SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014

 

2015

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XXVII Thường Niên 

4-10/10/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html) 



Chúa Nhật


sự sống hiệp thông


Bài Ðọc I: St 2, 18-24

Ðáp Ca: Tv 127, 1-2. 3. 4-5. 6

Bài Ðọc II: Dt 2, 9-11

Phúc Âm: Mc 10, 2-12

Chủ đề "sự sống" của Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh vẫn được tiếp tục phản ảnh qua Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XXVII tuần này, một "sự sống" được thể hiện qua tình trạng hiệp nhất nên một nơi đời sống vợ chồng.

Bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô hôm nay chất chứa câu trả lời dứt khoát của Chúa Giêsu về bản chất bất khả phân ly của đời sống hôn nhân gia đình, của ơn gọi vợ chồng, một khẳng định cho vấn đề được "những người biệt phái đến gần và hỏi thử Chúa Giêsu rằng: 'Người ta có được phép ly dị vợ mình chăng?'".

Vì là vấn đề được đặt ra để "hỏi thử Chúa Giêsu" mà "những người biệt phái" giữ luật (dù theo hình thức) đã có thể thấy được cái hóc búa của vấn đề nơi chính bản thân của họ nên mang ra như vừa để thử thách Chúa vừa để gỡ rối cho chính họ là thành phần vốn thông luật. Ở chỗ, nếu Chúa Giêsu trả lời là "được phép ly dị" thì họ bảo Người chủ trương ngược lại với dự án thần linh của Thiên Chúa ngay từ ban đầu về hôn nhân, nếu Người nói "không được phép ly dị" thì Người bị cho là chống lại luật của Moisen. 

Bởi thế, theo sự khôn ngoan của mình và để thuyết phục thành phần đối phương nham hiểm, Chúa Giêsu đã hỏi ngược lại họ như sau: "'Môsê đã truyền cho các ông thế nào?' Họ thưa: 'Môsê cho phép làm giấy ly dị và cho ly dị'". Căn cứ vào câu trả lời này của họ, Chúa Giêsu đã vạch ra cho họ thấy lý do tại sao Moisen lại cho phép ly dị là một thứ phép ngay từ ban đầu chẳng hề có: 

"Chính vì sự cứng lòng của các ông, mà Môsê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục. Như thế, họ không còn là hai mà là một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ".

Lời Chúa Giêsu khẳng định không có vấn đề ly dị ngay từ ban đầu nơi dự án thần linh của Thiên Chúa đối với đời sống hôn nhân đã được Bài Đọc 1 xác nhận ở đoạn 2 của Sách Khởi Nguyên, trong đó bao gồm cả lý do tại sao có nam có nữ và nguồn gốc của người nữ cùng ơn gọi hôn nhân:

Trước hết, vì con người được dựng nên không phải chỉ là hình ảnh thần linh của Thiên Chúa ở chỗ duy nhất trên trần gian này, như Ngài là Thiên Chúa duy nhất vậy, mà còn tương tự như Ngài ở chỗ hiệp thông nữa. Bởi thế, con người duy nhất cũng là con người đầu tiên này vẫn chưa trọn vẹn: "ở một mình không tốt", cho dù chung quanh con người có hết mọi sự thuộc về con người mà vẫn không xứng hợp với con người nên không thể hiệp thông với con người:

"Chúa là Thiên Chúa phán: 'Con người ở một mình không tốt. Ta hãy tạo dựng cho nó một nội trợ giống như nó'. Sau khi lấy bùn đất dựng nên mọi thú vật dưới đất và toàn thể chim chóc trên trời, Thiên Chúa dẫn đến trước mặt con người để coi con người gọi chúng thế nào, và sinh vật nào con người gọi, thì chính đó là tên nó. Con người liền đặt tên cho mọi súc vật, chim trời và muông thú. Nhưng con người không gặp một người nội trợ giống như mình.

Cho đến khi con người nhận thấy được chính bản thân của mình là những gì xuất phát từ bản thân họ chứ không phải từ bất cứ sự gì bên ngoài:

"Vậy Thiên Chúa khiến cho con người ngủ say, và khi con người đang ngủ, Người lấy một xương sườn của con người, và đắp thịt lại. Thiên Chúa làm cho chiếc xương sườn đã lấy từ con người trở thành người đàn bà, rồi dẫn đến con người. Con người liền nói: 'Đây mới là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi. Người này sẽ được gọi là người nữ, vì bởi con người mà ra'. Vì thế, người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai nên một thân thể".

Cảm nghiệm bản thân mình này nơi con người cũng rất đúng với tâm lý tự nhiênỞ chỗ, khi con người đang ở vào tuổi dậy thì, thời điểm con người đang muốn biết mình là ai, như thể thiếp đi trong một giấc ngủ say, thì đồng thời lại là thời điểm con người bắt đầu biết yêu thương, cho đến khi họ gặp được đối tượng yêu thương thì gắn bó với đối tượng ấy, như thể chính bản thân của con người, như thể tìm thấy được chính bản thân mình nơi đối tượng yêu, đến độ họ không thể sống mà không có đối tượng yêu là bản thân của họ ấy: "Vì thế, người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai nên một thân thể".

Vấn đề được đặt ra là: thứ nhất, "người nam" ở đây ngay từ ban đầu đâu có cha mẹ mà bỏ, và thứ hai, làm sao "cả hai nên một thân thể" được, cho dù là giao hợp vợ chồng với nhau? 

Thật ra, về vấn đề "cả hai nên một thân thể" thì theo tâm sinh lý tự nhiên, người chồng bao giờ cũng yêu thương vợ như là chính thân thể của mình (xem Epheso 5:28), bởi thế khi chồng yêu thương vợ qua tác động giao hợp với vợ chính là tác động nên một thân thể vậy.

