SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014

 

2015

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XXIV Thường Niên 

13-19/9/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html) 



Chúa Nhật

Sự sống Vượt Qua

 
Bài Ðọc I: Is 50, 5-9a
Ðáp Ca: Tv 114, 1-2. 3-4. 5-6. 8-9
Bài Ðọc II: Gc 2, 14-18

Phúc Âm: Mc 8, 27-35

 

Chủ đề sự sống của Mùa Phục Sinh vẫn liên tục cho tới thời điểm này, Chúa Nhật XXIV Thường Niên, một sự sống như Chúa Kitô và với Chúa Kitô. 

Thật vậy, Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật XXIV Thường Niên hôm nay có thể tóm gọn như sau: Đức Kitô cần phải Vượt Qua từ khổ giá tới phục sinh, và vì thế ai muốn theo Người cũng phải chấp nhận thân phận gian nan khốn khó như Người và với Người.

 

Đức Kitô cần phải Vượt Qua từ khổ giá tới phục sinh:

"Bấy giờ Người hỏi: 'Còn các con, các con bảo Thầy là ai?' Phêrô lên tiếng đáp: 'Thầy là Ðức Kitô'. Người liền nghiêm cấm các ông không được nói về Người với ai cả. Và Người bắt đầu dạy các ông biết Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, sẽ bị các kỳ lão, các trưởng tế, các luật sĩ chối bỏ và giết đi, rồi sau ba ngày sẽ sống lại. Người công khai tuyên bố các điều đó...". 

 

Ai muốn theo Người cũng phải chấp nhận thân phận gian nan khốn khó như Người và với Người:

"Người tập họp dân chúng cùng các môn đệ lại, và phán: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống mình".

 

Có một chi tiết đặc biệt trái ngược trong bài Phúc Âm hôm nay đó là trong khi "Người liền nghiêm cấm các ông không được nói về Người với ai cả" về căn tính "Thày là Đức Kitô" như câu tuyên xưng của Tông đồ Phêrô thì "Người công khai tuyên bố các điều đó" nghĩa là về cuộc vượt qua của Người, như Người vừa tiết lộ trước đó.

 

Sở dĩ Người nghiêm cấm không cho các môn đệ nói ra hay loan truyền về căn tính Kitô của Người là vì chung dân chúng và riêng thành phần thày dạy và có thẩm quyền trong dân không chấp nhận chân lý này. Ngày nay cộng đồng Do Thái giáo vẫn không tin nhân vật Giêsu Nazarét là "Đức Kitô", ai tin sẽ bị tuyệt thông, bị loại ra khỏi Hội Đường, như Giáo Hội Công giáo cũng tuyệt thông những ai không tin Chúa Kitô.

 

Thế nhưng vấn đề then chốt được đặt ra ở đây là tại sao Chúa Kitô lại cần phải Vượt Qua? Phải chăng chỉ vì Người là "Đức Kitô", hay nói ngược lại chính vì Người là "Đức Kitô" mà Người cần phải Vượt Qua. Như thể mầu nhiệm Vượt Qua là những gì bất khả phân ly với Người, và đã là "Đức Kitô" thì Người không thể nào không Vượt Qua. 

 

Tiên Tri Isaia trong Bài Đọc 1 hôm nay đã nói trước về thân phận của "Đức Kitô" cần phải được ứng nghiệm, đúng như lời Chúa Giêsu tiên báo về thân phận là "Đức Kitô" của mình, một "Đức Kitô" Thiên Sai Cứu Thế không oai phong quyền lực như thế gian tưởng và như dân của Người mong đợi, mà là một "Đức Kitô" hèn yếu và vô cùng bất hạnh, như vị tiên tri đã báo trước:

 

"Thiên Chúa đã mở tai tôi mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu. Tôi đã không che mặt giấu mày, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi".


Đó là lý do khi vị lãnh tụ tông đồ đoàn là Phêrô, vị vừa đại diện các tông đồ khác tuyên xưng rất chính xác về Người: "Thày là Đức Kitô", vị đã chỉ vì kính yêu Người đã "kéo Người lui ra mà can trách Người", nhưng đã bị Người thậm tệ quở trách hết sức nặng lời rằng: "Satan, hãy lui đi! vì ngươi không biết việc Thiên Chúa, mà chỉ biết việc loài người". Người không quở trách vị tông đồ lãnh đạo hoàn toàn lòng ngay này một cách âm thầm mà là một cách công khai, như Phúc Âm thuật lại: "Người quay lại nhìn các môn đệ và quở trách Phêrô", như thể cảnh giác cho cả tông đồ đoàn về một sai lầm vô cùng trầm trọng cần phải tránh, không bao giờ được tái phạm. 

Thật vậy, nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét nếu không phải là "Đức Kitô" thì nhân vật ấy hoàn toàn không phải là Con Thiên Chúa, không phải là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, và vì thế cũng không phải là Đấng Cứu Thế của chung nhân loại ("Redemptor Hominis" - "Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần" đây là nhan đề cho bức thông điệp đầu tay của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 4/3/1979).

 

Chính vì không chấp nhận nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét này là "Đức Kitô" Thiên Sai Cứu Thế mà Hội Đồng Đầu Mục Do Thái bấy giờ đã lên án tử cho Người và tìm hết cách để giết Người cho bằng được bởi tay dân ngoại Rôma! Tuy nhiên, về phía các tông đồ, cho dù có nhận biết và tuyên xưng Người là "Đức Kitô" chăng nữa, như bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, các vị vẫn vấp phạm vì Người, vị thì âm mưu phản nộp Người, vị thì công khai chối bỏ Người v.v. Tại sao thế?

 

Phải chăng cho dù niềm tin của các vị thật chính xác nhưng cảm nghiệm của chính bản thân các vị về niềm tin này vẫn chưa xác thực, bởi tâm trí của các vị còn bị chi phối bởi khuynh hướng tự nhiên cũng như bởi lý lẽ trần gian: "vì ngươi không biết việc Thiên Chúa, mà chỉ biết việc loài người"

 

Đúng thế, đức tin là một ân ban chứ không phải xuất phát từ con người. Bản thân của con người giống như một mảnh đất nhận được hạt giống thần linh đức tin này, mà nếu nó là một mảnh đất tốt thì hạt giống đức tin sẽ dễ dàng nẩy mầm và mọc lên thành cây. Kinh nghiệm cho thấy, mảnh đất nhân  tính của loài người đã trở thành xấu bởi nhiễm nguyên tội, với đầy mầm mống tội lỗi là đam mê nhục dục và tính mê nết xấu, chưa kể đến tình trạng mù quáng của trí khôn và bản chất yếu nhược của ý chí. 

 

Bởi thế, bản tính của con người cần phải thích ứng với đức tin và đáp ứng theo đức tin bằng những việc làm xứng hợp và cần thiết thì thực tại đức tin mới có thể trở thành hiện thực nơi họ. Theo chiều hướng ấy Thánh Giacôbê trong Bài Đọc Thứ 2 hôm nay đã đặt vấn đề hiện thực đức tin như sau:

 

"Nếu ai nói mình có đức tin, mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích gì? Ðức tin như thế có thể cứu được nó ư? ...  Nếu không có việc làm, là đức tin chết tận gốc rễ"

Trong trường hợp của vị lãnh tụ tông đồ đoàn Phêrô ở bài Phúc Âm hôm nay, sở dĩ ngài tin một đàng mà hành động một nẻo, nghĩa là "không hành động theo đức tin", trái lại, hầu như phản nghịch nhau hoàn toàn, là vì ngài vẫn còn bị trần gian chi phối và ảnh hưởng. Ở chỗ, theo lý luận tự nhiên, có thể ngài đã nghĩ như thế này: nếu Thày của mình là "Đức Kitô" Thiên Sai Cứu Thế thì Người không thể nào chết được, không thể nào lại bị khổ nạn và tử giá như một con người bình thường, như một tội phạm. 

 

Tội nghiệp ngài, tưởng lập luận như vậy là đúng, là phải, nên vì lòng ngay mà ngài đã tỏ ra sốt sắng lên tiếng can ngăn Đấng ngài vốn tôn sùng và đã bỏ hết mọi sự mà theo cho tới bấy giờ, không ngờ hậu quả hoàn toàn ngược hẳn lại, đó là ngài đã bị một cái búa giáng xuống đầu, không còn biết trời đất đâu nữa. Nếu trường hợp của ngài rơi vào thành phần nghe xong bài giảng của Người về Bánh Sự Sống đến không chịu được cần phải quay lưng bỏ đi, nghĩa là họ phải chịu cú trời giáng này, thì chắc chắc họ sẽ không thể nào chịu nổi. Thế mà anh chàng Simon được đổi tên là Đá cứng này vẫn vững vàng theo Chúa cho đến cùng, đúng như lời Chúa Giêsu kêu gọi những ai muốn theo Người ở cuối bài Phúc Âm hôm nay.

 

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa những câu Thánh Vịnh liên quan đến thân phận của một "Đức Kitô" đích thực đúng như Thiên Chúa sai đến làm Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần - Redemptor Hominis, chứ không phải là một kitô giả, một kitô theo lập luận của trần gian, theo lòng mong ước của con người tự nhiên:

 

1) Tôi yêu mến Chúa, vì Chúa đã nghe tiếng tôi cầu khẩn, vì Chúa đã lắng tai nghe lời tôi, trong ngày tôi kêu cầu Chúa. 

