cậu, vì tay cậu lông lá như tay Esau, anh cậu; thế là ông chúc lành cho cậu. Ông hỏi: 'Con có đúng là Esau, con cha không?' Cậu thưa: 'Vâng, chính con'. Ông nói: 'Con ơi, bưng lại cho cha ăn món thịt rừng, để cha đích thân chúc phúc cho con'. Cậu bưng lại cho ông, ông ăn; rồi cậu đem rượu đến, ông uống. Ông Isaac, cha cậu, bảo: 'Con ơi, lại gần đây và hôn cha đi!' Cậu lại gần và hôn ông. Ông hít mùi áo cậu và chúc phúc cho cậu".