Tuy nhiên, ở đây, đoạn Thánh Kinh trong Sách Khởi Nguyên này còn ám chỉ Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô, một thân thể duy nhất có Chúa Kitô là Đầu, một Chúa Kitô là chính "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), đã bỏ Cha trên trời mà xuống ở với loài người để có thể nhờ đó hiệp nhất nên một với loài người như là một ngôi vị duy nhất có hai bản tính, một Giáo Hội xuất thân từ cạnh sườn của Chúa Kitô như đã được tiên báo nơi hình ảnh người nữ xuất thân từ xương sườn của con người đầu tiên vậy

Đúng thế, nếu hôn nhân là một mầu nhiệm cao cả liên quan đến Chúa Kitô và Giáo Hội (xem Epheso 5:32), bằng không, hôn nhân sẽ mất hết ý nghĩa, thì như cảm nhận của vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô trong Bài Đọc 2 hôm nay, việc hạ giáng của Chúa Kitô nơi mầu nhiệm nhập thể là để làm cho con người có thể nhờ đó được hiệp thông thần linh với Người và trở nên ruột thịt với Người: 

"Anh em thân mến, Ðấng trong một thời gian bị hạ xuống kém các Thiên Thần, là Ðức Giêsu, chúng ta thấy Người được triều thiên vinh quang và danh dự vì cuộc tử nạn của Người, để nhờ ơn Thiên Chúa, Người chịu chết thay cho mọi người. Quả vậy, thật là thích hợp việc Chúa là nguyên nhân và cùng đích mọi vật, đã dẫn đưa nhiều con cái đến vinh quang và đã lấy cuộc khổ nạn mà làm cho Ðấng đem lại ơn cứu rỗi được hoàn hảo. Vì chưng, Ðấng thánh hoá và những người được thánh hoá, tất cả đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người không hổ thẹn gọi họ là anh em".

Bài Đáp Ca hôm nay bề ngoài như thể nói về đời sống và hạnh phúc hôn nhân gia đình, nhưng thật ra nói về con người tôn sợ Chúa, sống theo đường lối Chúa thì sinh hoa kết trái phong phú. Nghĩa là nói đến con người ta ở vị thế của một con người, với tư cách làm vợ, cần phải nhận biết tình yêu thương sủng ái của Thiên Chúa Hóa Công và Cứu Chuộc của mình để có thể đáp ứng xứng với tình yêu thương vô cùng nhân hậu của Ngài, nhờ đó có thể sinh hoa kết trái cho Ngài. 

1) Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người! Công quả tay bạn làm ra bạn được an hưởng, bạn được hạnh phúc và sẽ gặp may. 

2) Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái, trong gia thất nội cung nhà bạn. Con cái bạn như chồi non của khóm ô-liu, ở chung quanh bàn ăn của bạn.  

3) Ðó là phúc lộc dành để cho người biết kính sợ Chúa. Nguyện Chúa từ Sion chúc phúc cho bạn, để bạn nhìn thấy cảnh thịnh đạt của Giêrusalem, hết mọi ngày trong đời sống của bạn. 

4) Và để bạn nhìn thấy lũ cháu đàn con. Nguyện xin bình an đến trên đất Israel. 

Ngày 04: Thánh Phanxicô Khó Khăn, lập dòng

Thánh Phanxicô Khó Khăn sinh tại Assise khoảng năm 1182. Cha ngài, ông Bênađô là một thương gia tơ sợi nổi tiếng. Mẹ ngài là bà Pica, một người đạo đức, đã hun đúc ngài trở thành một vị thánh thời danh.

Lúc bấy giờ có cuộc nổi loạn của đám lê dân chống lại những người quý tộc. Ngài bị bắt và bị cầm tù gần một năm. Trong thời gian đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng; sau khi khỏi, Chúa đã cảm hóa ngài với câu: "Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời". Ngài quyết định từ bỏ mọi sự, sống đời nghèo khó năm 1206. Bị cha già hết sức phản đối, nhưng dù thương cha, ngài cũng không dám làm ngược lại thánh ý Chúa. Ngài phân phát hết của cải, chỉ gữ lại chiếc choàng cũ rồi đi rao giảng Tin Mừng.

Trong cảnh sống cơ cực này, được Chúa thúc đẩy, ngài thành lập hội dòng Anh Em Hèn Mọn. Sau đó, ngài lui về Alverne, một nơi cô tịch phía Bắc Assise để suy niệm và ăn chay đền tội. Trong lúc xuất thần, ngài nhìn thấy Thiên Thần Sêraphim và một ảnh chuộc tội. Khi tỉnh lại, lạ lùng thay, chính trên thân thể ngài, Chúa đã in năm dấu thánh cho người Chúa yêu (1224).

Hai năm sau, ngài lâm bệnh. Trước giờ chết, ngài khuyên bảo anh em hãy cố giữ tinh thần nghèo khó và đức tin sâu xa vào Giáo Hội Chúa. Ngài nhắm mắt lìa trần ngày 04/10/1226.

Dưới triều Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô, ngài được tôn lên bậc Hiển Thánh. Nhìn tấm gương nghèo khó thương người, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta biết lướt thắng mọi vinh hoa phú quý để tăng lòng mến Chúa và ham chuộng tinh thần Phúc Âm.

 


Thứ Hai

 

sự sống đại đồng


Bài Ðọc I: (Năm I) Gn 1, 1 - 2, 1. 11
Ðáp Ca: Gn 2, 2. 3. 4. 5. 8
Phúc Âm: Lc 10, 25-37

Phụng Vụ Lời Chúa cho Thứ Hai Tuần XXVII Thường Niên hôm nay liên quan đến sự sống đời đời là những gì bất khả phân ly với tính chất đại đồng của tình yêu thương nhau. 

Thật vậy, vấn đề được đặt ra trong bài Phúc Âm hôm nay từ "một người thông luật đứng dạy hỏi Chúa Giêsu rằng: 'Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?'", đã được Người trực tiếp khẳng định "Ông trả lời đúng, hãy làm như vậy và ông sẽ được sống", ở chỗ, đúng như câu trả lời của chính nhân vật ấy: "Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình". 

Nghĩa là muốn được sống đời đời thì phải mến Chúa hết mình và yêu người như chính bản thân mình. "Nhưng người đó muốn bào chữa mình, nên thưa cùng Chúa Giêsu rằng: 'Nhưng ai là anh em của tôi?'". Tại sao "người đó muốn bào chữa mình" bằng câu hỏi tiếp theo "ai là anh em của tôi?" Phải chăng vì nhân vật này khó có thể yêu thương bất cứ ai, cùng lắm chỉ yêu thương những ai là ruột thịt của mình, những ai mình thích và những ai thích mình, về phe mình, tức là còn đầy khuynh hướng kỳ thị, còn đầy những thành kiến trong đầu, còn đầy ác cảm với tha nhân v.v.?

Có thể là thế. Bởi vậy, Chúa Giêsu đã phải sử dụng một dụ ngôn để cho nhân vật ấy biết "ai là anh em của tôi?", nhờ đó mà noi gương bắt chước: "đi và làm như vậy", sau khi nhân vật này đã nhận xét rất đúng theo câu hỏi Chúa Giêsu đặt ra để kết thúc dụ ngôn của Người: "'Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?' Người thông luật trả lời: 'Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy'".

Vậy "Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy" là ai và "người ấy" là người nào? Nếu không phải "người ấy" là "Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết".