2) Thừng chão tử thần đã quấn lấy tôi, và màng lưới âm phủ đã chụp trên người tôi; tôi đã rơi vào cảnh lo âu khốn khó. Và tôi đã kêu cầu danh Chúa: "Ôi lạy Chúa, xin cứu vớt mạng sống con!" 

 

3) Chúa nhân từ và công minh, và Thiên Chúa của chúng ta rất từ bi. Chúa gìn giữ những người chất phác; tôi đau khổ và Người đã cứu thoát tôi. 

 

4) Bởi người đã cứu tôi khỏi tử thần, cho mắt tôi khỏi rơi lệ và chân tôi không quỵ ngã. Tôi sẽ tiến đi trước thiên nhan Chúa trong miền đất của nhân sinh. 


Ngày 13: Thánh Gioan Kim Khẩu, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh

Thánh Gioan thành Antiokia, mệnh danh là Chrysostome (Kim Khẩu) vì sự khôn ngoan và tài hùng biện. Thánh nhân sinh năm 334 tại Antiokia nước Thổ Nhĩ Kỳ. Từ bé, ngài đã được hấp thụ do mẹ ngài một đức ái nhân hậu, một đức tin sắt đá và một lòng hy sinh hào hiệp.

Mùa xuân năm 373, ngài được tuyển vào chức đọc sách và từ đó danh tiếng ngài bắt đầu lừng lẫy. Ðược tôn lên chức Giám Mục, nhưng cảm thấy bất xứng nên ngài đã rút lui vào nơi kín đáo. Ngài ước ao sống cuộc sống khổ hạnh nhưng chỉ được bốn năm, vì mắc bệnh đau dạ dày nên buộc lòng ngài phải trở về Antiokia. Năm 386, ngài thụ phong linh mục và suốt 12 năm ngài đã làm cho thính giả thành Antiokia say mê và mến phục tài giảng thuyết. Ngài đả kích mãnh liệt những cổ tục mê tín, cuộc sống xa hoa của những người giàu có. Ngài nhấn mạnh đặc biệt đến những người nghèo và nêu gương bằng cách hết lòng giúp đỡ họ. Năm 397, ngài được bầu làm Giám Mục thành Constantinople. Ngài lo nghiên cứu đặc biệt về thánh Phaolô, cải tổ hàng giáo sĩ, thiết lập một số quy chế để thánh hóa bản thân, hủy bỏ mọi tập tục xa xỉ. Ngài cũng tận lực chiến đấu chống lại những bè rối như Ariô, Novatio... Vì phản đối nữ hoàng Eudoxie, đã chiếm đoạt gia sản của một góa phụ ở Callitrope, ngài bị kết án lưu đày năm 403. Người ta không được biết bao nhiêu khổ cực ngài đã phải chịu vì Ðức Kitô và bao nhiêu người đã trở lại cùng Chúa, nhưng mọi người đều phải thán phục lòng bác ái và những lời giảng thuyết và sách vở của ngài.

Sau cùng, ngài qua đời vào ngày 13/9/407. 

Ðức Thánh Cha Piô X đã nâng ngài lên bậc Tiến Sĩ Hội Thánh và bổn mạng của những nhà giảng thuyết.


 

Thứ Hai

 

sự sống nhận biết


Ngày 14: Kính Thánh Giá

 Bài Ðọc I: Ds 21, 4-9 "Kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống".

Bài Ðọc II: Pl 2, 6-11 "Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người".

Phúc Âm: Ga 3, 13-17 "Con Người phải bị treo lên".

Dưới thời hoàng đế Hérachius I, những người Ba Tư xâm chiếm Giêrusalem và lấy mất phần chính của Thánh Giá thật mà thánh Hélène, mẹ của hoàng đế Constantin đã để lại. Hérachius nhất định chiếm lại Thánh Giá này. Ngài cầu nguyện, xin Chúa giúp đỡ và nung nấu lòng can đảm. Quả nhiên, lời cầu xin của nhà vua đã được Chúa chấp thuận, ngài đã đánh bại được quân Ba Tư và trở về Constantinople giữa tiếng reo hò của dân chúng. Với những cành Olive, những ngọn đuốc cháy sáng, Thánh Giá thật của Chúa đã được tôn vinh trong bầu khí khải hoàn. Hoàng đế tràn trề sung sướng muốn trở về Giêrusalem với Thánh Giá này sau 14 năm lưu lạc. Nhà vua tiến vào thành thánh, nhưng trước khi lên núi Sọ, ngài đã không thể bước đi được nữa, khiến cho mọi người đều kinh ngạc sợ hãi. Giáo trưởng Zachazie hô lớn: "Tâu đức vua, chắc chắn phẩm phục của đức vua không xứng đáng với cảnh nghèo nàn và khiêm nhượng của Chúa Giêsu khi vác Thánh Giá".

Hérachius vội cởi bỏ phẩm phục sang trọng, và thay bằng vào bộ quần áo nghèo hèn. Tức thì nhà vua cất bước một cách dễ dàng... và để ra sự khải hoàn, Chúa đã ban nhiều phép lạ cả thể trong ngày ấy.

Từ đó, lễ kính Thánh Giá Chúa Giêsu được lập ra để nhắc nhớ cho các thế hệ kỷ niệm ngày này.


Phụng Vụ Lời Chúa ngày trong tuần cho năm không trùng với Lễ Suy Tôn Thánh Giá 14/9

Bài Ðọc I: 1Tim 2:1-8
Ðáp Ca: Tv 28: 2,7,8-9
Phúc Âm: Lc 7:1-10 


Bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần XXIV Thường Niên hôm nay là bài tiếp ngay sau Bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước, tức ngay sau bài giảng về việc sống Lòng Thương Xót như Cha trên trời.


Đó là lý do, mở đầu bài Phúc Âm hôm nay đã có câu móc nối một cách mạch lạc như sau: "Sau khi đã nói hết những lời ấy cho dân chúng nghe, Đức Giêsu vào thành Carphanaum". Qua câu mở đầu bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu huấn dụ về việc sống Lòng Thương Xót đây chẳng những trực tiếp cho thành phần tông đồ môn đệ của Người khi "ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói(Luca 6:20), mà còn cho cả dân chúng ở chung quanh các vị nữa: "Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giuđêa, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tyro và Sidon đến để nghe Người giảng(Luca 6:17-18).


Nếu đối với các tông đồ môn đệ của mình, Chúa Giêsu chú trọng tới giáo huấn thế nào, như Người đã huấn dụ các vị ở Bài Giảng Phúc Đức Trọn Lành Trên Núi (xem Mathêu các đoạn 5-7), hay ở Loạt Dụ Ngôn về Nước Trời nhất là về ý nghĩa sâu nhiệm của một số dụ ngôn Người giải thích riêng cho các vị (xem Mathêu đoạn 13), hoặc ở Bữa Tiệc Ly (xem Gioan các đoạn 14-17), thì đối với chung dân chúng Người chú trọng đến việc chữa lành cho họ hơn, vì đó là nhu cầu của họ và đó cũng là nhu cầu tỏ mình ra của Người là Đấng Cứu Thế nơi họ nữa


Thật ra phép lạ chữa lành này của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay đã được bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu thuật lại và được Giáo Hội chọn đọc cho Thứ Bảy Tuần XII Thường Niên rồi (Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XII Thường Niên). Sở dĩ Giáo Hội muốn đọc lại câu chuyện chữa lành này có thể là vì bài Phúc Âm hôm nay được Giáo Hội chọn đọc cùng với một bài đọc Tân Ước, chứ không phải bài đọc Cựu Ước như lần trước. 


Thực vậy, trong Bài Đọc 1 hôm nay, khi viết cho người môn đệ Timôthêu của mình ở đầu bức thư thứ 2, Thánh Phaolô đã đề cập đến: 1- ý của Thiên Chúa muốn cứu độ tất cả mọi người, tức bao gồm cả dân ngoại nữa chứ không phải chỉ có dân Do Thái thôi, và 2- đâu là chân lý cứu độ mà con người cần phải nhận biết và chấp nhận để được cứu độ. Thánh Phaolô đã khẳng định về 2 yếu tố cứu độ then chốt này như sau:


"Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh. Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Giêsu Kitô, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người".


Trong bài Phúc Âm hôm nay, nhân vật ngỏ ý xin Chúa Giêsu chữa lành chẳng những là một người dân ngoại mà còn là một trong "những người cầm quyền" (Bài Đọc 1)với vai trò là "một viên đại đội trưởng" (Bài Phúc Âm), nhưng lại là một viên đại đội trưởng vừa thương người vừa khiêm tốn.


Viên đại đội trưởng này thương người ở chỗ ông đã lưu tâm đến một trai đầy tớ đang hấp hối trong nhà lúc bấy giờ và đã từng giúp đỡ dân chúng đến độ được dân mến thương"Một viên đại đội trưởng kia có người nô lệ bệnh nặng gần chết. Ông ta yêu quý người ấy lắm. Khi nghe đồn về Đức Giê-su, ông cho mấy kỳ mục của người Do-thái đi xin Người đến cứu sống người nô lệ của ông. Họ đến gặp Đức Giê-su và khẩn khoản nài xin Người rằng : 'Thưa Ngài, ông ấy đáng được Ngài làm ơn cho. Vì ông quý mến dân ta. Vả lại chính ông đã xây cất hội đường cho chúng ta'".


