SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XVII Thường Niên

26/7-1/8/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


Chúa Nhật

sự sống tăng bội

Bài Đọc I: 2 V 4, 42-44

Đáp Ca: Tv 144, 10-11. 15-16. 17-18

Bài Đọc II: Ep 4, 1-6
Phúc Âm: Ga 6, 1-15

Chủ đề "sự sống" từ Mùa Phục Sinh vẫn còn tiếp tục với Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XVII Thường Niên Năm B hôm nay, qua biến cố bánh hóa ra nhiều nuôi dân chúng, ở cả bài Phúc Âm cũng như ở Bài Đọc 1

Trước hết, bài Phúc Âm hôm nay không phải là bài Phúc Âm theo Thánh ký Marcô của chu kỳ Năm B như các Chúa Nhật thường niên khác trong năm này, mà là bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan. Và nguyên đoạn 6 của Phúc Âm Thánh ký Gioan về chủ đề Bánh Hằng Sống sẽ được Giáo Hội chọn đọc cho 5 Chúa Nhật liền, từ Chúa Nhật Thường Niên XVII hôm nay đến Chúa Nhật Thường Niên XXI. 

Việc chuyển từ bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô tuần trước sang bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan tuần này cũng hết sức ăn khớp với nhau. Ở chỗ, bài Phúc Âm của Thánh ký Marco tuần trước cho biết Chúa Giêsu động lòng thương khi thấy đám đông dân chúng như chiên không người chăn nên Người đã giảng dạy cho họ nhiều điều (xem Marco 6:34), và bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan hôm nay cho biết rằng Chúa Giêsu Chúa Giêsu đã giảng dạy cho họ nhiều điều đó là về Bánh Hằng Sống.

Tuy nhiên, trước khi giảng cho dân chúng nghe về Bánh Hằng Sống, Phúc Âm của Thánh ký Gioan hôm nay cho chúng ta biết rằng Người đã làm phép lạ bánh hóa ra nhiều để nuôi dân chúng đã, chứ không phải giảng rồi mới cho họ ăn, như trong Phúc Âm của Thánh ký Marcô thuật lại ngay sau bài Phúc Âm của tuần trước (xem Marco 6:34-44). Như thế, Chúa Giêsu nhân từ cũng rất tâm lý trong trường hợp này, đó là Người cho dân chúng ăn no nê trước đã rồi mới giảng dạy họ nhiều điều, nhờ đó họ mới có sức để nghe lời của Người, theo kiểu "có thực mới vực được đạo".

Các chi tiết trước và sau phép lạ bánh hóa ra nhiều được Thánh ký Gioan thuật lại chi tiết hơn Thánh ký Marco, hay Thánh ký Mathêu (14:13-21) và Luca (9:10-17) khi 3 vị này cũng thuật lại về biến cố phép lạ hóa bánh ra nhiều lần nhất này. Thánh ký Gioan chỉ tường thuật phép lạ bánh hóa nhiều lần 1 mà thôi, chứ không thuật thêm lần 2 cách lần nhất không lâu để nuôi 4 ngàn người từ 7 ổ bánh và dư 7 thúng đầy, như 3 vị của Phúc Âm Nhất Lãm (xem Mathêu 15:32-38; Marco 8:1-9; Luca 9:43-45).

Tuy cả 4 Phúc Âm đều thuật lại về việc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất này có những con số giống nhau là 5 chiếc bánh và 2 (hay vài) con cá (Mathêu 14:17; Marco 6:38; Luca 9:13; Gioan 6:9), và còn dư 12 thúng đầy sau khi nuôi 5 ngàn người (xem Mathêu 14:20-21; Marco 6:43-44; Luca 9:17,14; Gioan 6:13,10), Thánh ký Gioan còn cho biết mấy chi tiết đặc biệt nữa: 1- về thời điểm bánh hóa nhiều lần nhất đó là "Lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái đã gần tới"; về địa điểm xẩy ra phép lạ bánh hóa ra nhiều: "bên kia biển Galilêa, cũng gọi là Tibêria", nơi Chúa Kitô sẽ hiện ra với 7 tông đồ và nấu nướng cho các vị ăn sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết (xem Gioan 21:1,9-10,12-13).

Về cách thức hóa bánh ra nhiều, trong khi 3 Thánh Ký của bộ Phúc Âm Nhất Lãm đều thuật là các cử chỉ của Chúa Giêsu giống nhau bao gồm 4 hành vi chính yếu của Người thứ tự đó là: 1- cấm lấy bánh, 2- ngước mắt lên trời, 3- đọc lời chúc tụng, 4- bẻ ra trao cho các môn đệ (Mathêu 14:19; Marco 6:41; Luca 9:16), thì Thánh ký Gioan lại đơn giản hóa hơn, chỉ có 2 trong 4 cử chỉ trên đây mà thôi, như sau: "Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích". 

Ở đây, chính Chúa Giêsu đích thân trao bánh (trước) và cá (sau) cho dân chúng là "các kẻ ngồi ăn", chứ không qua trung gian các tông đồ như trong bộ Phúc Âm Nhất Lãm, một cử chỉ chính Người sau này cũng làm với 7 tông đồ ở bờ Biển Hồ Tibêria vào lần hiện ra thứ 3 với các tông đồ: "Chúa Giêsu tiến đến cầm lấy bánh mà trao cho các vị, rồi Người cũng làm như thế với cá(Gioan 21:13). 

Nếu chính Chúa Giêsu đi đến từng người để "phân phát" c bánh (trước) lẫn cá (sau) cho họ, với con số đông đến 5 ngàn người, thì không biết đến bao giờ mới xong. Có lẽ Người cũng bảo các tông đồ cùng làm với Người hay chăng, như thành phần thừa tác viên ngoại lễ cho rước lễ ngày nay vậy. Người vẫn là chính, họ chỉ là phụ, chứ không phải hoàn toàn thay Người làm việc đó. 

Dầu sao đây cũng là cử chỉ cho thấy Chúa Giêsu tỏ ra trân trọng từng con người. Ở chỗ đích thân Người chăm sóc cho họ, phục vụ họ. Như Người đã thực sự đích thân cúi mình xuống để rửa chân cho từng người tông đồ môn đệ của Người trước Bữa Tiệc Ly (xem Gioan 13:5), chứ không bảo các tông đồ rửa chân cho nhau hay cho những người Người muốn rửa chân (xem Gioan 13:15). 

Người đích thân ban tặng bản thân của Người cho chung nhân loại cũng như cho riêng từng người. Việc Người lập Bí Tích Thánh Thể không phải là việc Người đến với từng người hay sao, một sự việc đã được tiên báo nơi tác động "Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn". Và Bánh Thánh Thể của Người không hóa ra nhiều hay sao khi được bẻ ra, vì theo đức tin, từng miếng bánh nhỏ nhất, thậm chí từng vụn bánh thánh đều chất chứa tất cả bản thân Người: Nhân tính, bao gồm Mình và Máu cùng Linh Hồn của Người, với Thần tính của Người.

Như thế, bánh và cá được biến hóa ra nhiều đến dồi dào xẩy ra, từ việc Chúa Giêsu trao bánh và cá cho dân chúng, vì 5 ổ bánh và 2 con cá do các tông đồ kiếm được từ một thiếu niên bấy giờ, như một chút đóng góp vào công việc quyền năng của Thiên Chúa tiêu biểu cho "hoa mầu ruộng đất và lao công của con người", tự mình chúng có được một khả năng tăng bội, nhờ 2 tác động chính yếu "cầm lấy" và "tạ ơncủa Chúa Giêsu. 