Và "Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy" là ai - theo nhân vật thông luật trả lời thì không phải là "một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua", mà là "một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho ông chủ quán mà bảo rằng: 'Ông hãy săn sóc người ấy, và ngoài ra còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về tôi sẽ trả lại ông'". 

Vấn nạn của nhân vật thông luật "ai là anh em của tôi", theo dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, không được Chúa Giêsu trả lời đó chính là nạn nhân bị rơi vào tay bọn cướp, mà vấn đề hoàn toàn ngược hẳn lại "ai là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp". 

Có nghĩa là, theo kinh nghiệm sống đạo và giao tiếp, bao lâu chúng ta còn đặt vấn đề "ai là anh em của tôi?" là chúng ta còn khuynh hướng kỳ thị, còn kẻ thù, thậm chí là chính những người ruột thịt của chúng ta, bởi chúng ta còn muốn chọn lựa anh em theo ý nghĩ, ý thích và ý muốn tự nhiên thiên lệch đầy vị kỷ của mình, và vì thế chúng ta vẫn còn gặp rất nhiều kẻ thù, rất nhiều đối phương, bất kể người ấy là ai, là thân nhân, ân nhân, thân hữu của mình một thời v.v.

Ngược lại, nếu chúng ta coi mình là anh em của mọi người thì sẽ chẳng bao giờ còn kẻ thù, còn đối phương, còn tranh giành, còn ghen ghét, còn đố kỵ v.v. Chúng ta sẽ như Chúa Kitô đến không phải để được phục vụ mà là phục vụ (xem Mathêu 20:28), sống hòa đồng với mọi người, tiến đến với mọi người, bất kỳ ai, nhất là những con người thấp hèn bé mọn bần cùng khốn khổ trong xã hội, hơn là chờ mọi người đến với mình, hơn là quen thân gắn bó với thành phần giầu sang quyền quí thế lực v.v.

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cũng theo tinh thần và đường hướng yêu thương đại đồng như bài Phúc Âm, khi Thiên Chúa ra tay gây sóng gió để chặn đường tẩu thoát của Tiên Tri Giona là vị tiên tri mang tâm tính kỳ thị chủng tộc, nên đã trốn tránh thi hành mệnh lệnh của Ngài trong việc rao giảng thống hối cho dân thành Ninive là một thành dân ngoại mà theo ông đáng bị Ngài trừng phạt hơn là thương xót.

"Có lời phán cùng Giona, con trai ông Amathi, rằng: 'Ngươi hãy chỗi dậy đi sang Ninivê, một thành rộng lớn, và giảng tại đó, vì tội ác của nó thấu đến Ta'. Giona liền chỗi dậy để trốn sang Tharsê lánh xa mặt Chúa; ông đi xuống Gioppê, gặp tàu đi sang Tharsê, ông liền mua vé, xuống tàu đi với hành khách sang Tharsê, lánh xa mặt Chúa. Nhưng Chúa khiến trận cuồng phong thổi trên biển và cơn bão táp dữ dội nổi lên, khiến tàu lâm nguy sắp chìm... 

Chính vị tiên tri này cũng đã nhận biết lỗi lầm của mình với nhóm thủy thủ và ngỏ ý muốn sẵn sàng đền tội lỗi của mình bằng cách để cho họ quăng mình xuống biển hầu cứu cả tầu.

"Các thủy thủ cố chèo thuyền vào đất liền, nhưng không sao được, vì biển càng động dữ dội hơn. Họ kêu cầu cùng Chúa rằng: 'Lạy Chúa, chúng tôi xin Chúa vì mạng sống người này cho chúng tôi khỏi chết. Xin chớ đổ máu vô tội trên chúng tôi, vì, lạy Chúa, Chúa hành động theo như Chúa muốn'. Rồi họ bắt ông Giona vứt xuống biển, và biển liền hết nổi sóng. Mọi người rất kính sợ Chúa, họ tế lễ dâng lên Chúa và làm lời khấn hứa. Chúa chuẩn bị sẵn một con cá lớn để nuốt ông Giona, và ông Giona ở trong bụng cá ba ngày ba đêm. Sau đó, Chúa truyền lệnh cho cá nhả ông Giona vào bờ".

Bài Đáp Ca hôm nay là tâm tình của Tiên Tri Giona đang khi nằm trong bụng cá và hướng về Vị Thiên Chúa là Đấng đã sai ông đi rao giảng thống hối cho dân thành Ninive nhưng ông đã bất tuân nên bị Ngài trừng phạt khiến ông kêu cầu Ngài thương đến ông, nhờ đó ông mới cảm nghiệm được thế nào là tình thương của Thiên Chúa, thậm chí đối với cả dân ngoại nữa:

1) Nằm trong bụng cá, ông Giona thưa cùng Chúa là Thiên Chúa của mình rằng: 

2) Trong cảnh gian truân, con đã kêu cầu tới Chúa, và Ngài đã nhậm lời con; tự lòng vực sâu âm phủ, con đã kêu lên, và Ngài đã nghe rõ tiếng con.

3) Ngài đã ném con xuống vực sâu, trong lòng biển, các dòng nước đã lôi cuốn thân con, bao sóng cả ba đào đều lướt chảy trên mình con. 

4) Bấy giờ con tự nhủ: Con đã bị loại xa khỏi thiên nhan Chúa, nhưng con sẽ còn được xem thấy thánh điện Ngài. 

5) Khi mà trong người con, linh hồn tuyệt vọng, bấy giờ con đã nhớ (tới) Chúa. Lời cầu nguyện của con đã thấu đến tai Ngài, trong nơi thánh điện của Ngài. 



Thứ Ba


sự sống nội tâm

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Gn 3, 1-10

Ðáp Ca: Tv 129, 1-2. 3-4ab. 7-8

Phúc Âm: Lc 10, 38-42

Hôm nay, Thứ Ba Tuần XXVII Thường Niên, Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca thuật lại sự kiện về việc Chúa Giêsu ghé vào thăm gia đình 3 chị em Matta, Maria và Lazarô, và được người chị cả tiếp đón nồng hậu, nhưng rất tiếc bà chị lại đã tỏ ra ghen tị với người em gái của mình trước mặt Chúa Giêsu:

 

"Khi ấy Chúa Giêsu vào một làng kia, và có một phụ nữ tên là Martha rước Người vào nhà mình. Bà có người em gái tên là Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người. Martha bận rộn với việc thiết đãi khách. Bà đứng lại thưa Người rằng: 'Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với'. Nhưng Chúa đáp: 'Martha, Martha, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện (quá). Chỉ có một sự cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất'".