Khiêm tốn ở chỗ tự cảm thấy bất xứng nên không dám đến gặp Chúa và cũng không đáng được Chúa đặt chân vào tệ xá của ông"Đức Giê-su liền đi với họ. Khi Người còn cách nhà viên sĩ quan không bao xa, thì ông này cho bạn hữu ra nói với Người: 'Thưa Ngài, không dám phiền Ngài quá như vậy, vì tôi không đáng rước Ngài vào nhà tôi. Cũng vì thế, tôi không nghĩ mình xứng đáng đến gặp Ngài. Nhưng xin Ngài cứ nói một lời, thì đầy tớ của tôi được khỏi bệnh. Vì chính tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: 'Đi !' là nó đi ; bảo người kia : 'Đến !' là nó đến ; và bảo người nô lệ của tôi : 'Làm cái này !' là nó làm". 


Đức bác ái và lòng khiêm tốn của viên đại đội trưởng có thẩm quyền này quả thực đã cho thấy đức tin của ông ta vào Thiên Chúa, cho dù ông thuộc thành phần dân ngoại, một đức tin chưa chắc dân Do Thái đã có, một đức tin cứu độ. Đó là lý do Chúa Giêsu đã không thể nào không hết lời khen ông ta trước mặt dân Do Thái rằng: 


"Nghe vậy, Đức Giê-su thán phục ông ta, Người quay lại nói với đám đông đang theo Người rằng: 'Tôi nói cho các ông hay: ngay cả trong dân Israel, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế'. Về đến nhà, những người đã được sai đi thấy người nô lệ đã khỏi hẳn".


Đức tin cứu độ nơi viên đại đội trưởng trong bài Phúc Âm hôm nay chứng tỏ con người dân ngoại có thẩm quyền này đã hoàn toàn sống hợp với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, ở chỗ nhận biết Ngài và Đấng Thiên Sai, như Vị Thánh Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô khẳng định trong Bài Đọc 1 hôm nay: 


"Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người : đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người".


Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa tâm tình của thành phần tin tưởng vào Chúa, cho dù những tâm tình ấy xuất phát tư riêng dân Chúa, nhưng cũng thích hợp cho cả thành phần dân ngoại như viên đại đội trưởng trong bài Phúc Âm hôm nay nữa. Vì thành phần dân Chúa đây chính yếu là ai, nếu không phải là cộng đồng "tín hữu", tức cộng đồng của những ai tin vào Ngài, bao gồm cả Dân Cựu Ước lẫn dân Tân Ước.

 

 

1- Khi con hướng về nơi cực thánh giơ đôi tay cầu cứu van nài, xin Ngài nghe tiếng con khấn nguyện.


2- Chúa là sức mạnh, là khiên mộc chở che tôi, lòng tôi đặt tin tưởng nơi Người. Tôi đã được Người thương trợ giúp, nên lòng tôi vui mừng hoan hỷ, cất cao tiếng hát tạ ơn Người.


3- Chúa là sức mạnh cho dân Chúa, là thành trì cứu độ cho đấng Người đã xức dầu tấn phong. Lạy Chúa, xin cứu độ dân Ngài, trên gia nghiệp này, giáng muôn phúc cả, dẫn dắt nâng niu đến muôn đời.


Thứ Ba

sự sống cảm thương

 

Ngày 15: Kính bảy sự thương khó Ðức Maria

Bài Ðọc I: Dt 5, 7-9 "Người đã học vâng phục và đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời".

Lc 2, 33-35 "Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà". / Ga 19, 25-27

Những đau khổ của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn thật vô cùng lớn lao. Tiên tri Isaia đã gọi Ngài là "Con người của đau khổ". Bên cạnh những thống khổ ấy, đau khổ trong đời Mẹ Maria cũng vượt mức chịu đựng của loài người, và chúng ta không làm sao diễn tả đầy đủ được. Nếu Ðức Giêsu đã đau khổ như một Thiên Chúa, Mẹ Maria cũng đã vô cùng đau đớn khi nhìn con Mẹ xuôi tay trước những cực hình phải chịu.

Trong một mức độ nào đó, Mẹ đã đóng góp rất nhiều vào công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu bằng việc liên kết những khổ đau của Mẹ với những đau khổ của Chúa.
Giáo Hội suy tôn Ðức Maria là Nữ Vương các thánh tử đạo và đã cụ thể hóa những đau khổ của Mẹ qua các sự kiện sau:

- Lúc nghe lời tiên tri Simêon, khi dâng Chúa Giêsu trong đền thánh.

- Lúc ẵm bế Chúa Hài Ðồng trốn sang Ai Cập.

- Lúc lạc mất Chúa tại Giêrusalem. 

- Lúc gặp Chúa vác thánh giá.

- Lúc Chúa chịu đóng đinh.

- Lúc hạ xác Chúa xuống khỏi thập giá.

- Lúc táng xác Chúa.

Cùng với Giáo Hội, chúng ta dâng lên Chúa lời nguyện: "Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Ðức Mẹ Ðồng Trinh cộng khổ đứng kề bên Con Chúa chịu treo trên thánh giá, xin ban cho Hội Thánh Chúa, khi đã thông phần đau khổ với Chúa Kitô thì cũng đáng được sống lại với Người".


Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần cho năm không trùng với Lễ Đức Mẹ Đau Thương 15/9
Bài Ðọc I: 1Tim 3:1-13
Ðáp Ca: Tv 101: 1b-2ab,2cd-3ab,5,6
Phúc Âm: Lc 7:11-17

 

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XXIV Thường Niên hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu tỏ mình ra qua phép lạ Người hồi sinh đứa con trai duy nhất của bà góa thành Nain nhờ đó Người được dân chúng nhận biết:

 

"Sau đó, Đức Giêsu đi đến thành kia gọi là Nain, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. Khi Đức Giêsu đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: 'Bà đừng khóc nữa!' Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giêsu nói: 'Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!' Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ. Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: 'Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người'. Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận".

 

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là, bình thường, nhất là theo chiều hưóng của Phúc Âm Nhất Lãm, Chúa Giêsu làm phép lạ khi thấy có đức tin nơi con người ta nói chung và nơi thỉnh nguyện nhân nói riêng. Nhưng ở trong trường hợp của bài Phúc Âm hôm nay, phép lạ hồi sinh Người làm cho cậu con trai của bà mẹ góa hoàn toàn do Người tự ý, chứ bà mẹ của người chết không hề ngỏ ý xin hay tỏ đức tin gì hết. 

 

Xét cho cùng thì dù Chúa Giêsu làm phép lạ khi thấy đức tin nơi con người hay tự làm phép lạ cả hai đều để tỏ mình ra. Theo Phúc Âm của Thánh ký Gioan thì thường Người tỏ mình ra để cho con người nói chung và môn đệ của Người nói riêng tin vào Người. Bởi vì, Người "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12). Mà ánh sáng không chiếu soi không còn là ánh sáng nữa. Bởi thế, Người luôn phải đi bước trước, ở chỗ tự động tỏ mình ra bằng những "dấu lạ / sign" (từ ngữ được Thánh ký Gioan sử dụng thay từ ngữ "phép lạ - micracle" được Phúc Âm Nhất Lãm sử dụng). 

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Luca cũng cho thấy trường hợp Chúa Giêsu tự động tỏ mình ra, qua sự kiện Người làm cho đứa con trai duy nhất của người mẹ góa hồi sinh. Thế nhưng, tại sao Người lại tự động làm phép lạ hồi sinh đứa con bà mẹ góa này, nếu không phải, như bài Phúc Âm cho biết: "Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương". 

 

Ở đây, qua câu Phúc Âm này, Thánh ký Luca, một người ngoại trở lại và viết Phúc Âm cho dân ngoại theo chiều hướng của Lòng Thương Xót Chúa, đã ghi nhận được cả tấm lòng đầy cảm thương của Chúa Giêsu như thế, như thể chính ngài đang có mặt vào lúc bấy giờ. Nhưng tại sao khi làm các phép lạ khác vào những lần khác không thấy vị Thánh ký này thêm một câu tương tự như thế: "Trông thấy ... Chúa chạnh lòng thương".

 

Trông thấy ai? - "Trông thấy bà", chứ không phải trông thấy quan tài của đứa con trai duy nhất của bà, thì Chúa Giêsu cảm thấy thế nào? - "chạnh lòng thương". Tại sao vậy? Thánh ký Luca đã gián tiếp trả lời ở ngay câu trước đó: "mẹ anh ta lại là một bà goá" cũng như câu sau đó Chúa Giêsu trấn an thông cảm với bà, một cử chỉ hiếm quí hầu như Người chưa làm với ai bao giờ: "Bà đừng khóc nữa!"