Tuy nhiên, mục đích của việc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng về phần xác nhắm đến lợi ích về phần hồn của họ hơn là thuần về phần xác của họ, hơn là lý do chính trị, để được dân chúng tôn vinh chúc tụng. Bởi thế, như Thánh ký Gioan thuật lại ở cuối bài Phúc Âm: "Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: 'Thật ông này là Đấng tiên tri phải đến trong thế gian'. Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ đến bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình".

Bài Đọc 1 hôm nay đã cho thấy sự kiện tiên báo về phép lạ bánh hóa ra nhiều này của Chúa Giêsu liên quan 3 đến tiên tri Êlisê và người đầy tớ của vị tiên tri với bánh được dâng hiến cho vị tiên tri này:

"Trong những ngày ấy, có một người từ Baal-salisa mang đến dâng cho Êlisê, người của Thiên Chúa, bánh đầu mùa, hai mươi chiếc bánh mạch nha và lúa mì đầu mùa. Người của Thiên Chúa liền nói: 'Xin dọn cho dân chúng ăn'. Đầy tớ của người trả lời: 'Tôi dọn bấy nhiêu cho một trăm người ăn sao?' Nhưng người ra lệnh: 'Cứ dọn cho dân chúng ăn, vì Chúa phán như sau: Người ta ăn rồi mà sẽ còn dư'. Đoạn người dọn cho họ ăn mà còn dư đúng như lời Chúa phán".

Trong Bài Đọc 2 hôm nay, phép lạ hóa bánh ra nhiều có thể được hiểu theo ý nghĩa hiệp nhất một cách đa dạng trong Thiên Chúa là Đấng chân thật duy nhất hiện diện và tác động mọi sự theo ý của Ngài:

"Anh em hãy hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái; hãy lo bảo vệ sự hợp nhất tinh thần, lấy bình an hoà thuận làm dây ràng buộc. Chỉ có một thân thể và một tinh thần, cũng như anh em đã được kêu gọi đến cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha hết mọi người, Đấng vượt trên hết mọi người, hoạt động nơi mọi người, và ở trong mọi người".


Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa cảm nhận thần linh về một Vị Thiên Chúa đáng chúc tụng bởi Ngài ân cần chăm sóc cho tạo vật của Ngài một cách dồi dào theo lòng từ bi nhân hậu của Ngài.


1) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài. 

 


2) Muôn loài để mắt cậy trông vào Chúa, và Ngài ban lương thực cho chúng đúng theo giờ. Chúa mở rộng bàn tay ra, và thi ân cho mọi sinh vật được no nê. 


3) Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. Chúa gần gũi những kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu cầu Ngài cách thành tâm. 



Thứ Hai

sự sống nhỏ mọn

Bài Đọc I: (Năm I) Xh 32, 15-24. 30-34
Đáp Ca: Tv 105, 19-20. 21-22. 23
Phúc Âm: Mt 13, 31-35

Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu hôm nay, Thứ Hai Tuần XVII Thường Niên tiếp tục loạt bài Phúc Âm về các dụ ngôn Nước Trời của Chúa Giêsu ở đoạn 13. 

Dụ ngôn đầu tiên (trong bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước) trong loạt dụ ngôn này là dụ ngôn người gieo giống ra đi gieo giống liên quan đến 4 loại môi trướng tiếp nhận hạt giống, và dụ ngôn thứ hai (trong bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước) cũng về người gieo giống nhưng là giống tốt trong ruộng của mình liên quan đến cỏ lùng. Dụ ngôn hôm nay, dụ ngôn thứ ba cũng liên quan đến hạt giống, nhưng là loại hạt cải, được Chúa Giêsu sử dụng để ám chỉ về Nước Trời như sau:

"Nước trời giống như hạt cải người kia gieo trong ruộng mình. Hạt ấy bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống, nhưng khi mọc lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây, đến nỗi chim trời đến nương náu nơi ngành nó".

Ngoài ra, song song với dụ ngôn này, như là một cặp dụ ngôn bất khả phân ly về Nước Trời, một dụ ngôn được Chúa Giêsu đề cập đến ngay sau đó, đó là dụ ngôn: "Nước trời giống như men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba đấu bột, cho đến khi bột dậy men".

Cặp dụ ngôn hôm nay đây và cặp dụ ngôn vào Thứ Tư tuần này về Nước Trời không được Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa ám chỉ của những gì trong dụ ngôn, như Người đã dẫn giải dụ ngôn thứ 1 (trong bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần trước) và như Người đã dẫn giải dụ ngôn thứ 2 (trong bài Phúc Âm ngày mai). 

Thế nhưng, không phải vì thế mà 2 cặp dụ ngôn này tự chúng là những gì dễ hiểu, trái lại, như các dụ ngôn được Người dẫn giải, chúng vẫn là những điều bí ẩn, sâu nhiệm, như câu kết của bài Phúc Âm hôm nay cho thấy về chung các dụ ngôn:

"Chúa Giêsu dùng dụ ngôn mà phán những điều ấy với dân chúng. Người không phán điều gì với họ mà không dùng dụ ngôn, để ứng nghiệm lời tiên tri đã chép rằng: 'Ta sẽ mở miệng nói lời dụ ngôn: Ta sẽ tỏ ra những điều bí nhiệm từ lúc dựng nên thế gian'".

Dầu sao tính tò mò của con người vẫn muốn biết được ý nghĩa ám chỉ của các cặp dụ ngôn về Nước Trời không được Chúa Giêsu giải thích ấy, không phải chỉ thỏa tính tò mò mà nhất là để nắm bắt được thực tại của Nước Trời hầu có thể hưởng ứng và đáp ứng một cách xứng đáng.

Trước hết, "Nước trời giống như hạt cải người kia gieo trong ruộng mình" - Phải chăng "hạt cải" ở đây Chúa Giêsu ám chỉ đến mầu nhiệm nhập thể của Người: "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14)? "Hạt ấy bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống" - Phải chăng, Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến mầu nhiệm khổ giá, ở chỗ Người chẳng những đã "tự hạ ra như không" (Philiphê 2:6) mà còn "vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá" (xem Philiphê 2:8)? "Nhưng khi mọc lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây, đến nỗi chim trời đến nương náu nơi ngành nó" - Phải chăng Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến mầu nhiệm phục sinh và thăng thiên của Người, ở chỗ "Thiên Chúa đã tôn vinh Người và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu..."(Philiphê 2:9).
 
Sau nữa, "Nước trời giống như nắm men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba đấu bột, cho đến khi bột dậy men". Phải chăng "nắm menChúa Giêsu muốn ám chỉ đến sự sống thần linh nói chung và mầu nhiệm Thánh Thể cùng với các bí tích chất chứa sự sống nói riêng? Phải chăng "người đàn bà" trong dụ ngôn Người muốn ám chỉ đến Giáo Hội đóng vai trò làm mẹ có nhiệm vụ ban phát sự sống thần linh này bằng việc ban các bí tích nhất là việc cử hành Thánh Thể? Phải chăng "ba đấu bột" cần phải "dậy men" ở đây, tức cần phải "được sống và sống dồi dào hơn" (Gioan 10:10), Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến đấu bột thứ nhất là từng Kitô hữu, chi thể của Chúa Kitô, đấu bột thứ hai là chung Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô, và đấu bột thứ ba là toàn thể xã hội loài người?