Thật ra Chúa Giêsu không trách Matta về việc phục vụ cần thiết của chị, cho bằng trách chị "lo lắng bối rối về nhiều chuyện", đến độ trở thành bất an, được bộc lộ qua thái độ và ngôn ngữ có tính cách ghen tị với em của chị: "Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với".

Nếu chị cứ âm thầm làm tất cả những gì cần thiết như chị cảm thấy để ân cần tiếp đãi vị đại khách của gia đình chị là Chúa Giêsu, với một tâm hồn hoàn toàn yêu mến Thày và yêu thương các em trong nhà, sẵn sàng chịu thiệt để cho chúng thay mình đang bận làm việc gần gũi tiếp chuyện với Thày, thì chị đâu có bị khiển trách như thế. 

Tuy nhiên, qua lời chị ghen tị với em của chị như thế mới thấy được rằng chính chị cũng muốn được gần gũi với Chúa Giêsu như em của chị. Đó là lý do có những lúc hoạt động không còn giờ cầu nguyện, tâm hồn vẫn có thể khao khát Chúa, vẫn có thể cầu nguyện bằng chính lòng khao khát của mình, miễm là đừng coi thường cầu nguyện khi có giờ và chỉ vì thích hoạt động mà bỏ cầu nguyện khi có thể.

Phải, sống nội tâm và bằng an, sống vì Chúa và cho tha nhân là "sự cần duy nhất mà thôi", bằng không tất cả mọi hoạt động của chúng ta, cho dù lành thánh mấy chăng nữa, cho dụ thiện ích mấy chăng nữa, cũng có thể trở thành dịp tội cho con người hoạt động, cuối cùng họ chỉ mất công vô ích mà thậm chí hoạt động còn trở thành nguy hiểm cho tâm hồn của họ nữa. 

Như thế, có thể nói Matta là biểu hiệu cho đời sống hoạt động, còn Maria biểu hiệu cho đời sống cầu nguyện: "Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất". Căn cứ vào giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay qua sự kiện Matta-Maria này, chúng ta thấy: 1- đời sống nội tâm cầu nguyện là chính yếu và cần trước hết và trên hết; 2- có biết lắng nghe tiếng Chúa bằng đời cầu nguyện mới có thể làm theo ý Ngài khi hoạt động, bằng không lúc đầu làm vì Chúa cuối cùng làm cho mình.

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cho thấy chính vì dân thành Ninive đã biết lắng nghe lời Thiên Chúa qua vị tiên tri được Ngài sai đến là Giona nên họ đã ăn năn thống hối và quả thực đã được Ngài thương tha:

"Lời Chúa phán cùng Giona rằng: 'Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi'. Giona chỗi dậy và đi đến Ninivê theo lời Chúa dạy. Ninivê là một thành phố lớn, rộng bằng ba ngày đàng. Giona tiến vào thành phố, đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: 'Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá huỷ'. Dân thành tin tưởng nơi Chúa; họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ.

"Vua thành Ninivê nghe điều đó, liền bỏ ngai vàng, cởi áo cẩm bào, mặc áo nhặm và ngồi trên đống tro. Trong thành Ninivê, người ta rao sắc lệnh sau đây của nhà vua và các vương hầu: 'Người, vật, bò, chiên, không được nếm, không được ăn uống gì hết; người và vật phải mặc áo nhặm, phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý thứ tha, nguôi giận và chúng ta khỏi chết?' Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa đổi ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó".

Tâm tình của tội nhân nói chung và của dân thành Ninive trong Bài Đọc 1 hôm nay nói riêng là những gì được gói ghém trong Bài Đáp Ca hôm nay, một tâm tình hướng về Vị Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu luôn tha thứ cho những tâm hồn tan nát khiêm cung trước nhan của Ngài:

1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu! Dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. 

2) Nếu Chúa nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. 

3) Israel đang mong đợi Chúa: bởi vì Chúa rộng lượng từ bi và Chúa rất giầu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israel cho khỏi mọi điều gian ác. 

Ngày 06: 1. Thánh Brunô, linh mục lập dòng

Thánh Brunô chào đời năm 1030. Ngài là con một gia đình danh tiếng ở Cologne, và cũng là vị sáng lập dòng Chartreux.

Sau khi chịu chức linh mục, ngài tiếp tục học và gặt hái được nhiều thành quả khả quan về triết học cũng như thần học. Ngài được những người đồng thời tặng khen những danh hiệu như: thầy của các thầy, nhà thần học nổi danh, văn sĩ lỗi lạc... Ngài cũng làm khoa trưởng một vài phân khoa đại học. Sau đó, ngài được triệu hồi về La Mã và liên tiếp giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo Hội.

Trong lúc làm việc, tuy bị một vài ghen tuông hay chống đối, nhưng với ơn Chúa, ngài đã thành công nhiều hơn thất bại. Mãn nhiệm, ngài tìm về đời sống trầm lặng và cầu nguyện. Sau nhiều cuộc bàn hỏi, năm 1084, ngài lập dòng Chartreux. Ðặc điểm của luật dòng là cầu nguyện liên lỉ, soạn sách báo, làm việc chân tay và trau dồi trí thức.

Năm 1088, ngài chào biệt anh em và lên đường về La Mã giữ chức vụ cố vấn cho Ðức Giáo Hoàng Urbanô II, là một trong những học trò của ngài. Biết bao nguy cơ Giáo Hội đã vượt qua thời ấy, chứng tỏ sự khôn ngoan phi thường của ngài. Sau khi được phép từ chức, ngài trở về với các anh em dòng và qua đời tại đó năm 1101.

 

 

Thứ Tư


sự sống cầu nguyện

 

7-10: Lễ Mẹ Mân Côi

Lễ Đức Bà Mân Côi: Lược Sử

 

Trong cuốn Thánh Mẫu Học do Brice xuất bản năm 1961, tập thứ 3, có một đoạn trình bày về Đức Bà Mân Côi của cha Juniper B. Carol, OFM, một vị linh mục quá cố đã từng nổi tiếng trên thế giới về Thánh Mẫu Học và là vị sáng lập Hội Thánh Mẫu Học Hoa KỳSau đây là đoạn về Đức Bà Mân Côi liên quan đến nguồn gốc việc thành hình Lễ Đức Mẹ Mân Côi được vị linh mục thánh mẫu này nghiên cứu biên soạn.