 

Phải chăng Chúa Giêsu "trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương" và tỏ ra cử chỉ hết sức đặc biệt với người mẹ góa này bằng lời an ủi trấn an: "Bà đừng khóc nữa!", là vì bấy giờ cảnh tượng người mẹ góa đưa xác đứa con trai duy nhất của bà đã gợi lên nơi Người hình ảnh về Mẹ của Người, người mẹ góa có một người con trai duy nhất là Người, trong tương lai, cũng trải qua hoàn cảnh y như của bà goá thành Nain này, khi Người là con trai duy nhất của Mẹ qua đời ở Sọ Trường trên Đồi Canvê? Nếu đúng như thế thì phép lạ Người hồi sinh cho đứa con ttrai của bà mẹ góa thành Nain này là dấu tiên báo về Người Mẹ Đồng Công của Người trong cuộc Vượt Qua với Người vậy

 

(Không ngờ bài Phúc Âm hôm nay, trong chu kỳ phụng vụ Năm B, lại rất thích hợp với Lễ Mẹ Đau Thương 15/9/2015, nếu đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan 19:25-27 về sự kiện Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá của Chúa Giêsu Con Mẹ).

 

Sự kiện Chúa Kitô là Vị Mục Tử Nhân Lành "chạnh lòng thương", thương từng con chiên của mình, nhất là những con chiên bị thương tích trong tâm hồn, như thương người mẹ góa trước cái chết của người con trai duy nhất trong bài Phúc Âm hôm nay, cần phải trở thành mô phạm trọn lành và tối cao cho thành phần mục tử được Người tuyển chọn làm môn đệ tông đồ của Người cũng như thành phần thừa kế các vị. 

 

Đó là lý do Thánh Phaolô đã căn dặn môn đệ Timôthêu của ngài trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay về điều kiện tối thiểu về thành phần đảm nhận trách nhiệm giám mục và linh mục để thừa kế các tông đồ phục vụ cộng đồng dân Chúa, những điều kiện căn bản (liên quan đến nhân cách, gia đình và uy tín) mà nếu không hội đủ không thể nào phản ảnh một Chúa Kitô "chạnh lòng thương" trong bài Phúc Âm hôm nay. Nguyên văn những gì ngài viết như sau:

 

Về vai trò giám mục: "Đây là lời đáng tin cậy : ai mong được làm giám quản, người ấy ước muốn một nhiệm vụ cao đẹp. Vậy giám quản phải là người không ai chê trách được, chỉ có một đời vợ, tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, hiếu khách, có khả năng giảng dạy; người ấy không được nghiện rượu, không được hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, không hay gây sự, không ham tiền, biết điều khiển tốt gia đình mình, biết dạy con cái phục tùng cách rất nghiêm chỉnh, vì ai không biết điều khiển gia đình mình, thì làm sao có thể lo cho Hội Thánh của Thiên Chúa được? Người ấy không được là tân tòng, kẻo lên mặt kiêu căng mà bị kết án như ma quỷ. Người ấy còn phải được người ngoài chứng nhận là tốt, kẻo bị sỉ nhục và sa vào cạm bẫy ma quỷ".

 

Về vai trò linh mục: "Các trợ tá cũng vậy, phải là người đàng hoàng, biết giữ lời hứa, không rượu chè say sưa, không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn; họ phải bảo toàn mầu nhiệm đức tin trong một lương tâm trong sạch. Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ trợ tá, nếu không bị ai khiếu nại... Các trợ tá phải là người chỉ có một đời vợ, biết điều khiển con cái và gia đình cho tốt...".

 

Bài Đáp Ca hôm nay phản ảnh nội dung của Bài Đọc 1 hôm nay liên quan đến tâm tình, tinh thần và tu đức của thành phần giám mục và linh mục gương mẫu để phục vụ cộng đồng dân Chúa.  


1- Lạy Chúa, con xin ca ngợi tình thương và công lý: con đàn hát kính Ngài. Con nguyện chủ tâm theo đường hoàn hảo, bao giờ Ngài mới đến cùng con? Con sẽ sống theo lòng thuần khiết ở trong cửa trong nhà.

 

2- Việc xấu xa đê tiện, con chẳng để mắt trông. Con ghét kẻ làm điều tà vạy, không để cho dính dáng đến mình.  


3- Ai nói chùng nói lén, là con sẽ diệt trừ. Con mắt khinh người, lòng dạ kiêu căng: những bọn đó, không khi nào con chịu.

 

4- Con để mắt kiếm người hiền trong xứ, cho họ được ở gần. Ai sống đời hoàn hảo, sẽ là người được phục vụ con.



Thứ Tư

sự sống tuân hợp

Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tm 3, 14-16
Ðáp Ca: Tv 110, 1-2. 3-4. 5-6
Phúc Âm: Lc 7, 31-35

 

Hôm nay, Thứ Tư Tuần XXIV Thường Niên, bài Phúc Âm của Thánh ký Luca không liên tục với bài Phúc Âm hôm qua, mà cách bài Phúc Âm hôm qua 12 câu trong cùng đoạn 7, và khúc 12 câu không được Giáo Hội chọn đọc này liên quan đến vấn nạn về bản thân Chúa Giêsu được môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đặt ra với Người và Người chẳng những đã gợi chứng cho họ biết về Người mà còn chứng thực về Vị Tiền Hô của Người nữa (xem Luca 7:18-30), trong đó có câu Thánh ký Luca nhận định như sau:

 

"Nghe ông giảng, toàn dân, kể cả những người thu thuế, đều nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Công Chính và đã chịu phép rửa của ông. Còn những người Pha-ri-sêu và các nhà thông luật thì khước từ ý định của Thiên Chúa về họ, và không chịu phép rửa của ông".

Bởi thế, thành phần được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay chính là "những người Pharisêu và các nhà thông luật thì khước từ ý định của Thiên Chúa về họ, và không chịu phép rửa của ông", Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, vị đã làm phép rửa cho cả Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế. Thế nên, thành phần vốn bị Chúa Giêsu khẳng định và khiển trách là giả hình này đã được Chúa Giêsu sánh ví trong bài Phúc Âm hôm nay như thế này:


"Ta sẽ phải nói những người của thế hệ này giống ai đây? Họ giống ai? Họ giống như những đứa trẻ ngồi ngoài đường phố gọi và nói với nhau rằng: 'Chúng tôi đã thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa. Chúng tôi đã hát những điệu bi ai, mà các anh không khóc'. Bởi vì khi Gioan Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ngươi bảo: 'Người bị quỷ ám'. Khi Con Người đến có ăn có uống, thì các ngươi lại nói: 'Kìa con người mê ăn tham uống, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi'. Nhưng sự khôn ngoan đã được minh chính bởi tất cả con cái mình".

 

Ở đây, qua nhận định của Chúa Giêsu về thành phần biệt phái và luật sĩ này, chúng ta thấy con người phải tuân hợp với chân lý, chứ chân lý không tuân hợp với con người, không theo con người, không như ý nghĩ thiển cận và ý muốn vị kỷ của con người, cho dù chân lý có thích ứng với con người để con người dễ lĩnh hội và chấp nhận (theo chiều hướng của bài Đọc 1 hôm nay)

 

Chính vì thành phần biệt phái và luật sĩ trong dân Do Thái tự phụ cho rằng mình thông luật và cẩn thận tuân giữ luật lệ nhờ đó trở nên công chính hơn ai hết, nên tưởng mình là đệ nhất thiên hạ về lề luật Chúa, ai cũng phải theo như ý họ nghĩ về lề luật một cách duy luật mới được, bằng không, vẫn bị họ cho là "bị quỉ ám", dù vị ấy có là Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, vị đã từng là đèn soi chiếu cho Đấng đến sau ngài được họ tìm đến trước đó để truy nguyên về Đấng Thiên Sai (xem Gioan 5:35; Gioan 1:24-27), thậm chí còn bị họ cho là "mê ăn tham uống, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi", dù vị ấy có là Chúa Kitô, Đấng "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12), là "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9).

 

Kinh nghiệm tu đức cũng cho thấy, Giáo Hội Công giáo chẳng những bị quyền bính chính trị bách hại suốt giòng lịch sử của mình ở khắp nơi, mà còn thường trở thành mục tiêu chống đối của chính nội bộ Kitô hữu Công giáo của mình nữa, bao gồm cả hàng giáo phẩm lẫn giáo dân, theo chiều hướng cấp tiến hay bảo thủ của họ: Giáo Hội bị coi là quá chậm chạp trước những con mắt cấp tiến, hay ngược lại Giáo Hội bị coi là phá giới trước con mắt của thành phần bảo thủ nếu Giáo Hội cần phải thích nghi những gì tùy phụ theo thời cuộc để mưu ích hơn cho phần rỗi các linh hồn. 

 

Chưa hết, thực tế phũ phàng cho thấy, theo chiều hướng canh tân cởi mở của Công Đồng Chung Vaticanô II, đặc biệt là về phụng vụ, đã xẩy ra tình trạng quá trớn bởi thành phần cấp tiến thừa thắng xông lên, Giáo Hội lại bị kêu trách là tại cởi mở, trong khi các nguyên tắc về cởi mở được Giáo Hội ấn định một cách đàng hoàng rõ ràng lại không được trung thực tuân giữ. Thế nhưng, cuối cùng mọi sự sẽ được sáng tỏ, đúng như Chúa Giêsu đã khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay: "sự khôn ngoan đã được minh chính bởi tất cả con cái mình". 