Nếu Moisen là nhận vật được Thiên Chúa tuyển chọn để giải phóng dân của Ngài khỏi làm nô lệ ở Ai Cập, nhờ đó Moisen là hình bóng báo trước một Đấng Thiên Sai sẽ đến để giải phóng nhân loại nói chung, trong đó có cả dân Do Thái, khỏi tội lỗi và sự chết, thì trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cho thấy Moisen có thể được coi là một "hạt cảI" trong thửa ruộng cộng đồng dân Do Thái, một con người chẳng là gì trước nhan Thiên Chúa, nhưng lại vươn lên thành cây vĩ đại cho chim trời làm tổ, ở chỗ đã trở thành một con người có thế lực trước Thiên Chúa, với vai trò đại diện cho dân tộc của mình mà chuyển cầu để h khỏi bị Ngài tiêu diệt bởi tội thờ bỏ vàng của họ:

"Hôm sau Moisen nói với dân: 'Các ngươi đã phạm một tội rất lớn, nhưng bây giờ ta sắp lên với Giavê: có lẽ ta sẽ xin được Người xá tội cho các ngươi!' Moisen trở lại với Giavê và nói: 'Phải! dân này đã phạm một tội rất lớn, chúng đã làm cho mình những thần bằng vàng! Nhưng bây giờ, ước gì Người miễn chấp tội chúng. Bằng không, xin Người hãy xoá con đi khỏi sách Người đã viết'. Giavê phán với Moisen: 'Ai phạm tội chống lại Ta, Ta sẽ xoá nó khỏi sách của Ta! Còn bây giờ, ngươi hãy đi, hãy dẫn dân đến nơi Ta đã phán với ngươi! Này thần sứ của Ta sẽ đi trước ngươi, và đến ngày truy phạt của Ta, Ta sẽ trừng phạt chúng vì tội của chúng'".


Bài Đáp Ca hôm nay tóm tắt ý nghĩa của Bài Đọc 1 về tinh thần bất trung và thái độ thiên về ngẫu tượng tà thần của họ cho dù họ đã được liên tục chứng kiến thấy các điềm thiêng dấu lạ Ngài tỏ ra cho họ, nhưng nhờ có Moisen mà họ đã được Ngài thương tha:


1) Dân chúng đúc hình bò con tại Horéb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ. 


2) Họ đã quên Thiên Chúa là Đấng cứu độ mình, Đấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Đấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Đỏ. 


3) Chúa đã nghĩ tới tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ. 



Thứ Ba

sự sống nương đồng 

Bài Đọc I: (Năm I) Xh 33, 7-11; 34, 5b-9. 28
Đáp Ca: Tv 102, 6-7. 8-9. 10-11. 12-13
Phúc Âm: Mt 13, 36-43

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XVII Thường Niên hôm nay chất chứa những lời Chúa Giêsu dẫn giải về dụ ngôn người gieo giống tốt trong thửa ruộng của mình trong bài Phúc Âm hôm Thứ Bảy tuần trước, để đáp lại lời yêu cầu của các môn đệ: "Khi ấy, sau khi giải tán dân chúng, Chúa Giêsu trở về nhà. Các môn đệ đến gặp Người và thưa rằng: 'Xin Thầy giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe'".

Theo thứ tự các hình ảnh trong dụ ngôn, Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa của từng hình ảnh hay sự việc được Người ám chỉ trong dụ ngôn này như sau:

"Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Còn hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Cũng như người ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình".

Ở đây chúng ta thấy những điều cần chú ý sau đây: 

1- Nếu "Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Còn hạt giống tốt là con cái Nước Trời" thì có nghĩa là Chúa Kitô Thiên Sai đã cứu độ thế gian hay cứu độ loài người khỏi tội lỗi và sự chết bằng cuộc Vượt Qua của Người, nhờ đó Người đã ban cho họ sự sống thần linh, như thể Người đã gieo giống tốt trong thửa ruộng thế gian của Người, nơi Người đã hóa thân làm người để nhờ Người mà thế gian được cứu độ (xem Gioan 3:16-17). 

2-  Nếu "Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ" thì có nghĩa là Satan và bọn ngụy thần của hắn nhất định tàn phá công nghiệp của Chúa Kitô nơi các tâm hồn nói riêng và Giáo Hội nói chung. Bởi thế, chúng ta không lạ gì Giáo Hội của Chúa Kitô liên lỉ trở thành mục tiêu tấn công của thần dữ suốt giòng lịch sử của Giáo Hội, và thành phần Kitô hữu là chi thể của Giáo Hội luôn bị bách hại và sát hại, càng ngày càng dữ dội hơn. 

3-  Nếu "Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần" thì có nghĩa là tất cả sẽ có cùng, và mọi sự sẽ được giải quyết công minh đúng như dự án thần linh của Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng Thần Linh làm chủ lịch sử loài người, cho dù trong thời gian hiện tại thành phần kẻ lành lúa tốt chỉ là một thiểu số và bao giờ cũng chịu thua thiệt tất cả mọi sự trước áp lực hung hăng tàn bạo của thành phần kẻ dữ lùng vực hầu như bất khả khống chế.

Như thế, dụ ngôn người gieo giống tốt trong thửa ruộng của mình đây bao gồm từ "thời điểm viên trọn"(Galata 4:4) của Chúa Kitô Thiên Sai, qua suốt giòng lịch sử của Giáo Hội Chúa Kitô, cho đến tận thế là thời điểm cánh chung. Dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng này là một dụ ngôn Chúa dẫn giải chẳng những để giúp cho chúng ta hiểu biết về thực tại Nước Trời mà còn khuyến dụ chúng ta hãy sống thực tại Nước Trời này nữa, ở chỗ hãy nhẫn nhục chịu đựng gian nan khốn khó trong cuộc hành trình đức tin của mình và luôn chờ đợi bằng lòng tin tưởng vào Đấng "sẽ xuất hiện lần thứ hai để mang ơn cứu độ cho những ai thiết tha mong đợi Người" (Do Thái 9:28).

Dụ ngôn này đồng thời cũng cho chúng ta thấy một Vị Thiên Chúa nhẫn nại cho tới cùng, đối với cả kẻ dữ, và làm tất cả mọi sự cho lợi ích của kẻ lành là lúa tốt, thậm chí bằng chính kẻ dữ là cỏ lùng. Chính tình yêu vô cùng nhân hậu của Ngài cuối cùng sẽ thắng vượt tất cả trong Chúa Kitô Thiên Sai, Đấng đã vượt qua từ khổ giá đến phục sinh, và nếu kẻ dữ bị trừng phạt xứng với tội ác của họ thì không phải là Ngài ra tay, cho bằng chính họ bị day dứt quằn quại trước tình yêu vô cùng nhân hậu của Ngài.

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cho thấy một Moisen, hình bóng của một Đức Kitô Thiên sai giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết mà đem vào đất hứa sự sống viên mãn, đang đóng vai trò là người gieo lúa tốt trong thửa ruộng dân Chúa của mình, đồng thời qua Moisen cũng cho thấy một vị Thiên Chúa vô cùng nhân hậu xót thương, ở chỗ:

1- Di chuyển nhà xếp giao ước cho lợi ích của dân: "Trong những ngày ấy, Moisen hạ nhà xếp, đem dựng ra một khoảng ở ngoài trại, và đặt tên là 'nhà xếp giao ước'. Ai trong dân có điều gì muốn hỏi, thì đến nhà xếp ở ngoài trại".

2- Có một hầu cận là mầm mống thừa kế của mình: "Chúa đàm đạo cùng Moisen diện đối diện, như người ta quen đàm đạo với bạn hữu mình. Khi ông trở về trại, thì người hầu cận ông là Giodu, con ông Nun, còn trẻ tuổi, không rời khỏi nhà xếp".

3- Cầu khẩn cùng Chúa cho dân: "Chúa! Chúa! Đấng cai trị mọi sự, là Đấng từ bi, nhân hậu, nhẫn nại, đầy lân tuất và chân chính. Chúa xót thương đến ngàn đời, tha thứ gian ác, độc dữ và tội lỗi; trước mặt Chúa không ai coi mình là vô tội. Sự gian ác tổ tiên đã phạm, Chúa phạt con cháu đến ba bốn đời".

4- Nhận lãnh bia đá thập giới (lần hai) từ Thiên Chúa để trao lại cho dân: "Vậy ông Môsê ở đó với Chúa bốn mươi đêm ngày, không ăn bánh và không uống nước; Chúa ghi mười lời giao ước vào bia đá".