Những diễn tiền về lịch sử đáng ghi nhớ của ngày mùng 7 tháng 10 năm 1571, Ngày Chúa Nhật đầu tháng này, đã là những gì đưa đến việc xuất hiện lễ Đức Bà Mân Côi. Thế giới Tây phương đã phải đối diện với cuộc thảm họa và tàn phá toàn diện gây ra bởi những người Thổ Nhĩ Kỳ có một hạm đội dũng mãnh đã làm chủ hầu hết Địa Trung Hải và thực sự đang đe dọa Ý quốc. Thánh Giáo Hoàng Piô V và các vị lãnh đạo Kitô giáo khác, vì tin rằng chỉ có ơn trợ giúp siêu nhiên bấy giờ mới có thể chặn đứng cuộc xâm chiếm sắp sửa xẩy ra, đã hướng mắt về trời nài van Người Mẹ thiên đình chuyển cầu cho họ. Vị Thánh Giáo Hoàng cũng xin các Hiệp Hội Mân Côi hãy gia tăng việc họ tôn sùng này vào ngày 7/10 và cử hành việc tôn sùng này một cách trọng thể hơn.

 

Thật thế, chính vào ngày này, lực lượng hải quân của liên minh Kitô giáo đụng độ hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ vững chắc của Thổ Nhĩ Kỳ ở Vịnh Lêpantô. Truyện kể rằng trong khi trận chiến hết sức quan trọng này đang gay go thì Đức Piô V, được linh cảm thiên đình, đã kêu lên “Chiến thắng! Chiến thắng!” Thật thế, hạm đội của bên địch đã hoàn toàn thảm bại làm tan rã lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ. Vị Giáo Hoàng này không được đặc ân cử hành cuộc mừng kỷ niệm ân huệ lớn lao này của Thiên Chúa. Ngày cùng tháng tận của ngài đã đến, nhưng không xẩy ra trước khi ngài tuyên bố hiệu thành vào ngày 17/3/1572 về việc công khai tạ ơn Mẹ Maria và sâu xa tri ân Mẹ về việc Mẹ bảo vệ chở che, một cuộc tưởng niệm đặc biệt được giành cho Mẹ vào ngày 7/10 dưới tước hiệu Đức Bà Thắng Trận.

 

Đức Grêgôriô XIII, vị thừa nhiệm của ngài, đã thay đổi tước hiệu này thành Đức Bà Mân Côi, và vào ngày 1/4/1573, đã ban sắc chỉ truyền cử hành một thánh lễ mới vào ngày Chúa Nhật đầu Tháng Mười, ban phép cử hành ở những nhà thờ có bàn thờ mang tước hiệu ấy. Một trăm năm sau, theo lời yêu cầu của Nữ Hoàng Tây Ban Nha là Mary Anne, lễ này được lan rộng khắp Tây Ban Nha, và sau đó ít lâu, đến nhiều giáo phận ở Ý và các quốc gia khác. Vào ngày 3/10/1716, như một cách công nhận cuộc chiến thắng của Hoàng Tử Eugene của Savoy đối với quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Hung Gia Lợi vào ngày 5/8 dưới sự bảo hộ của Đức Mẹ Xuống Tuyết, Đức Clêmentê XI đã ban hành một văn kiện, một văn kiện được soạn thảo bởi vị tiền nhiệm của ngài là Đức Innocentê XI, nới rộng lễ Đức Mẹ Mân Côi ra khắp Giáo Hội hoàn vũ. Đức Lêô XIII đã nâng lễ này lên bậc lễ cao hơn. Sau cùng Đức Piô X, trong tự sắc Motu Proprio ngày 23/10/1913, đã chỉ định lễ này vào ngày 7/10 hằng năm (Cf. E. Campana, Maria nel culto cattolico, Torino, 1933, Vol. I, pp. 407-413).

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch


Phụng Vụ theo ngày trong tuần cho năm không trùng với Lễ Mẹ Mân Côi

Bài Ðọc I: (Năm I) Gn 4, 1-11

Ðáp Ca: Tv 85, 3-4. 5-6. 9-10
Phúc Âm: Lc 11, 1-4


Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, Thứ Tư Tuần XXVII Thường Niên, tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, chẳng những liên tục về bố cục theo đoạn và câu mà còn liên tục về cả nội dung của hai bài Phúc Âm này nữa. Ở chỗ, nếu bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến đời sống nội tâm thì bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến tinh thần cầu nguyện.


Đúng thế, Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay thuật lại rằng: "Ngày kia, Chúa Giêsu cầu nguyện ở một nơi. Khi Người cầu nguyện xong, có một môn đệ thưa Người rằng: 'Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện như Gioan đã dạy môn đệ ông'".

Thánh ký Luca không cho chúng ta biết rõ tên của người "môn đệ" nào trong 12 tông đồ hay trong 72 môn đệ đã xin Người dạy cho chung các vị cầu nguyện, mà là cầu nguyện theo kiểu của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả dạy cho các môn đệ của ngài. Chúng ta có thể suy đoán, người "môn đệấy một là Tông Đồ Anrê hai là Tông Đồ Philiphê, hai môn đệ của vị tiền hô này đã đến xem chỗ Người ở, ba là Nathanael / Bartholomeo và bốn là Simon / Phêrô là 2 người được hai vị đến trước và về rủ đến sau (xem Gioan 1:35-51).

 

Chúng ta ở đây không biết Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã dạy các môn đệ cầu nguyện của ngài như thế nào mà môn đệ này đã cảm thấy hay đến độ xin Chúa Giêsu dạy cho họ như thế hay hơn thế. Chỉ biết rằng, đích thân Chúa Giêsu đã đáp ứng lời yêu cầu chính đáng của người môn đệ đại diện ấy bằng cách cống hiến cho môn đệ của mình công thức cầu nguyện cùng Cha của Người như sau:

 

"Khi các con cầu nguyện, hãy nói: 'Lạy Cha, nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha mọi kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ'".

 

Chúng ta cũng không biết kinh nguyện trên đây của Chúa Giêsu có phải là chính tâm nguyện chính yếu và liên lỉ của Người đối với Cha của Người, những tâm nguyện được Người bộc phát và bày tỏ ra cùng Cha của Người mỗi lần Người cầu nguyện cùng Cha của Người hay chăng? Nhưng chúng ta chắc chắn một điều rằng nếu những lời cầu nguyện ấy không phải là những gì hay nhất, tuyệt vời nhất và đẹp lòng Cha của Người nhất, vì không ai biết Cha Người bằng Người, thì Người đã không dạy cho các môn đệ của Người, không dạy cho chúng ta.