 

Đó là lý do Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã nhắn nhủ người môn đệ Timôthêu của ngài về cách thức phải sống làm sao cho xứng đáng trong Giáo Hội của Chúa "là cột trụ và nền tảng chân lý" như thế này:

 

"Con thân mến, cha viết cho con những điều này, cha hy vọng ngày gần đây cha sẽ đến gặp con. Nhưng nếu cha còn trì hoãn, thì thư này giúp cho con biết phải cư xử thế nào trong nhà Thiên Chúa, là Hội thánh Thiên Chúa hằng sống, là cột trụ và nền tảng chân lý". 

 

"Nhà Thiên Chúa là Hội thánh Thiên Chúa hằng sống, là cột trụ và nền tảng chân lý"  đây như thế nào, Thánh Phaolô đã cho biết tiếp như sau:

 

"Rõ thực lớn lao thay mầu nhiệm của tình thương, là mầu nhiệm đã được tỏ hiện trong xác thịt, minh chính trong Thánh Thần tỏ hiện cho Thiên Thần, rao giảng cho Dân Ngoại, kính tin trong thế gian, siêu thăng trong vinh hiển".

Phải chăng theo ngài thì "Nhà Thiên Chúa là Hội thánh Thiên Chúa hằng sống, là cột trụ và nền tảng chân lý" đây chính là Nhà của "mầu nhiệm tình thương", hay nói rõ hơn, là nhà của Chúa Giêsu Kitô, vì Người là chính hiện thân của tình thương, của tình yêu vô cùng nhân hậu Thiên Chúa, "đã được tỏ hiện trong xác thịt (xem Gioan 1:14), minh chính trong Thánh Thần tỏ hiện cho Thiên Thần (xem Luca 4:16-21; Gioan 1:51), rao giảng cho Dân Ngoại (xem Marco 16:16), kính tin trong thế gian (xem Tông Vụ 4:12,19)siêu thăng trong vinh hiển (xem Philiphe 2:9-11)".

 

"Sự khôn ngoan đã được minh chính bởi tất cả con cái mình", như Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay, được âm vang trong tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay: 

 

1) Tôi sẽ ca tụng Chúa hết lòng, trong nhóm hiền nhân và trong Công hội. Vĩ đại thay công cuộc của Chúa tôi, thực đáng cho những người mến yêu quan tâm học hỏi! 

2) Công cuộc của Chúa là sự hùng vĩ oai nghiêm, và đức công minh của Người muôn đời tồn tại. Chúa đã làm những điều lạ lùng đáng nhớ, Người thực là Ðấng nhân hậu từ bi. 

 

3) Chúa đã ban lương thực cho những ai tôn sợ Người, cho tới muôn đời Người vẫn nhớ lời minh ước. Chúa tỏ cho dân Người thấy công cuộc quyền năng của Người, hầu ban cho họ được phần sản nghiệp của chư dân. 


Ngày 16: Thánh Cornêliô, Giáo Hoàng và Cyprianô, Giám Mục tử đạo

Thánh Cornêliô sinh trưởng tại Rôma, ngài được nhiều người biết đến về tính hiền hậu và tiết độ. Năm 251, ngài được bầu lên ngôi Giáo Hoàng kế vị Ðức Fabianô giữa lúc con thuyền Giáo Hội đang nghiêng ngửa trong cơn bách đạo của hoàng đế Gallô và Volusianô. Ngoài ra, ngài còn phải đương đầu với ly giáo Novatianô và đã viết nhiều sách nói về những người bội giáo.

Vì trung thành với Chúa Kitô, thánh Cornêliô bị đày ở Civita Vecchia và chịu tử đạo ở đó vào cuối tháng 6 năm 253.

Hôm nay chúng ta mừng lễ thánh Cyprianô. Ngài sinh năm 200 tại Phi Châu trong một gia đình quý phái ngoại giáo. Sau khi trở lại, ngài phân phát hết của cải cho người nghèo. Dù mới trở lại chưa đầy một năm nhưng lòng nhiệt thành và hoạt động truyền giáo của ngài đã vang dội khắp nơi. Ngài được phong chức linh mục và sau đó được gọi giữ chức Giám Mục thành Carthagô. Chính trong thời thánh nhân làm Giám Mục cũng là lúc bạo vương Ðêciô ra tay tàn sát người Công Giáo. Cả Phi Châu sống trong lo sợ. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ngài thấy cần phải điều khiển địa phận trong âm thầm hơn là công khai đương đầu với địch thủ, nên đã rút vào nơi bí mật. Bằng những thơ luân lưu, ngài khuyến khích các tín hữu bị tù đày can đảm chịu đau khổ và những người chối đạo trở về với Giáo Hội. Khi cuộc bách hại tạm yên được một thời gian, ngài phải lo kiếm tiền để giải thoát cho hàng trăm ngàn người bị bắt làm nô lệ. Ngoài ra, ngài còn phải đương đầu với ly giáo Novatianô. Ngài viết nhiều sách để kêu gọi họ trở về Giáo Hội.

Năm 257, Valêrianô ban hành sắc lệnh bách hại đạo Công Giáo lần nữa. Thánh Cyprianô bị bắt và đày ở đảo Curubi và người ta buộc ngài phải dâng hương tế thần, nhưng ngài đã cương quyết từ chối. Vì vậy, ngày 14/9/258, ngài được vinh dự lấy máu đào làm chứng cho Chúa.



Thứ Năm

 

sự sống nợ nần

Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tm 4, 12-16
Ðáp Ca: Tv 110, 7-8. 9. 10
Phúc Âm: Lc 7, 36-50

 

Bài Đọc 1 hôm qua có câu: "Rõ thực lớn lao thay mầu nhiệm của tình thương, là mầu nhiệm đã được tỏ hiện trong xác thịt, minh chính trong Thánh Thần, tỏ hiện cho Thiên Thần, rao giảng cho Dân Ngoại, kính tin trong thế gian, siêu thăng trong vinh hiển", Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, một phúc âm được viết cho dân ngoại và về Lòng Thương Xót Chúa, tiếp theo bài Phúc Âm hôm qua về một Chúa Kitô bị thành phần biệt phái và luật sĩ cho rằng: "mê ăn tham uống, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi", bài Phúc Âm ghi lại một sự kiện như thể chứng thực Chúa Giêsu quả là như thế, quả là Đấng muốn đến sống gần gũi với thành phần tội lỗi để có thể cứu chuộc họ, để nhờ đó họ có thể nhận ra Lòng Thương Xót Chúa qua Người, ở nơi Người và là chính Người. 

Thật vậy, trong bài Phúc Âm hôm nay Thánh ký Luca cho thấy Chúa Giêsu đã gần gũi với một người đàn bà hư thân mất nết, một thứ gần gũi bất khả tránh ngoài ý muốn nhưng thật cần thiết, cho dù có thể trở thành gương mù cho người khác, như đã xẩy ra ở ngay trước mắt của vị chủ nhà biệt phái, đến độ gia chủ lấy làm ngạc nhiên khi chứng kiến thấy cảnh tượng, mà đối với thành phần coi mình là công chính bởi thông luật và duy luật, có vẻ quái gở này:

 

"Khi ấy, có một người biệt phái kia mời Chúa Giêsu đến dùng bữa với mình; Người vào nhà người biệt phái và vào bàn ăn. Chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người biệt phái, liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Bấy giờ bà đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm. Thấy thế, người biệt phái đã mời Người, tự nghĩ rằng: 'Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai, và thuộc hạng người nào chứ: là một đứa tội lỗi (mà)!'".

Nếu trong dụ ngôn vẫn được gọi là dụ ngôn người con hoang đàng, người cha nhân hậu trong dụ ngôn chẳng những tỏ lòng thương đứa con hoang đàng trở về mà còn thương cả đứa con cả ở nhà với ông mà lòng lại xa ông thế nào, thì trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu chẳng những tỏ lòng thương cả đứa con hoang đàng là người phụ nữ đang hết lòng thống hối ăn năn trở về với Người mà còn tỏ lòng thương cả vị chủ nhà công chính nhưng lầm lạc đáng thương nữa. Đó là lý do trong khi gia chủ đang có tư tưởng ngờ vực về thế giá của Người là vị được ông ta trân trọng mời vào nhà và dùng bữa với ông, Chúa Giêsu đã kéo ông từ bộ óc trên đầu của ông xuống trái tim ở dưới lồng ngực của ông, bằng một dụ ngôn vấn nạn làm ông tự suy nghĩ và đã nhận định rất đúng:

 

"Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: 'Hỡi Simon, Tôi có điều muốn nói với ông'. Simon thưa: 'Xin Thầy cứ nói'. 'Một người chủ nợ có hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?' Simon đáp: 'Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn'. Chúa Giêsu bảo ông: 'Ông đã xét đoán đúng'".