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa một cảm nghiệm thần linh về một vị Thiên Chúa chẳng những tỏ mình ra bề ngoài có vẻ uy nghi lừng lẫy mà còn có một tấm lòng vô cùng nhân hậu xót thương đúng như những gì Moisen đã cảm nhận trong Bài Đọc 1: "Chúa! Chúa! Đấng cai trị mọi sự, là Đấng từ bi, nhân hậu, nhẫn nại, đầy lân tuất và chân chính. Chúa xót thương đến ngàn đời, tha thứ gian ác, độc dữ và tội lỗi": 

 

1) Chúa thi hành những sự việc công minh, và trả lại quyền lợi cho những người bị ức. Người tỏ cho Môsê được hay đường lối, tỏ công cuộc Người cho con cái Israel. 

 

2) Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân. Người không chấp tranh triệt để, cũng không đời đời giữ thế căm hờn. 


3) Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi. Nhưng cũng như trời xanh vượt cao trên mặt đất, lòng nhân Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. 


4) Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi. Cũng như người cha yêu thương con cái, Chúa yêu thương những ai kính sợ Người. 





Thứ Tư

sự sống phản ánh

Ngày 29: Thánh Matta đồng trinh

Matta đã xuất hiện cả thảy 3 lần qua Phúc Âm: trước hết, thánh nữ cùng với em là Maria đón Chúa vào nhà và mời dùng bữa tại Bêtania; trước khi Lazarô được sống lại, thánh nữ đã tuyên xưng Chúa là Con Thiên Chúa và sau cùng trong bữa tiệc sáu ngày trước lễ Phục Sinh. Trong hai bữa ăn đó, Matta thường bận rộn với việc bếp núc, trong khi ấy Maria lấy thuốc thơm xức cho Chúa hay ngồi dưới chân nghe Chúa giảng dạy. Matta than phiền với Chúa về việc Maria không giúp đỡ mình. Chúa Giêsu không từ chối sự nhiệt thành vội vã của Matta, nhưng ngài cũng trách thánh nữ quá lo lắng mà quên đi phần chính yếu là nghe lời giảng và ở bên Ngài. Chúa đã mời gọi thánh nữ hãy dẹp bỏ mọi bận tâm để chăm chú nghe lời Ngài, vì "chỉ có một sự cần thiết và Maria đã chọn phần tốt hơn". Matta lấy làm vinh dự được tiếp đón và hầu hạ Chúa. Chúng ta cũng hãy bắt chước thánh nữ niềm nở đón tiếp anh em vì mỗi khi chúng ta hầu hạ anh em, chính là hầu hạ Chúa Kitô.


Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần:
Bài Đọc 1 (Năm Lẻ): Xh. 34,29-35
Đáp Ca: Tv. 99:5,6,7,9
Phúc Âm: Mt. 13,44-46

Hôm nay, Thứ Tư Tuần XVIIThường Niên, Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu tiếp tục ghi lại một cặp dụ ngôn nữa về Nước Trời được Chúa Kitô diễn tả để mạc khải cho dân Do Thái nói chung và cho các môn đệ của Người nói riêng biết. 

"Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy".


"Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy".


Hai dụ ngôn về Nước Trời này có liên hệ hết sức mật thiết với nhau bất khả phân ly, có tính cách tu đức hơn là thần học. Ở chỗ, một đàng thì "kho báu trong ruộng" được tìm thấy, một đàng thì đi tìm được: "viên ngọc quí". Một đàng thụ động: "kho báu trong ruộng" và một đàng chủ động: "đi tìm ngọc đẹp".


Cặp dụ ngôn thứ hai về Nước Trời này, như cặp dụ ngôn thứ nhất trong bài Phúc Âm Thứ Hai tuần này, không được Chúa Giêsu giải thích cho biết. Tuy nhiên, căn cứ vào đường lối suy diễn như ở cặp dụ ngôn thứ nhất, nhờ căn cứ vào Chúa Kitô như là chính Nước Trời thì cặp dụ ngôn thứ hai về Nước Trời hay về Chúa Kitô có thể suy diễn như sau. 

Dầu sao cũng cần phải nhớ rằng cặp dụ ngôn thứ hai này Chúa Giêsu nói riêng với các tông đồ chứ không phải chung cho dân chúng như cặp dụ ngôn thứ nhất. Vì Người nói ngày sau khi dẫn giải dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa tốt cho các môn đệ là thành phần xin Người giải thích "sau khi giải tán dân chúng, Người đã về nhà...".

Trước hết, "Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng" - Phải chăng Chúa Giêsu có ý nói rằng Người chính là kho báu được chôn giấu trong ruộng, mà "ruộng là thế gian" (theo chính lời Chúa Giêsu giải thích trong bài Phúc Âm hôm qua), nên Chúa Giêsu vẫn là những gì quí báu nhất trên trần gian này mà ít người biết tới như thể kho tàng quí báu ấy bị chôn giấu đi vậy? 

"Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy" - Nghĩa là cho dù kho tàng ấy ít ai biết đến như bị che giấu đi như thế, ai mà gặp được, chẳng hạn thành phần bé mọn được Cha tỏ ra cho (xem Mathêu 11:25), thì họ chẳng còn tiếc gì nữa, sẵn sàng từ bỏ mọi sự mà mua thửa ruộng có kho tàng này, chứ không phải mua chính kho tàng, vì mua cả thửa ruộng thì tất nhiên có được kho báu trong đó nữa. 

Đúng thế, nếu Chúa Kitô đã cứu chuộc thế gian thì ai tìm gặp Người cũng quí chuộng ơn cứu chuộc của Người và tìm hết cách để cứu lấy thế gian, và khi họ đã dám hy sinh tất cả mọi sự của họ cho phần rỗi của tha nhân trên thế gian này là họ có được tất cả Chúa Kitô là kho tàng chôn trong thửa ruộng được họ tậu lấy vậy. Theo ý nghĩa ấy thì quả thực dụ ngôn kho tàng trong ruộng này liên quan đến ơn gọi theo Chúa của các tông đồ, thành phần môn đệ chứng nhân tiên khởi của Người.

"Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy". Phải chăng "một thương gia đi tìm ngọc đẹp" đây chính là Chúa Kitô, Đấng đã "đến để tìm kiếm và cứu với những gì hư hoại" (Luca 19:10), nhưng đối với Người "những gì hư hoại" ấy, như con chiên lạc thứ 100 hay đồng tiền thất lạc (xem Luca 15:4,8) lại rất quí báu, đến độ Người đã phải từ trời xuống thế để tìm kiếm. 

Như thế có nghĩa là con người ta là "một viên ngọc quí" đã được Thiên Chúa tìm thấy và đã thực sự "mua viên ngọc ấy" bằng chính máu thánh vô giá của Người, bằng chính sự sống hy hiến của Người (xem Gioan 17:19; Mathêu 20:28)? Dụ ngôn này cũng liên quan đến vai trò của các tông đồ chẳng những trong sứ vụ thừa sai nhân chứng mà còn trong cả thừa tác vụ ban phát ân sủng và sự sống thần linh cho các linh hồn nữa. 

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cho thấy "rằng da mặt Moisen sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa... Con cái Israel nhìn mặt ông Moisen thấy da mặt ông sáng chói; ông Moisen lại lấy khăn che mặt, cho đến khi vào đàm đạo với Thiên Chúa".

Nội dung của Bài Đọc 1 này có liên hệ gì với cặp dụ ngôn trong bài Phúc Âm hôm nay hay chăng? Xin thưa, tất nhiên là có. Ở chỗ nào? Ở chỗ khi được gần gũi với "Thiên Chúa là ánh sáng" (1Gioan 1:5), con người cần phải trở thành phản ánh của Ngài, như Chúa Kitô "là phản ánh vinh hiển của Cha" (Do Thái 1:3).