 

Thế nhưng, nếu cho rằng những lời cầu ấy là chính tâm nguyện của Chúa Giêsu ấp ủ đối với Cha của Người thì phần "nguyện" đầu của lời cầu mà chúng ta vẫn gọi là Kinh Chúa Dạy hay Kinh Lạy Cha này là những gì có thể khả chấp: "Lạy Cha, nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến", nhưng còn phần "xin" sau đó dường như không hợp với Người, không xứng với Người, Đấng không cần những vấn đề thuộc hạ giới này của loài thuần nhân như chúng ta: "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha mọi kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ". 

 

Tuy nhiên, ở đây, Chúa Kitô cầu nguyện với tư cách là một Con Người, (chứ không phải với tư cách là một Vị Thiên Chúa), một Con Người cầu nguyện thay con người, cầu nguyện với con người và cầu nguyện cho con người. Vì là Con Người, Người cũng cần "xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày" là biết làm theo và chu toàn ý muốn Cha là Đấng đã sai Người (xem Gioan 4:34). Vì Người là Đấng gánh tội trần gian và đền tội cho trần gian mà Người cũng xin Cha "tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha mọi kẻ có nợ chúng con", ở chỗ tha nợ cho Người cũng là tha nợ cho đồng loại tội nhân của Người, như Người đã tha nợ cho những kẻ lầm lẫn không biết việc mình làm khi ra tay sát hại Người (xem Luca 23:34). Vì là Đấng đã hóa thân làm người, cũng có ý muốn riêng theo bản tính loài người mà Người cũng "xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ" là khuynh hướng luôn tìm theo ý riêng mình hơn là ý muốn của Thiên Chúa, một ý muốn tối cao nhưng vô cùng oan khiên khắc nghiệt của Thiên Chúa đối với ý riêng của con người.


Trong B
ài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, chúng ta thấy Tiên Tri Giona vì không có một tâm nguyện như Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay: "Lạy Cha, nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến", nên ông đã tỏ ra thái độ bất mãn với Thiên Chúa là Đấng đã sai ông đi rao giảng thống hối cho Thành Ninive và đã tỏ ra vô cùng xót thương nhân hậu tha phạt cho họ khi họ tỏ lòng thống hối ăn năn:


"Ông Giona buồn bực quá sức và giận dữ, ông cầu nguyện cùng Chúa rằng: 'Lạy Chúa, chớ thì chẳng phải như lời con đã cầu xin khi con còn ở quê nhà con sao? Bởi đó con lo trốn sang Tharsê: vì con biết Chúa là Thiên Chúa khoan nhân, từ bi, nhẫn nhục, đầy tình thương và tha thứ tội ác. Lạy Chúa, giờ đây xin Chúa cất linh hồn con ra khỏi con, vì thà con chết còn hơn là sống'"


Ở đây, d
ường như Tiên Tri Giona oán giận Lòng Thương Xót Chúa hơn là hờn giận dân Thành Ninive. Bởi thế, Lòng Thương Xót Chúa, nếu đã tỏ ra thương xót người con thứ phung phá thế nào cũng thương hại cả người con lớn tỏ ra giận hờn người cha nhân hậu vì quá thương xót người em (xem Luca 15:31-32), thì cũng thương cả vị tiên tri này như vậy:

 

"Chúa phán cùng ông Giona rằng: 'Ngươi có nghĩ ngươi giận vì dây dưa là đúng không?' Ông thưa: 'Ðúng, con giận cho đến chết (đi được!)' Chúa phán: 'Ngươi buồn bực vì dây dưa mà ngươi không mất công vun trồng, không làm cho nó mọc lên, đêm nay nó mọc lên và đêm sau nó khô héo. Chớ thì Ta không tha thứ cho Ninivê, một thành phố rộng lớn, trong đó có trên một trăm hai mươi ngàn người chưa biết phân biệt tay tả tay hữu mình thế nào, và nhiều súc vật sao?'".

 

Lời cầu nguyện nào thì cầu nguyện, tâm nguyện nào thì tâm nguyện, trước hết và trên hết lời cầu nguyện ấy và tâm nguyện ấy cần phải tỏ ra nhận biết Đấng mình hướng về và dâng lời cầu nguyện hay dâng tâm tình cầu nguyện, từ đó hoàn toàn phó mình cho Ngài, để Ngài thực hiện tất cả những gì Ngài muốn nơi thân phận thấp hèn của mình như bầy tôi của Ngài. Đó là tâm tình và ý hướng của Bài Đáp Ca hôm nay: 

 

1) Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, xin thương con, vì con ân cần kêu van Ngài. Nguyện cho bầy tôi Chúa được hân hoan, vì lạy Chúa, con vươn hồn lên tới Chúa. 

 

2) Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu và khoan dung, giầu lượng từ bi với những ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng con van nài. 

 

3) Các dân tộc mà Chúa tạo thành, họ sẽ tới, lạy Chúa, họ sẽ thờ lạy Ngài, và họ sẽ ca tụng danh Ngài. Vì Ngài cao cả và làm nên những điều kỳ diệu; duy một mình Ngài là Thiên Chúa. 

 


Thứ Năm


sự sống tin tưởng


Bài Ðọc I: (Năm I) Ml 3, 13 - 4, 2a
Ðáp Ca: Tv 1, 1-2. 3. 4 và 6

Phúc Âm: Lc 11, 5-13

Bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần XXVII Thường Niên hôm nay tiếp tục tinh thần cầu nguyện của bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến lòng tin tưởng vào Đấng ban ân sủng cho những ai chân thành thỉnh nguyện. Nguyên văn toàn bài Phúc Âm hôm nay là:

"Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: 'Nếu ai trong các con có người bạn, giữa đêm khuya đến nói với người ấy rằng: Anh ơi, xin cho tôi vay ba chiếc bánh, vì tôi có anh bạn đi đường ghé lại nhà tôi, mà tôi không có gì thiết đãi anh ấy. Và từ trong nhà có tiếng người ấy đáp: Xin đừng quấy rầy tôi, vì cửa đã đóng, các con tôi và tôi đã lên giường nằm rồi, tôi không thể chỗi dậy lấy bánh cho anh được. Thầy bảo các con, dù người đó không dậy vì tình bạn để lấy bánh cho người bạn, người đó cũng sẽ dậy, ít nữa là vì sự quấy rầy của người kia mà cho anh ta tất cả những gì anh ta cần. Và Thầy bảo các con: Các con hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ thì sẽ mở cho. Người cha nào trong các con có đứa con xin bánh mà lại cho nó hòn đá ư? Hay nó xin cá lại cho nó con rắn thay vì cá sao? Hay nó xin quả trứng, lại cho nó con bọ cạp ư? Vậy nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người".