 

Thế rồi, căn cứ vào câu trả lời chính xác theo tự nhiên của vị chủ nhà, Chúa Giêsu mới áp dụng vào trường hợp của người phụ nữ tội lỗi đang đụng chạm đến Người ở ngay trước mặt ông, một con người được kể như mắc nợ nhiều hơn ông, (chứ không phải là ông công chính theo chủ quan mà ông không mắc nợ gì với Chúa nữa), một vị gia chủ tuy cảm phục Người đã mời Người đến nhà dùng bữa, (một người biệt phái hiếm thấy đối với Chúa Giêsu vẫn là cái gai chướng mắt của thành phần biệt phái và luật sĩ, dù vị chủ nhà này chưa cảm mến Người bằng nghị viên biệt phái Nicôđêmô - Gioan 3:1-2), nhưng vẫn không tỏ ra hết lòng cung kính Người và mến yêu Người như chính con nợ phụ nữ mà trong đầu của ông đang có vấn đề với Chúa, như chính Người đã vạch ra cho ông thấy trong bài Phúc Âm:

 

"Và quay lại phía người đàn bà, Người bảo Simon: 'Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, ông đã không đổ nước rửa chân Tôi, còn bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít'".

Thế rồi, trong khi chủ nhà đang bàng hoàng choáng váng bởi những nhận định rất chính xác về ông cũng như về người đàn bà tội lỗi đã có những hành động đúng như những gì vị đại khách nhắc lại và so sánh với thái độ cùng hành động của ông đối với cùng vị khách này, thì Chúa Giêsu đã phán với người đàn bà hư thân mất nết, như con nợ nhiều gấp 10 lần vị gia chủ ("hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi") rằng: "Tội con đã được tha rồi".

 

Lời Người phán truyền tha tội này không ngờ lại gây phản ứng dữ dội hơn nữa, lần này không phải chỉ riêng vị gia chủ mà bao gồm cả những khách được mời (chắc cùng thành phần biệt phái với chủ nhà) nữa. Bởi thế, "những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: 'Ông này là ai mà lại tha tội được?'". Họ nghĩ cũng đúng thôi, vì trước mắt họ thì Chúa Kitô chỉ là một nhân vật Giêsu Nazarét thuần túy, chứ chẳng phải thần thánh gì, chẳng phải là Con Thiên Chúa, chẳng phải là Thiên Chúa, Đấng duy nhất có quyền tha tội cho loài người. 

 

Tuy nhiên, trong khi con mắt duy luật và cao ngạo của thành phần biệt phái này không nhận ra vị thượng khách ở giữa họ như thế thì người phụ nữ lăng loàn tội lỗi đáng kinh tởm và xa lánh đối với họ lại nhận ra Người, Đấng có quyền tha tội lỗi cho nàng, nên nàng mới bày tỏ những cử chỉ ăn năn thống hối tuyệt vời nhưng đầy ngứa mắt như vậy, thậm chí nàng cứ đến với Người bất chấp các con mắt khinh người của nhóm khách biệt phái: "Chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người biệt phái, liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm...". 

 

Chính vì hành động đầy tin tưởng hết sức can đảm lạ lùng hiếm có này của người phụ nữ lạ mặt "tội lỗi trong thành" này mà cuối cùng Chúa Giêsu đã nói với nàng rằng: "Ðức tin con đã cứu con, con hãy về bình an". 

 

Kinh nghiệm tu đức và mục vụ cũng cho thấy, có những tâm hồn tội lỗi lâu năm chưa xưng tội, hay đúng hơn không dám xưng tội, vì chỉ sợ cứ sa đi ngã lại, hay vì thấy mình tội lỗi chất chồng và càng chồng chất tội lỗi càng khó trở về với Chúa, thậm chí còn nản chí mất lòng tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa. 

 

Thế nhưng, Thiên Chúa vẫn theo dõi và tìm kiếm từng con chiên lạc đã có cách cứu độ của Ngài. Bởi thế, vào thời điểm ấn định, trong một hoàn cảnh thích hợp nào đó, có những tâm hồn đã trở về với Ngài, đã xưng tội, cho dù vào trong giờ lâm tử, và sau đó họ cảm thấy họ được giải thoát và được tràn đầy bình an, một thứ bình an họ không thể nào có được khi họ đang sống trong tự do theo ý họ một cách gian ác lỗi lầm, một thứ bình an thế gian mà họ đã từng mù quáng theo đuổi và hoan hưởng không thể nào ban cho họ được (xem Gioan 14:27).

 

Bởi thế, kinh nghiệm tu đức còn cho thấy, có trở về với Chúa, có chạm đến Chúa nơi Bí Tích Hòa Giải và sau đó nơi Bí Tích Thánh Thể, con người yếu đuối với có sức để sống đức tin và đứa ái, bằng không, càng ngày sẽ càng bê bối và lún sâu xuống bùn lầy tội lỗi, đến độ nếu không có phép lạ không thể nào thoát khỏi vùng lầy tội lỗi ấy nữa. Nếu người phụ nữ tội lỗi trong bài Phúc Âm hôm nay không dám đến gần Chúa và thậm chí dám giơ bàn tay nhơ nhớp đã từng làm đĩ chạm đến Chúa, thì chắc nàng không bao giờ có thể được thanh tẩy và thậm chí được biến đổi (như chúng ta sẽ thấy trong Bài Phúc Âm ngày mai). 

 

Theo chiều hướng của Lòng Thương Xót Chúa, như trong bài Phúc Âm hôm nay, Vị Tông Đồ Dân Ngoại, một biệt phái quá nhiệt thành với Do Thái giáo đến hung hăng với những ai sống theo đường lối mới của Kitô giáo một thời ấy, đã khuyên người môn đệ Timôthêu của mình trong Bài Đọc 1 hôm nay về tư cách phục vụ của người môn đệ này trong cộng đồng dân Chúa, một tư cách hoàn toàn tương phản với những gì thành phần thông luật và dạy luật cho dân chúng tỏ ra trong bài Phúc Âm hôm nay, một tư cách nhờ đó người môn đệ của Chúa Kitô phục vụ mới có thể cứu mình và cứu những ai được ủy thác

 

"Con thân mến, chớ có ai khinh dể con vì con còn trẻ: nhưng con hãy nêu gương sáng cho các tín hữu, trong lời nói, cách ăn nết ở, trong đức bác ái, đức tin và đức thanh khiết. Cho tới khi cha đến, con hãy chăm chú đọc sách, khuyên bảo và dạy giáo lý. Con chớ quên lãng ân sủng trong con, là ơn đã ban cho con bởi lời tiên tri cùng với việc đặt tay của bậc Lão thành. Con hãy suy ngắm những sự đó, hãy để tâm đến các việc ấy, để mọi người đều thấy rõ con đã tiến tới. Con hãy thận trọng giữ mình và giữ lấy giáo lý: hãy kiên trì trong những việc ấy. Vì khi con làm như vậy, con sẽ cứu lấy chính mình con và những kẻ nghe lời con".

Tâm tình của người phụ nữ tội lỗi nhưng hết lòng ăn năn thống hối trong bài Phúc Âm hôm nay, cũng như đời sống cần trở thành gương mẫu phục vụ của người môn đệ Timôthêu trong Bài Đọc 1 hôm nay, đều được phản ảnh trong Bài Đáp Ca hôm nay:

 

1) Công cuộc tay Chúa làm ra đều chân thật và công chính, mọi giới răn của người đều đáng cậy tin. Những giới răn đó được lập ra cho đến muôn ngàn đời, được ban hành một cách chân thành và đoan chính.

 

2) Chúa đã gởi tặng ơn giải phóng cho dân Người, đã thiết lập lời minh ước tới muôn đời, danh Người thực là thánh thiện và khả úy! 

 

3) Ðầu sự khôn ngoan là tôn sợ Chúa, bao nhiêu người thờ Chúa đều hành động cách khôn ngoan. Lời khen ngợi Chúa còn tồn tại tới muôn đời.


Ngày 17: Thánh Rôbertô Bellarminô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh

Thánh Rôbertô sinh ngày 04/10/1542 tại Montepuciano nước Ý. Mẹ ngài là Cynthia Cervin, chị của Ðức Giáo Hoàng Marcellô II. Lúc còn thiếu thời, Rôbertô đã tỏ ra có nhiều điểm đặc biệt về trí thông minh và lòng đạo đức. Khi lên 18 tuổi, ngài xin gia nhập dòng Tên ở La Mã và năm 1569, ngài được gửi đi du học tại Louvain. Sau khi mãn học ở đó, Robertô đã lãnh chức linh mục. Nhờ sự thông minh uyên bác, ngài được bầu làm giáo sư ngay tại đại học Louvain trong 6 năm liền. Trong thời gian ấy, ngài đã tổ chức nhiều cuộc tranh biện về đủ mọi đề tài và bao giờ vấn đề cuối cùng cũng được giải đáp một cách rành rẽ và thỏa đáng. Ít lâu sau, ngài được cử làm Giám Tỉnh dòng Tên ở Naples. Năm 1596, Ðức Giáo Hoàng Clêmentê IV phong ngài làm Hồng Y, nhưng vì khiêm nhượng ngài đã không mang sắc phục. Ðến năm 1602, ngài lại được phong Giám Mục.

Ở bất cứ chức vụ nào, ngài cũng đem hết tài sức ra phụng vụ nước Chúa bằng giảng thuyết, làm phúc bố thí và củng cố tinh thần đạo đức mọi giới trong Giáo Hội. Ngài được đề cử làm cố vấn, giữ nhiều chức vụ trong bộ truyền giáo và nghi lễ. Ngài phải đương đầu với nhiều cuộc tranh luận gay go về quyền bính của Ðức Giáo Hoàng và giáo thuyết Ðức Maria đồng trinh. Ngoài ra, ngài còn viết nhiều sách rất có giá trị về tu đức.