Như thế, một khi kho tàng thần linh trong thửa ruộng thế gian là Chúa Kitô thuộc về ai, có nghĩa là họ được hiệp nhất nên một với Người, thì tất cả đời sống và con người của họ trở thành phản ảnh Người, (như mặt Moisen phản ảnh vinh quang Thiên Chúa nhờ gặp gỡ Thiên Chúa), bởi họ đã dám hy sinh tất cả để mua lấy tất cả thuở ruộng thế gian đã được Người cứu chuộc, đến độ Chúa Kitô sống trong họ để tiếp tục công cuộc cứu chuộc của Người cho đến tận thế, cho đến khi Người lại đến trong vinh quang. Nhờ đó, họ phản ảnh một Chúa Kitô nhân hậu đi tìm kiếm viên ngọc quí là phần rỗi của các linh hồn, qua sứ vụ chứng nhân và tinh thần tông đồ truyền giáo của họ như Chúa Kitô. 

Bài Đáp Ca hôm nay bao gồm nhận thức thần linh về Vị Thiên Chúa Thánh Hảo, Đấng tỏ mình ra cho những ai cầu khẩn Danh Ngài và tuân hành các thánh chỉ của Ngài, vì Ngài là Đấng Thánh:

1- Hãy suy tôn Chúa là Thiên Chúa chúng ta, phủ phục trước bệ rồng, bởi Người là Đấng Thánh.

2- Moisen cùng Aaron trong hàng tư tế Chúa, cũng như Samuel trong số người cầu khẩn Thánh Danh! Các ngài cầu khẩn Chúa, Chúa thương đáp lại.

3- Từ cột mây, Chúa phán dạy các ngài, các ngài đã tuân hành thánh ý, và chiếu chỉ Người ban.

4- Hãy suy tôn Chúa là Thiên Chúa chúng ta, hướng về núi thánh mà phủ phục, vì Chúa, Thiên Chúa ta thờ, quả thật là Đấng Thánh.



Thứ Năm

sự sống biển khơi

Ngày 30: Thánh Phêrô Chrysôlôgô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh

Thánh Phêrô, do tài hùng biện đặc biệt mà người ta ghép thêm cho ngài Chrysôlôgô để tỏ lòng ngưỡng mộ ngài. Ngài sinh tại Forum Cornelii nước Ý năm 405 trong một gia đình thế giá. Ngay từ nhỏ, ngài đã biết thực tập những việc đạo đức. Năm 433, ngài được chọn làm Tổng Giám Mục giáo khu Ravenne. Ngài cực lực lên án sự giả tạo của giáo dân: "Ai muốn vui chơi với ma quỷ, sẽ không bao giờ được dự phần với Ðức Kitô". Ngài còn để lại nhiều tài liệu quý giá cho Giáo Hội, nhất là khoảng 180 bài giảng thuyết rất nổi tiếng của ngài vẫn còn lưu truyền tới ngày nay. Ðó là những bài huấn đức ngắn gọn, những bài cắt nghĩa thánh kinh và phụng vụ với một giọng điệu đơn sơ, hầu giúp mọi người biết sống theo Phúc Âm. Chúng ta sẽ không tìm thấy ở đó những từ ngữ văn chương của thánh Augustinô, những lý luận thần học của thánh Lêô, là những đấng sống đồng thời với ngài. Nhưng dân chúng từ quan đến dân đều thưởng thức được những lời nói đầy nhiệt huyết, những sự chỉ bảo thực tế. Chính ngài đã muốn giảng dạy cách hết sức đơn giản và dễ hiểu. Ngài thường nói: "Lời lẽ của tôi đã được chôn vùi với Ðức Kitô".

Sau cùng ngài về hưu dưỡng tại quê nhà để dọn mình chết lành. Ngày 02/12/451, ngài đã trút hơi thở cuối cùng trong Chúa như lòng mong ước.


Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần:
Bài Đọc I: (Năm I) Xh 40, 14-19. 32-36
Đáp Ca: Tv 83, 3. 4. 5-6a và 8a. 11
Phúc Âm: Mt 13, 47-53

Bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần XVII Thường Niên hôm nay ghi lại dụ ngôn cuối cùng của Chúa Giêsu về Nước Trời trong Phúc Âm Thánh Ký Mathêu ở đoạn 13. 

"Nước trời lại giống như lưới thả dưới biển, bắt được mọi thứ cá. Lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi đó mà lựa chọn: cá tốt thì bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài. Đến ngày tận thế cũng như vậy: các thiên thần sẽ đến mà tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi ném những kẻ dữ vào lò lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng"

Cũng như cặp dụ ngôn thứ hai trong bài Phúc Âm hôm qua, dụ ngôn cuối cùng về Nước Trời này cũng không được Chúa Giêsu giải thích gì hết về những hình ảnh Người sử dụng. Lý do Người không giải thích gì hết là vì các môn đệ của Người không yêu cầu Người giải thích như ở dụ ngôn người gieo giống ra đi gieo giống và người gieo giống tốt trong ruộng của mình. Thậm chí khi được Người hỏi: "'Các con có hiểu những điều đó không?' Họ thưa: 'Có'".

Sở dĩ các môn đệ nói "" hiểu dụ ngôn cuối cùng về Nước Trời này có thể là vì nội dung của dụ ngôn này cũng giống như dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng. Đúng thế, dụ ngôn cuối cùng về Nước Trời này cũng liên quan đến hai loại tốt và xấu. Nếu dụ ngôn người gieo giống tốt trong ruộng của mình bao gồm lúa tốt và cỏ xấu, thì dụ ngôn cuối cùng này liên quan đến cá tốt và cá xấu. 

Tuy nhiên, không biết các môn đệ của Chúa Giêsu bấy giờ đã hiểu dụ ngôn cuối cùng về Nước Trời này như thế nào, chẳng hạn "lưới thả dưới biển" ám chỉ những gì, và ý nghĩa chính yếu của dụ ngôn này là chi, phần chúng ta, vẫn cần tìm hiểu xem những gì còn mập mờ trong dụ ngôn này. Vậy, dựa theo đường hướng Nước Trời ám chỉ Chúa Kitô, và dụ ngôn cuối cùng trong loạt dụ ngôn được Thánh ký Mathêu ghi lại ở Đoạn 13 này là dụ ngôn Chúa Giêsu nói riêng với các môn đệ thì chúng ta có thể suy diễn như sau:

"Nước trời lại giống như lưới thả dưới biển, bắt được mọi thứ cá".

Nếu đây là dụ ngôn cuối cùng trong loạt dụ ngôn về Nước Trời được Thánh ký Mathêu thuật lại ở đoạn 13, và cũng là dụ ngôn được Chúa Giêsu nói riêng với các tông đồ, thì dụ ngôn này gợi lại hình ảnh 7 tông đồ đi đánh cá ở Biển Hồ Tibêria sau 2 lần Chúa Kitô Phục Sinh đã hiện ra với các vị (xem Gioan 21:1-14). 

Nếu "ruộng" là nơi có cả "lúa tốt" lẫn "cỏ lùngtrong dụ ngôn "người gieo giống tốt trong ruộng của mình" là "thế gian" thì "biển" trong dụ ngôn này cũng có thể ám chỉ "thế gian", nơi có cả "cá tốt" là "người lànhlẫn "cá xấu" là "kẻ dữ". Vậy "lưới thả dưới biển" đây phải chăng chính là thành phần thừa sai được Chúa Kitô Phục Sinh truyền lệnh: "Thày được toàn quyền trên trời dưới đất. Bởi vậy các con hãy đi tuyển mộ môn đồ thuộc tất cả mọi dân nước. Hãy rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh thần. Hãy dạy cho họ thi hành tất cả những gì Thày đã truyền cho các con" (Mathêu 28:19)?

"Lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi đó mà lựa chọn: cá tốt thì bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài". 

Nếu "lưới thả dưới biển" đây ám chỉ thành phần thừa sai truyền giáo của Giáo Hội Chúa Kitô, tức là liên quan đặc biệt đến dân ngoại, thành phần chính yếu làm nên Giáo Hội Chúa Kitô, không phải dân Do Thái, thì "lưới đầy" ở đây phải chăng có nghĩa là "đủ số dân ngoại" (Roma 11:25), và chỉ khi nào "đủ số dân ngoại" bấy giờ mới có chuyện "người ta kéo lên bãi, rồi ngồi đó mà lựa chọn: cá tốt thì bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài", đúng như ấn định cứu độ của Chúa Kitô: "Các con hãy đi khắp thế gian mà loan báo tin mừng cho tất cả mọi tạo vật. Ai chấp nhận tin mừng và chịu phép rửa thì được cứu độ; người nào không chấp nhận tin mừng thì sẽ bị luận phạt" (Marco 16:15-16).

"Đến ngày tận thế cũng như vậy: các thiên thần sẽ đến mà tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi ném những kẻ dữ vào lò lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng"

Như thế thì vấn đề "đủ số dân ngoại" là dấu hiệu ngày cùng tháng tận, là dấu hiệu ến ngày tận thế", thời điểm chung thẩm cho số phận đời đời giữa chiên và dê (xem Mathêu 25:31-46), thời điểm "các thiên thần sẽ đến mà tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi ném những kẻ dữ vào lò lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng", cũng như các vị ở trong dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng đã làm vậy: "Thợ gặt là các thiên thần. Cũng như người ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình".

Đúng thế, việc thanh lọc cuối cùng chính yếu là để "tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành", nhờ đó, thành phần đã từng là nạn nhân của kẻ dữ, đã trải qua gian nan khốn khó trên đời "bấy giờ sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình", thành phần ngay trong cuộc hành trình đức tin của họ đã phản ảnh được Vị Thiên Chúa là Đấng luôn ở cùng họ, và họ đã trở thành nơi tỏ hiện vinh quang của Thiên Chúa, như nhà xếp trong Bài Đọc 1. 

Phải, Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay liên quan đến việc thiết dựng nhà xếp, nơi Moisen "đặt bia chứng từ vào hòm, xỏ đòn khiêng vào hai bên, và để toà phán dạy trên hòm", và cũng là nơi tỏ hiện vinh quang của một Vị Thiên Chúa ẩn ngự: "Khi đã rước hòm bia vào nhà xếp, ông treo màn trước hòm để hoàn tất lời Chúa đã truyền dạy. Sau khi mọi việc đã hoàn tất, thì có một đám mây bao phủ nhà xếp chứng từ, và vinh quang của Chúa tràn ngập nhà xếp". 

Cảm nghiệm thần linh của kẻ lành lúc nào cũng cảm thấy khao khát thần linh và mong được ở với Đấng duy nhất có thể thỏa đáng lòng của họ, được diễn tả qua Bài Đáp Ca hôm nay: 

1) Linh hồn con khát khao và mòn mỏi, mong vào hành lang nhà Chúa. Tâm thần và thể xác con hoan hỉ tìm đến cùng Thiên Chúa trường sinh. 


2) Đến như chim sẻ còn kiếm được nhà, và chim nhạn tìm ra tổ ấm, để làm nơi ấp ủ con mình, cạnh bàn thờ Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa thiên binh, ôi Đại vương là Thiên Chúa của con. 


3) Ôi Thiên Chúa, phúc đức ai ngụ nơi nhà Chúa: họ sẽ khen ngợi Chúa tới muôn đời. Phúc thay người Chúa con nâng đỡ, họ tiến lên ngày càng thêm hăng hái. 


4) Thực một ngày sống trong hành lang nhà Chúa, đáng quý hơn ngàn ngày ở nơi đâu khác. Con ưa đứng nơi ngưỡng cửa nhà Chúa, hơn là cư ngụ trong lều bọn ác nhân. 





Thứ Sáu

sự sống cử hành

Ngày 31: Thánh Ignatiô Loyola, linh mục sáng lập dòng Tên


Thánh Ignatiô sinh khoảng năm 1493, tại Loyola miền Cantabria nước Tây Ban Nha, trong một gia đình quý phái.

 

Ngài nhập ngũ và bị thương khi giao tranh với quân Pháp ở Pampelune. Trong lúc dưỡng bệnh, tình cờ ngài đã đọc những sách đạo đức và ngài cảm thấy một sức mạnh mãnh liệt phải bước theo Chúa. Trở lại Mont Serrat, ngài đã treo khí giới ở bàn thờ Ðức Mẹ, và bắt đầu thời kỳ tu tập (1523). Ngài sống nhịn nhục, nghèo khổ như một hành khất và viết rất nhiều sách thiêng liêng có giá trị. Năm 1534, tại đại học Balê, ngài tụ họp 9 người bạn cùng chí hướng thuộc các nước khác nhau và trên ngọn đồi Montmartre, ngài đã đặt nền móng đầu tiên của dòng Tên, với một nguyện ước là tìm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Ngoài ba lời khấn thông thường, ngài còn thêm lời khấn hiến mình cho công cuộc truyền giáo theo ý hướng của Tòa Thánh (1540). Với một lòng nhiệt thành giảng dạy giáo lý kèm theo việc đạo đức, nước Chúa được mở rộng khắp nơi.

 

Ngài từ trần năm 1556, hưởng thọ 63 tuổi. Suốt đời, ngài chỉ tìm vinh danh Chúa (Ad Majorem Deigloriam).

 

Ðức Giáo Hoàng Phaolô V phong ngài lên bậc Chân Phước năm 1609. Mười bốn năm sau, Ðức Thánh Cha Urbanô VIII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh và năm 1922, Ðức Piô XI phong ngài làm Ðấng Bảo Trợ những tuần tĩnh tâm.



Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần:
Bài Đọc I: (Năm I) Lv 23, 1. 4-11. 15-16. 27. 34b-37
Đáp Ca: Tv 80, 3-4. 5-6ab. 10-11ab
Phúc Âm: Mt 13, 54-58

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần XVII Thường Niên, được Thánh ký Mathêu thuật lại về sự kiện: "Chúa Giêsu trở về quê quán Người, và giảng dạy người ta trong hội đường, khiến người ta ngạc nhiên"

Thế nhưng, cái ngạc nhiên của họ mang tích cách tiêu cực (ngờ vực) hơn là tính cách tích cực (nhận biết), bởi thế, họ đã tỏ ra hết sức thắc mắc với đầy những nghi vấn như sau

"'Bởi đâu ông này được sự khôn ngoan và quyền làm phép lạ như vậy? Nào ông chẳng phải là con bác thợ mộc sao? Nào mẹ ông chẳng phải là bà Maria, và Giacôbê, Giuse, Simon, Giuđa chẳng phải là anh em ông sao? Và chị em ông, nào chẳng phải những người ở nơi chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông được những sự ấy?' Và họ vấp phạm đến Người".

Thái độ tiêu cực gần như tẩy chay Chúa Giêsu của dân làng Người cũng là chuyện dễ hiểu theo tâm lý tự nhiên, vì họ đã từng biết Người từ hồi còn nhỏ, một con người ra sao trong làng, có cha mẹ và thân thuộc như thế nào. Bởi thế, "Chúa Giêsu phán cùng họ rằng: 'Không tiên tri nào mà không được vinh dự, trừ nơi quê quán và nhà mình'".