Trong bài Phúc Âm hôm nay chúng ta cảm thấy như thể xin gì được nấy, xin gì cũng được, căn cứ vào lời Chúa vừa thúc giục: 

"Các con hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho", vừa hứa quyết: "Vì hễ ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ thì sẽ mở cho".

Có hai lý do để xin gì được nấy, như chiều hướng của bài Phúc Âm cho thấy: trước hết là chỉ cần nhẫn nại kêu xin bằng cách liên tục quấy rầy Chúa: 

"Thầy bảo các con, dù người đó không dậy vì tình bạn để lấy bánh cho người bạn, người đó cũng sẽ dậy, ít nữa là vì sự quấy rầy của người kia mà cho anh ta tất cả những gì anh ta cần".

Lý do chính yếu để được những gì mình xin là tin tưởng vào tấm lòng yêu thương vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng là Cha trên trời bao giờ cũng yêu thương con cái và muốn ban cho con cái những gì tốt nhất và lợi nhất: 

"Người cha nào trong các con có đứa con xin bánh mà lại cho nó hòn đá ư? Hay nó xin cá lại cho nó con rắn thay vì cá sao? Hay nó xin quả trứng, lại cho nó con bọ cạp ư? Vậy nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người".

Tất nhiên, một khi đã sâu xa và đích thực nhận biết Thiên Chúa là Cha nhân lành và hoàn toàn tin tưởng vào Ngài thì con người có thể biết được những gì đẹp lòng Ngài nhất, và chỉ xin những gì đáng xin, cần xin và phải xin mà thôi, nhất là xin cho tha nhân, xin vì đức bác ái yêu thương v.v. như trường hợp được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Nếu ai trong các con có người bạn, giữa đêm khuya đến nói với người ấy rằng: Anh ơi, xin cho tôi vay ba chiếc bánh, vì tôi có anh bạn đi đường ghé lại nhà tôi, mà tôi không có gì thiết đãi anh ấy".

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, Thiên Chúa phán trong Sách Tiên Tri Malachi về tâm trạng của những kẻ không tin tưởng vào Thiên Chúa khi thấy mình là thành phần kính sợ Ngài lại bị xui xẻo thiệt thòi hơn là những người sống gian ác:

"Kẻ phụng thờ Thiên Chúa thật luống công! Chúng ta đã tuân giữ giới răn của Chúa, và đã sầu não tiến bước trước mặt Chúa các đạo binh, nào ích lợi gì? Vậy giờ đây chúng ta kể kẻ kiêu căng là những người có phúc: quả thật, những kẻ làm điều ác thì được thịnh vượng, họ đã thử thách Thiên Chúa mà vẫn được cứu thoát".

Thế nhưng, đó chỉ là tâm tưởng chủ quan thiển cận của con người phàm tục khi gặp gian nan khốn khó chứ không phải là chính thực tại thần linh của Thiên Chúa, Đấng công minh chính trực sẽ phân xử kẻ lành người dữ đâu vào đó, sẽ thưởng phạt đàng hoàng tương xứng với đời sống trần gian của từng người, như Ngài đã phán trong cùng Bài Đọc 1 hôm nay rằng: 

"Trong ngày Ta định hành động, họ sẽ là của riêng Ta. Ta sẽ tha thứ cho họ, như một người tha thứ cho đứa con biết phụng sự mình. Khi trở lại, các ngươi sẽ xem thấy sự khác biệt giữa người lành và kẻ dữ, giữa người phụng thờ Thiên Chúa và kẻ không phụng thờ Người. Vì đây sẽ đến ngày bừng cháy lên như lò lửa: tất cả những kẻ kiêu căng và những người làm tội ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy đến sẽ thiêu đốt họ, và không để sót lại cho họ cội rễ ngành chồi gì cả. Phần các ngươi là những kẻ kính sợ thánh danh Ta, các ngươi sẽ được Mặt Trời công chính soi sáng cho, mang theo sự cứu chữa dưới cánh Người".

Tâm tình và đời sống của những ai tin tưởng cầu nguyện như huấn dụ của Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay và những ai tin tưởng kính sợ Thiên Chúa trong lúc gian nan khốn khó theo tinh thần của Bài Đọc 1 hôm nay, được ca ngợi và diễn tả trong Bài Đáp Ca hôm nay như sau:

1) Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày. 

2) Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa; lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt. 

3) Kẻ gian ác không được như vậy, họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi; vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong. 


 

Thứ Sáu

 

sự sống thuận nghịch


Bài Ðọc I: (Năm I) Ge 1, 13-15; 2, 1-2

Ðáp Ca: Tv 9, 2-3. 6 và 16. 8-9

Phúc Âm: Lc 11, 15-26

Bài Phúc Âm cho Thứ Sáu Tuần XXVII Thường Niên hôm nay cách bài Phúc Âm hôm qua chỉ có một câu duy nhất, đó là câu "Chúa Giêsu trừ một quỉ câm, và khi tên quỉ này bị khu trừ thì người câm nói được. Thấy thế đám đông tỏ ra bàng hoàng kinh ngạc" (Luca 11:14). 

Tuy nhiên, giữa lúc hầu hết dân chúng chứng kiến thấy thế thì 

đều tỏ ra bàng hoàng kinh ngạc như vậy, cũng còn có một số người vẫn nhất định không tin bằng những dẫn giải lệch lạc hay tiếp tục đòi hỏi hơn thế nữa theo ý của họ rồi mới chịu tin, như bài Phúc Âm hôm nay kể tiếp: "thì có mấy người trong dân chúng nói rằng: 'Ông ta nhờ tướng quỷ Bêelgiêbút mà trừ quỷ'. Mấy kẻ khác muốn thử Người, nên xin Người một dấu lạ từ trời xuống".

Trước thái độ thách thức của một thiểu số con người cứng lòng tin này, Chúa Giêsu đã nhẫn nại cho họ thấy những dẫn giải của họ là sai lầm, hoàn toàn mâu thuẫn, khi Người lấy gậy ông đập lưng ông, lấy chính lập luận của họ để bẻ gẫy họ, khiến họ cứng họng, ở chỗ: 

"Nước nào tự chia rẽ, sẽ diệt vong, và nhà cửa sẽ sụp đổ chồng chất lên nhau. Vậy nếu Satan cũng tự chia rẽ, thì nước nó làm sao đứng vững được? Bởi các ngươi bảo Ta nhờ Bêelgiêbút mà trừ quỷ, vậy nếu Ta nhờ Bêelgiêbút mà trừ quỷ, thì con cái các ngươi nhờ ai mà trừ? Bởi đó chính con cái các ngươi sẽ xét xử các ngươi. Nhưng nếu Ta nhờ ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, ắt là nước Thiên Chúa đã đến giữa các ngươi rồi".