Ngày 17/9/1621, ngài được an nghỉ trong Chúa sau một cơn sốt nặng trong dịp tĩnh tâm hằng năm ở nhà dòng thánh Anrê. 

Năm 1930, Ðức Giáo Hoàng Benoit XV đã phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.



Thứ Sáu


sự sống phục vụ

Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tm 6, 2c-12
Ðáp Ca: Tv 48, 6-7. 8-10. 17-18. 19-20
Phúc Âm: Lc 8, 1-3

Bài Phúc Âm hôm nay, mở đầu đoạn 8, tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua ở cuối đoạn 7. Tức là, sau sự kiện Chúa Giêsu được một người biệt phái tên là Simon mời đến dùng bữa với ông và bạn hữu của ông, ở đó Người đã tha th cho một người phụ nữ tội lỗi hết lòng ăn năn thống hối đến với Người.

 

Nếu bài Phúc Âm hôm qua, người phụ nữ lạ mặt như vô danh tiểu tốt này chỉ được Thánh ký Luca tiết lộ một chút xíu ở ngay đầu bài Phúc Âm đó là "một người đàn bà tội lỗi trong thành", thì hình như người phụ nữ tội lỗi ấy đã trở thành một (vẫn tiếp tục vô danh) trong những nữ môn đệ của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay: 

 

"Khi ấy, Chúa rảo qua các thành thị và xóm làng, giảng dạy và loan báo Tin Mừng nước Thiên Chúa. Có nhóm Mười Hai cùng đi với Người, cũng có cả mấy người phụ nữ đã được chữa khỏi tà thần và bệnh tật: là bà Maria cũng gọi là Mađalêna, người đã được trừ khỏi bảy quỷ ám, bà Gioanna vợ của Chusa, viên quản lý của Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác; những bà này đã lấy của cải mình mà giúp Người".

Phải chăng người phụ nữ tội lỗi tỏ lòng ăn năn thống hối ấy chẳng những đã từ bỏ đời sống tội lỗi mà còn dấn thân theo phục vụ Đấng đã vô cùng từ bi nhân hậu tha thứ tội lỗi cho mình nữa, qua chi tiết được Thánh ký Luca cho biết là: "Maria cũng gọi là Mađalêna, người đã được trừ khỏi bảy quỷ ám". 

 

Suy diễn này có thể đúng: người phụ nữ tội lỗi đã "đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm" và đã được Người tha thứ: "Tội lỗi con đã được tha... Ðức tin con đã cứu con, con hãy về bình an", trong bài Phúc Âm hôm qua, chính là "Maria cũng gọi là Mađalêna" trong bài Phúc Âm hôm nay

 

Thật vậy, căn cứ vào hai chi tiết trong 2 phúc âm khác, chúng ta có thể thấy được điều này. Trước hết, trong Phúc Âm Thánh Gioan, Thánh Ký đã chú thích ở trong ngoặc đơn về Maria là chị em của Matta và Lazarô như sau: “(Maria có Lazarô bị bệnh này là người đã xức dầu cho Chúa bằng dầu thơm và lau khô chân Người bằng tóc của mình)” (11:2), đúng như những gì Thánh ký Luca ghi nhận trong bài Phúc Âm hôm qua. 

Trong Phúc Âm của Thánh ký Marco, ở đoạn liệt kê thứ tự các lần Chúa Kitô phục sinh hiện ra, mà người đầu tiên được vị Thánh ký này liệt kê là “Maria Magdalene”, một nhân vật nữ đã được thánh ký ghi chú thêm một cách kỹ lưỡng như sau: “Người trước hết đã hiện ra với Maria Magdalene là người được Người trừ cho khỏi 7 quỉ” (16:9), đúng như những gì Thánh ký Luca ghi nhận trong bài Phúc Âm hôm nay.

 

Tóm lại, căn cứ vào các đoạn Phúc Âm được trích dẫn liên quan đến nhân vật mang tên Maria và Maria Magdalene, có thể kết luận rằng cả hai danh xưng này chỉ là một nữ nhân vật duy nhất, đó là Chị Thánh Maria Mai Đệ Liên được Giáo Hội mừng kính hằng năm vào ngày 22/7.

 

Vậy Maria Magdalene cũng là Maria chị em của Matta và Lazarô ở Bêtania, có thể là một con người đã bỏ nhà đi hoang sống đời tội lỗi (x Lk 7:37) ở Magdala (?), nhưng đã thống hối bằng tất cả tấm lòng tan nát khiêm cung của mình (x Lk 7:47), “đã chọn phần tốt hơn” là lắng nghe lời Chúa (x Lk 10:42), đã khóc thương Lazarô khiến Chúa cũng cảm thấy mủi lòng trước nước mắt của chị (x Jn 11:33), và đã trung kiên theo Chúa (còn hơn cả đa số các vị tông đồ) cho tới khi đứng dưới chân thập giá Chúa với Mẹ Maria và Thánh Tông Đồ Gioan (x Jn 19:25), nhờ đó chị thậm chí còn diễm phúc trở thành con người đầu tiên được Chúa Kitô phục sinh ưu tuyển hiện ra (x Mk 16:9), trước cả các thánh tông đồ, và Người đã sai chị đi loan báo tin mừng phục sinh về Người cho chính các tông đồ nữa (x Jn 20:17)! 

Việc trong thành phần môn đệ của Chúa Kitô có cả các nữ môn đệ đi theo Người để phục vụ Người, trong đó có Maria Mai-Đệ-Liên, cho thấy họ là những con người khôn ngoan, trổi vượt, sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian, ở chỗ, về tiêu cực không sống theo thế gian và như thế gian, và về tích cực họ sống với Chúa và cho Chúa, cả hai khía cạnh tiêu cực và tích cực này đều được chất chứa trong huấn dụ Thánh Phaolô gửi môn đệ Timôthêu của ngài trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay:

Về tiêu cực không sống theo thế gian và như thế gian: "Chúng ta đã không mang gì vào thế gian này, và chắc chắn chúng ta cũng không thể lấy ra được gì. Khi có cơm ăn và áo mặc, chúng ta hãy lấy thế làm bằng lòng. Còn như những kẻ muốn làm giàu, họ sa vào cơn cám dỗ, vào cậm bẫy và nhiều dục vọng điên rồ tác hại. Những cái đó làm con người ta chìm đắm vào chỗ điêu tàn và hư hỏng. Bởi chưng gốc rễ mọi sự dữ là lòng tham tiền bạc. Một số người vì đeo đuổi lòng tham này đã lạc mất đức tin và tự chuốc vào thân nhiều nỗi khổ đau".

Về tích cực họ sống với Chúa và cho Chúa: "Phần con, hỡi người của Thiên Chúa, hãy trốn xa những chuyện đó. Hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành. Con hãy chiến đấu trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của đức tin. Hãy cố đoạt lấy sự sống đời đời mà con đã được kêu gọi tới, và cũng vì đó, con đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng".

Bài Đáp Ca hôm nay phản ảnh nhận thức và tâm tình của những ai từ bỏ thế gian mà đi theo Chúa hay sống công chính trọn lành theo ý Chúa, như thành phần nữ môn đệ của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay, hay như những gì được Thánh Phaolô phác họa cho môn đệ Timôthêu của ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay:

1) Tại sao tôi phải kinh hãi trong ngày tai hoạ, khi ác tâm quân thù mưu hại bao bọc quanh tôi? Bọn người này tin cậy vào tài sản, chúng tự hào vì có bạc vạn tiền muôn. 

2) Nhưng thực ra không ai tự cứu được bản thân, cũng không ai dâng được lên Chúa giá tiền thục mạng. Giá thục mạng quá đắt, không bao giờ có đủ, hầu mong sống mãi đời đời, không phải nhìn coi sự chết. 

 

3) Ðừng e ngại khi thấy ai giàu có, khi thấy tài sản nhà họ gia tăng: bởi lúc lâm chung, họ chẳng mang theo gì hết, và tài sản cũng không cùng họ chui xuống nấm mồ. 

 

4) Dầu khi còn sống họ ca tụng mình rằng: "Thiên hạ sẽ khen ngươi, vì ngươi biết khôn ngoan tự liệu", họ sẽ tìm đến nơi đoàn tụ của tổ tiên, những người muôn thuở không được nhìn xem sự sáng. 



Thứ Bảy


sự sống mầm mống


Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tm 6, 13-16
Ðáp Ca: Tv 99, 2. 3. 4. 5
Phúc Âm: Lc 8, 4-15

 

Hôm nay, Thứ Bảy Tuần XXIV Thường Niên, Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca thuật lại dụ ngôn người gieo giống của Chúa Giêsu khi "có đông dân chúng tụ họp lại, và người ta từ các thị trấn đến cùng Chúa Giêsu".