Nếu căn cứ vào 1 trong 4 loại môi trường ở dụ ngôn "người gieo giống ra đi gieo giống" nơi Bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước (xem Mathêu 13:18-23), thì dân làng của Người không thuộc loại "hạt rơi trên vệ đường", vì họ cũng hào hứng nghe Người chứ không đến nỗi hững hờ chẳng để ý hay thiết tha gì; họ cũng không phải là "hạt rơi trên đá sỏi" vì họ đâu có chấp nhận Người nên không đâm rễ tí nào hết, mà là "hạt rơi vào bụi gai" đã bị chết nghẹt gây ra bởi các lo âu ngờ vực của họ. Do đó bài Phúc Âm mới kết luận: "Người không làm nhiều phép lạ ở đó, vì họ chẳng có lòng tin".

Thật ra, theo chiều hướng của Phúc Âm Thánh Gioan thì "là ánh sáng thế gian" (8:12) mà đã là ánh sáng thì không thể không soi chiếu mà còn là ánh sáng, Chúa Kitô cần phải tự động tỏ mình ra để nhờ đó người ta mới có thể nhận biết người và tin tưởng Người, hơn là cứ phải có đức tin mới làm phép lạ, mới tỏ mình ra sau. 

Tuy nhiên, trong trường hợp dân làng của Người trong bài Phúc Âm hôm nay đã được Người tỏ mình ra cho họ rồi, đến nỗi đã khiến họ phải bàng hoàng ngỡ ngàng: "Bởi đâu ông này được sự khôn ngoan và quyền làm phép lạ như vậy?", thế mà họ vẫn không tin. Chính thành kiến tự nhiên về Người đã là một trở ngại khổng lồ chắn lối đức tin của dân làng Người.

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay được trích từ Sách Lêvi, bởi vì nội dung của bài đọc liên quan đến các ngày lễ trong năm được coi là ngày thánh mà Dân Do Thái cần phải cẩn thận cử hành theo qui định của Thiên Chúa, đặc biệt và chính yếu nhất là Lễ Vượt Qua, "ngày mười bốn tháng Giêng", sau đó, theo thời gian trong năm, đến Ngày Lễ Ngũ Tuần: "từ hôm sau ngày sabbat,... các ngươi tính đủ bảy tuần, cho đến ngày hôm sau cuối tuần thứ bảy, tức là năm mươi ngày", tới Lễ Đền Tội "ngày mùng mười tháng Bảy", và sau cùng là Lễ Lều Tạm (Nhà Xếp) "ngày mười lăm tháng Bảy": "Đó là những ngày lễ của Chúa mà các ngươi phải kể là những ngày rất trọng thể và rất thánh, trong những ngày ấy, các ngươi phải dâng lên Chúa lễ vật, của lễ toàn thiêu và lễ quán theo nghi lễ của mỗi ngày".

Bài Đọc 1 về các ngày lễ của dân Do Thái và Bài Phúc Âm về sự kiện dân làng của Chúa Kitô không tin tưởng vào Người có liên hệ gì tới nhau hay chăng? Nếu không - tại sao? Nếu có - ở chỗ nào?

Nếu tất cả mọi ngày lễ của Dân Do Thái là để họ tưởng nhớ đến Thiên Chúa, Đấng đã tuyển chọn họ và hằng tỏ mình ra cho họ vào những thời điểm đặc biệt trong giòng lịch sử cứu độ của họ, cho tới "thời điểm viên trọn, Thiên Chúa sai Con Ngài sinh hạ bởi một người nữ, sinh ra theo lề luật" (Galata 4:4), nghĩa là tất cả lịch sử cứu độ đều hướng về Chúa Kitô và về "thời điểm viên trọncủa Người, thì dân của Ngài cần phải tin vào Con Ngài mới được cứu độ, thế nhưng họ đã không tin, hay đúng hơn chưa tin Người được, chỉ vì Con của Ngài, của một Vị Thiên Chúa vô cùng cao cả và toàn hảo, lại được "sinh hạ bởi một người nữ" ngay trong làng của họ.

Tuy nhiên, không phải bị dân làng tẩy chay bất chấp mà Chúa Kitô không phải là Con Thiên Chúa nữa, không còn là Đấng Thiên Sai nữa, Đấng duy nhất có thể cứu họ cùng toàn thể nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết, Đấng một khi được nhận biết thì Người chính là một tin mừng cần phải được đón nhận, và là một đại lễ cần phải hân hoan long trọng cử hành của mình thì dân Do Thái sẽ không thể nào không cảm thấy hớn hở như trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy hoà nhạc và đánh trống râm ran; dạo đàn cầm êm ái cùng với thất huyền. Hãy rúc tù và lên mừng ngày trăng mới, trong buổi trăng rằm, ngày đại lễ của chúng ta. 


2) Vì đó là điều đã thiết lập cho Israel; đó là huấn lệnh của Thiên Chúa nhà Giacóp. Người đã đặt ra luật này cho nhà Giuse, khi họ cất gót lên đường lìa xa Ai-cập. 


3) Ở nơi ngươi đừng có một chúa tể nào khác; ngươi cũng đừng thờ tự một chúa tể ngoại lai: vì Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, Ta đã đưa ngươi ra ngoài Ai-cập. 




Thứ Bảy

sự sống toàn xá

Ngày 01/8 Thánh Alphongsô Maria Liguori, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh

Thánh Alphongsô Maria Liguori sinh ngày 27/9/1696 trong một gia đình quý phái và đạo đức tại Marinella gần Naples.

Nhờ ảnh hưởng gia đình, cậu bé Alphongsô luôn trỗi vượt về học vấn cũng như về đức hạnh. Mười sáu tuổi, sinh viên ưu tú Alphongsô giật được mảnh bằng tiến sĩ giáo luật và dân luật, trở thành một trạng sư danh tiếng. Giữa cảnh giàu sang phồn thịnh và quyến rũ của thế gian, Alphongsô đã nhất quyết nghe theo tiếng gọi của Thiên Chúa, và cậu đã phải trải qua nhiều trở ngại. Trở ngại cam go nhất là của gia đình. Cha cậu không đồng ý để cậu dâng mình cho Chúa. Thế nhưng trước ý chí cương quyết của Alphongsô, người cha cũng đã phải nhượng bộ.

Thầy bắt đầu học thần học và dành nhiều thời giờ để làm việc tông đồ. Thật là cảm động khi thấy một thanh niên con nhà quyền quý từ bỏ cuộc đời nhung lụa đi lang thang khắp phố tìm kiếm trẻ nhỏ dẫn vào nhà thờ dạy giáo lý. Nhìn cách sống khiêm cung với những đồ trang phục đơn sơ của thầy, các bạn cũ trong luật sư đoàn tỏ vẻ khinh khi. Nhiều lần họ còn nói những lời mỉa mai diễu cợt khiến ngài hết sức khổ tâm. Nhưng với ơn Chúa, thầy vui lòng chịu đựng để nên giống Ðức Giêsu hơn.


Thầy thụ phong linh mục ngày 21/12/1726. Suốt cuộc đời, cha Alphongsô chỉ chuyên chú vào việc giảng dạy và khuyên bảo mọi người tiến bước trên đường nhân đức. Chính lời rao giảng của ngài đã đánh động người cha yêu quý. Ông ôm lấy con và nói: "Ôi con yêu dấu, Alphongsô con cha, giờ đây cha rất vui sướng vì thấy con đã ôm ấp được một lý tưởng cao quý. Cha xin lỗi con vì trước kia cha đã làm phiền lòng con và dám chống lại ý Chúa".

Ngài sáng lập dòng Chúa Cứu Thế năm 1732, một dòng đã giúp ích rất nhiều cho Giáo Hội. Các tu sĩ chuyên lo giảng dạy Tin Mừng và truyền bá lòng tôn sùng Ðức Mẹ. Năm 1762, ngài được phong làm Giám Mục giáo phận thánh Agatha Gothorum. Những năm cuối đời, thánh nhân phải chịu rất nhiều thử thách: bị bách hại, bị lo âu..., nhưng sau cùng, ngài tìm lại được bình an và yên nghỉ thánh thiện trong tay Chúa vào ngày 01/8/1787.

Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã đặt cho ngài tước hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội năm 1871, và Ðức Piô XII đặt ngài làm quan thầy các cha giải tội và các nhà luân lý.



Ph
ụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần:
Bài đọc 1: Lv 25:1,8-17

Đáp Ca: Tv 67:2-3,5,7-8

Phúc Âm: Mt. 14,1-12

Hôm nay, Thứ Bảy Tuần XVII Thường Niên, Thánh Ký Mathêu ghi lại một sự kiện đó là "Thời ấy, tiểu vương Hêrôđê nghe danh tiếng Đức Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: 'Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ". 

Sau đó vị thánh ký đã thuật lại lý do tại sao đã thúc đẩy vị tiểu vương này đã ra tay sát hại nhân vật mà ông cho là đã sống lại từ cõi chết và đang sống động nơi Chúa Giêsu Kitô:

"Số là vua Hêrôđê đã bắt trói ông Gioan và tống ngục vì bà Hêrôđia, vợ ông Philípphê, anh của nhà vua. Ông Gioan có nói với vua: 'Ngài không được phép lấy bà ấy'. Vua muốn giết ông Gioan, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi ông là ngôn sứ. Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hêrôđê, con gái bà Hêrôđia đã biểu diễn một điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng: 'Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gioan Tẩy Giả đặt trên mâm'. Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gioan. Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Đức Giêsu".

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao vị quận vương này cho rằng nhân vật Gioan Tẩy Giả có thể tự mình sống lại cho dù bị ông ta sát hại, và tại sao ông ta lại ghép việc sống lại của vì Tẩy Giả này vào trường hợp của Chúa Giêsu, bởi nghe thấy Người "có quyền năng làm phép lạ"Ông ta có ý nghĩ Gioan Tẩy Giả có thể sống lại trước khi ông ta ra lệnh lấu đầu của ngài, hay sau khi nghe thấy Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ mới có ý nghĩ Gioan sống lại như vậy?

Phải chăng vị quận vương này có ý muốn nói rằng chính nhờ ông ta hành quyết Gioan Tẩy Giả mà Chúa Giêsu mới có quyền năng làm phép lạ như thế, bằng không Người không thể nào có thể làm phép lạ như vậy? Qua câu nói này của ông ta, cũng có thể là ông ta đã bị ám ảnh về cái chết của nhân vật Gioan Tẩy Giả là nhân vật ông rất kính nể nhưng đã ra lệnh hành quyết bởi lỡ miệng hứa với đứa con gái của người vợ bất chính và muốn giữ thể diện của mình trước mặt bá quan văn võ trong triều đình của ông bấy giờ? 

Có nghĩa là ông ta đang tìm cách vừa đánh trống vừa ăn cướp, ở chỗ muốn xoa dịu lương tâm bị áy náy của mình là người đã lỡ sát hại một kẻ công chính, bằng cách gán ghép quyền năng làm phép lạ của Chúa Giêsu cho nạn nhân của mình là kẻ đã bị mình hành quyết, nhờ đó mình chẳng những vô tội mà còn nổi tiếng nữa qua các phép lạ Chúa Giêsu làm. Nếu vậy thì vị quận vương này đúng là một thứ cáo già, gian manh không thể nào tượng tưởng nổi! 

Không biết có phải vì thế mà ít lâu sau, khi gặp lại ông ta trong thân phận của một tử tội được Tổng Trấn Philatô chuyển đến cho thẩm quyền của ông ta, Chúa Giêsu đã không hề lên tiếng nói gì với ông ta (xem Luca 23:9). Chắc chắn thái độ im lặng của Chúa Giêsu không phải là thái độ coi thường thẩm quyền của ông ta hay khinh bỉ con người tồi bại của ông ta, cho bằng Người muốn tỏ ra thái độ nhẫn nhục nhân ái với con người đầy gian ác hết sức đáng thương ấy, một con người chỉ biết có quyền lực, và chỉ mong gặp Chúa Giêsu để xem Người làm phép lạ (xem Luca 23:8) mà không được toại nguyện, vì Chúa Giêsu đến thế gian này không phải như một cứu tinh xuất chúng về quyền lực nhưng là để giải thoát con người, điển hình là vị quận vương Hêrôđê này, khỏi tội lỗi và sự chết. 

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay liên quan đến năm toàn xá là thời điểm 50 năm một lần trong dân Do Thái, một "năm thánh", bao gồm, trước hết là việc nghỉ ngơi cho chính con người cũng như cho thiên nhiên vạn vật:

"Các ngươi sẽ công bố năm thứ năm mươi là năm thánh và sẽ tuyên cáo trong xứ lệnh ân xá cho mọi người sống tại đó. Đối với (các) ngươi, đó là thời kỳ toàn xá: mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình, mỗi người sẽ trở về dòng họ của mình. Đối với các ngươi, năm thứ năm mươi sẽ là thời kỳ toàn xá: các ngươi không được gieo, không được gặt lúa tự nhiên mọc, không được hái trong vườn nho không cắt tỉa. Vì đó là thời kỳ toàn xá, một năm thánh đối với các ngươi, các ngươi sẽ ăn hoa lợi của đồng ruộng".


Sau nữa, "năm thánh" không phải chỉ liên quan đến việc nghỉ ngơi của con người và thiên nhiên tạo vật, mà còn liên quan nhất là với tha nhân nữa, qua các việc bác ái yêu thương không gây thiệt hại cho người khác, như sau:  


"Năm toàn xá đó, mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình. Nếu các ngươi bán cái gì cho người đồng bào hoặc mua cái gì từ tay người đồng bào, thì đừng ai làm thiệt hại người anh em mình. Ngươi sẽ mua của người đồng bào theo số năm sau năm toàn xá, và nó sẽ bán cho ngươi theo số năm thu hoạch. Còn nhiều năm thì ngươi mua giá cao, còn ít năm thì ngươi mua giá thấp, vì nó bán cho ngươi một số năm thu hoạch. Không ai trong các ngươi được làm thiệt hại người đồng bào, nhưng (các) ngươi phải kính sợ Thiên Chúa của (các) ngươi, vì Ta là Chúa, Thiên Chúa của (các) ngươi. Thiên Chúa bảo đảm về năm sabát".


Mối liên hệ giữa Bài Phúc Âm về ý nghĩ của quận vương Hêrôđê về quyền năng của Chúa Giêsu và Bài Đọc 1 hôm nay về năm thánh 50 năm một lần của dân Do Thái liên quan đến bác ái yêu thương, là ở chỗ Chúa Giêsu là hiện thân sống động của Lòng Thương Xót Chúa, và vì thế sứ vụ của Người đó là công bố Năm Thánh cũng là năm hồng ân của Thiên Chúa (xem Isaia 61:2; Luca 4:19) cho cả nhân loại, không trừ một ai, "nhất là những linh hồn cần đến LTXC hơn" như quận vương Hêrôđê, cùng tất cả mọi tạo vật (xem Marco 16:15; Roma 8:21). 


Bởi thế, trước tình yêu thương của Thiên Chúa, Đấng chẳng những dựng nên tất cả mọi sự, mà còn quan phòng chăm sóc cho những gì Ngài dựng nên, để làm cho chúng được nên thánh hảo theo ý muốn của Ngài, mà con người cần phải có tâm tình như các câu Đáp ca hôm nay: 


1- Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.


2- Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này. 


3- Đất đã sinh ra mùa màng hoa trái: Chúa Trời, Chúa chúng ta, đã ban phúc lộc. Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!