Hình ảnh "có đông dân chúng tụ họp lại, và người ta từ các thị trấn đến cùng Chúa Giêsu" ở ngay đầu bài Phúc Âm hôm nay rất thích hợp với dụ ngôn người gieo giống là Chúa Giêsu qua vai trò giảng dạy của Ngài, những lời giảng dạy như hạt giống gieo vào tai, vào lòng thính giả, trong đó không phải ai cũng tiếp nhận hạt giống này như nhau, mà là khác nhau, được chính Chúa Giêsu phân loại và tóm gọn lại thành 4 hạng trong dụ ngôn của Người như sau:  

 

"Người gieo hạt giống ra đi gieo hạt giống mình. Và đang khi gieo, có hạt rơi xuống bên vệ đường, bị người ta chà đạp và chim trời đến ăn đi. Hạt khác rơi trên đá sỏi, vừa mọc lên liền héo đi, vì không có đất ẩm. Hạt khác rơi vào bụi gai, và gai góc cùng mọc lên, bóp nghẹt nó. Hạt khác rơi vào đất tốt, đã mọc lên và kết quả gấp trăm".

Bốn hạng hay bốn loại thính giả lắng nghe lời Chúa hay đón nhận hạt giống lời Chúa này ra sao và được hạt giống lời Chúa tác dụng như thế nào nơi bản thân họ, hay nói cách khác, hạt giống lời Chúa đã sinh hoa kết trái ra sao nơi họ, tất cả đã được Chúa Giêsu dẫn giải ở phần cuối bài Phúc Âm hôm nay theo lời yêu cầu của các môn đệ:

 

"Dụ ngôn đó có nghĩa thế này: Hạt giống là lời Thiên Chúa. Những hạt rơi bên vệ đường, tức là những người đã nghe, nhưng rồi quỷ tới và cướp lời khỏi lòng họ, kẻo họ tin mà được cứu độ. Những hạt rơi trên đá sỏi là những người, khi nghe thì vui vẻ đón nhận lời Chúa, nhưng họ không đâm rễ, họ chỉ tin tưởng nhất thời, và khi đến giờ thử thách, thì tháo lui. Hạt rơi vào bụi gai, là những người đã nghe, nhưng khi đi đường, những mối lo nghĩ, sự giàu có và thú vui của đời sống bóp nghẹt và họ không sinh hoa kết quả. Còn như hạt rơi trong đất tốt, là những người nghe lời với tấm lòng tốt lành và thiện hảo, họ giữ lấy và nhờ kiên nhẫn, họ sinh được hoa trái".

Như thế, căn cứ vào những gì được Chúa Giêsu dẫn giải, thì trình độ lãnh nhận hay thái độ lãnh nhận lời Chúa được chia ra làm 4 cấp theo tác dụng của lời Chúa, thứ tự như sau: 

 

1- "Vệ đường" - Hững hờ trong tâm linh: "Những hạt rơi bên vệ đường, tức là những người đã nghe, nhưng rồi quỷ tới và cướp lời khỏi lòng họ, kẻo họ tin mà được cứu độ". Trường hợp này thường thấy nơi những con người chẳng tin tưởng gì hết, ngoài chính bản thân họ, họ chủ quan, cố chấp, thành kiến, ý riêng, hoàn toàn sống theo bản tính tự nhiên và buông thả, đến độ không cần bị cám dỗ họ cũng sa ngã, phạm tội mà không biết, mất hết ý thức tội lỗi v.v.

 

2- "Sỏi Đá" - Nông cạn trong cuộc sống: "Những hạt rơi trên đá sỏi là những người, khi nghe thì vui vẻ đón nhận lời Chúa, nhưng họ không đâm rễ, họ chỉ tin tưởng nhất thời, và khi đến giờ thử thách, thì tháo lui". Thường thấy xẩy ra trong các cuộc tĩnh tâm, tham dự viên rất hào hứng khi nghe giảng, vổ tay, cười lớn, thích thú, gật gù v.v. thế nhưng sau đó vẫn tiếp tục sống với những gì phản lại với lời giảng mà họ cảm thấy hay ho thấm thía nhất thời. 

 

3- "Bụi gai" - Bất ổn trong nội tâm: "Hạt rơi vào bụi gai, là những người đã nghe, nhưng khi đi đường, những mối lo nghĩ, sự giàu có và thú vui của đời sống bóp nghẹt và họ không sinh hoa kết quả". Có những Kitô hữu Công giáo rất thông thuộc lời Chúa, hay lập lại Lời Chúa khi cần, nhắc nhở Lời Chúa cho kẻ khác, và sống đời cầu nguyện một cách kỹ lưỡng hằng ngày, cho tới khi hoạt động đụng chạm mới thấy trình độ thấm nhuần lời Chúa của họ tới đâu.

 

4- "Đất lành" Đáp ứng trong tin tưởng: "Còn như hạt rơi trong đất tốt, là những người nghe lời với tấm lòng tốt lành và thiện hảo, họ giữ lấy và nhờ kiên nhẫn, họ sinh được hoa trái". Mẫu gương cho thành phần "đất lành chim đậu" này không ai hơn Đệ Nhất Tạo Vật về ân sủng là Mẹ Maria, nhờ luôn suy niệm và đáp ứng lời Chúa (xem Luca 2:19,51), bởi thế Mẹ luôn đầy ân phúc và không bao giờ giảm một chút gì ân phúc nơi Mẹ, trái lại, ân phúc càng đầy nơi Mẹ, càng làm cho Mẹ nên giống Chúa hơn ai hết, đến độ Mẹ trở nên rực rỡ như mặt trời (xem Khải Huyền 12:1; Diễm Tình Ca 6:10).

 

Theo chiều hướng làm sao cho hạt giống lời Chúa tác dụng tối đa nơi bản thân mỗi người, nhất là nơi thành phần Kitô hữu môn đệ của Chúa Kitô, Thánh Phaolô đã khuyên môn đệ Timôthêu của ngài cần phải sống trung thực với các huấn lệnh, với lời Chúa, nhờ đó Thiên Chúa mới hiển linh nơi thành phần "tín hữu" của Ngài:

 

"Con thân mến, cha chỉ thị cho con trước mặt Thiên Chúa, Ðấng làm cho muôn vật được sống, và trước mặt Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã làm trước mặt Phongxiô Philatô lời tuyên xưng thẳng thắn, con hãy giữ gìn huấn lệnh đó cho tinh tuyền và không thể trách được cho tới ngày Chúa chúng ta là Ðức Giêsu Kitô lại đến, mà tới thời đã định, Ðấng phúc lộc và quyền năng duy nhất sẽ tỏ ra Người là Thiên Chúa, Vua các vua và Chúa các chúa, Ðấng độc nhất trường sinh bất tử, Người ngự trong ánh sáng siêu phàm, không một ai trong loài người đã xem thấy, hay có thể xem thấy: Vinh dự và quyền năng (xin kính dâng) cho Người muôn đời. Amen!"

 

Tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay cũng là tâm tình của những tâm hồn trở thành mảnh đất tốt tươi của Lời Chúa và cho Lời Chúa được Chúa Giêsu ám chỉ trong dụ ngôn người gieo giống ở bài Phúc Âm hôm nay

 

1) Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá.

2) Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa; chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của Người; ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi.

 

3) Hãy vào trụ quan nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui; hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người. 

 

4) Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn muôn thế hệ. 


Ngày 19: Thánh Januariô, Giám Mục tử đạo

Thánh Januariô sinh năm 270 tại nước Ý. Năm 320 thụ phong linh mục và sau đó ít lâu lại được bầu làm Giám Mục Bénévent. Ðó cũng là lúc hoàng đế Ðiôclêtianô và Maximinô đang ra tay bách hại người Công Giáo. Mặc dù nhận lãnh chức vụ chủ chăn gặp lúc tình thế khó khăn, thánh nhân cũng đã đem hết lòng nhiệt thành phụng sự nước Chúa, danh tiếng ngài đồn thổi khắp nơi. Ngài cũng giữ một vai trò quan trọng trong cộng đồng Sardique, vì thế ngài đã trở nên như đích tấn công của kẻ thù Giáo Hội.

Cuộc bách hại Giáo Hội càng ngày càng khốc liệt hơn. Ngài thường tìm cách đi thăm viếng những người Công Giáo đang bị giam cầm để củng cố lòng tin và an ủi khích lệ họ. Ngài đến Puozzoles và bị bắt. Sau những cuộc tra tấn thật dã man, ngài bị kết án tử hình và bị ném cho thú dữ xâu xé, nhưng Chúa đã làm phép lạ tỏ tường để gìn giữ thân xác ngài toàn vẹn. Năm 305, ngài được lãnh triều thiên tử đạo tại đó.

Thánh Januariô được nhiều người tôn kính vì nhân đức và lòng nhiệt thành và nhất là vì phép lạ của máu ngài được giữ lại: máu thánh nhân được chứa trong một bình thủy tinh, thỉnh thoảng máu ấy chảy loãng ra và mang mầu đỏ tươi. Khoa học xác nhận là có đầy đủ đặc tính như máu một người sống. Lúc thường máu ấy đọng khô và đen sẫm. Hiện tượng này xảy ra mỗi năm 3 lần vào tháng Năm, tháng Chín và tháng Mười Hai và trong quá khứ đã báo trước những thiên tai khủng khiếp ở nước Ý. Phép lạ này hiện nay vẫn còn tái diễn tại nhà thờ Naples và dân chúng thành này đã nhận ngài làm thánh bổn mạng.