Phải, Chúa Giêsu đã chẳng những vạch ra cho những con người cứng lòng tin này thấy cái mâu thuẫn đầy thành kiến của họ mà còn từ đó cho họ thấy dấu chỉ thời đại về Nước Thiên Chúa ở ngay sự kiện Người trừ quỉ câm bấy giờ nữa: "Nhưng nếu Ta nhờ ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, ắt là nước Thiên Chúa đã đến giữa các ngươi rồi". 

Nếu theo nguyên tắc "Ai không thuận với Ta là nghịch cùng Ta, và ai không thu góp với Ta là phân tán", như Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay, thì những kẻ dẫn giải sai lầm về sự kiện trừ quỉ câm của Người trong bài Phúc Âm là thành phần nghịch với Người, đồng thời cũng vì thế mà trở thành những kẻ "phân tán" hay cũng gọi là thành phần thọc gậy bánh xe hay thành phần phá đám. 

Đoạn cuối cùng của Bài Phúc Âm hôm nay cũng rất đáng chú ý, bởi vì nó hình như liên quan đến chính bản thân của con người được Chúa Giêsu trừ quỉ cho:

"Khi thần ô uế ra khỏi người nào, thì nó đi dông dài những nơi khô ráo, tìm chỗ nghỉ ngơi, nhưng không tìm được, nên nó nói rằng: 'Ta sẽ trở lại nhà ta, nơi ta đã ra đi'. Khi đến nơi, nó thấy nhà đó đã được quét sạch và sắp đặt ngăn nắp. Bấy giờ nó đi rủ bảy tà thần khác hung ác hơn nó, chúng vào cư ngụ ở đó. Và tình trạng sau cùng của người ấy trở nên tệ hại hơn trước".

Ở đây chúng ta có thể áp dụng vào trường hợp của thành phần tân tòng được trừ quỉ nhờ Phép Rửa lúc họ được thanh tẩy khỏi nguyên tội, hay trường hợp của thành phần được trừ quỉ nhờ quyền năng tha tội của Thiên Chúa trong tòa giải tội, hoặc trường hợp của những tâm hồn được trừ quỉ bởi ân sủng dồi dào nhờ một cuộc tĩnh tâm tuyệt vời nào đó v.v

Thế nhưng, trong tiến trình tiến đức và hành trình đức tin, nhất là gặp những giai đoạn khô khan nguội lạnh, các đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu, (là những gì không bao giờ bị tiêu diệt hoàn toàn trong con người dù họ đã được lãnh nhận Phép Rửa, đã được thánh hóa), bấy giờ chúng như bừng tỉnh sau một thời gian thiếp ngủ trước tác dụng của ân sủng thần linh nơi tâm hồn tân tòng hay mới hòa giải hoặc mới tĩnh tâm sốt sắng về, như nằm chờ thời cơ, lại bắt đầu được dịp tái hoành hành và tung hoành còn dữ dội hơn trước nữa, khiến tình trạng tâm hồn ấy trở nên khốn đốn hơn bao giờ hết. 

Chính vì thế, muốn tránh được tình trạng khốn đốn này, đến độ trở thành mù quáng như thành phần lệch lạc mâu thuẫn trong bài Phúc Âm, nhờ đó con người mới có thể nhận biết mạc khải thần linh của Thiên Chúa, nhận biết những gì được tỏ ra cho họ, như Nước Trời ở giữa họ và đến với họ, họ cần phải thực hiện việc chay tịnh đích đáng, như Tiên Tri Joel kêu gọi để nghênh đón Ngày của Chúa trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay : 

"Hỡi các tư tế, hãy thắt lưng và kêu khóc! Hỡi các thừa tác viên bàn thờ, hãy la lên! Hỡi các thừa tác viên của Thiên Chúa tôi, hãy tiến vào, hãy mặc áo vải gai mà thức suốt đêm... Hãy công bố cuộc chay thánh. Hãy triệu tập đại hội. Hãy tụ họp các bô lão, tất cả những dân cư trong nước hiệp mặt lại trong đền thờ Thiên Chúa các ngươi và hãy kêu cầu Chúa: Ôi, ôi, ôi! ngày vô phúc, vì ngày của Chúa gần đến rồi, nó đến như cuộc tàn phá do Ðấng Quyền Năng thực hiện. Hãy thổi kèn tại Sion! Hãy la lối trên núi thánh của Ta! Tất cả dân cư trong nước hãy run sợ, vì ngày Chúa đã gần đến rồi, ngày u tối mù mịt, ngày mây đen bão táp: một dân tộc đông đảo và hùng mạnh như rạng đông giãi trên các núi đồi, từ cổ chí kim và bao thế hệ về sau cũng chẳng xảy ra giống như vậy".

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa cảm nhận và tâm tình của những ai kính sợ Vị Thiên Chúa tối cao, công minh chính trực và muôn đời hiển trị:

1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, con sẽ kể ra mọi điều lạ lùng của Chúa. Con sẽ mừng rỡ hân hoan trong Chúa, con sẽ đàn ca danh Ngài, lạy Ðấng Tối Cao. 

2) Chúa trách phạt chư dân, diệt vong đứa ác, bôi nhoà tên tuổi chúng tới muôn đời. Người chư dân rơi chìm xuống hố mà họ đã đào, chân họ mắc vào cái bẫy mà họ đã che. 

3) Nhưng Chúa ngự trị tới muôn đời, Ngài dựng vững ngai vàng ngõ hầu cai trị. Ngài công minh thống trị địa cầu, Ngài chính trực xét xử chư dân. 

 

Ngày 09: 1. Thánh Ðiônysiô, Giám Mục và các bạn tử đạo

                 2. Thánh Gioan Lêônarđô, linh mục

 

Thánh Ðiônysiô, Giám Mục Và Các Bạn Tử Ðạo

 Trước kia, thánh Ðiônysiô đã cai trị Giáo Hội Nhã Ðiển một thời gian, sau đó, ngài cùng với linh mục Rustique và thầy sáu Elethère vượt biển đến Rôma để xin Ðức Giáo Hoàng Clêmentê sai đi giảng đạo.. Ngài và một số bạn hữu được sai đến với dân tộc Pháp và ngụ tại Ba Lê, trước kia có tên là Lutèce. Ngài hăng say loan truyền Phúc Âm và nhiều người trở lại, các thánh đường được xây cất, nhưng đồng thời cơn bách hại cũng bắt đầu chớm nở. Mặc dù tuổi đã cao nhưng ngài vẫn chứng tỏ lòng can trường chịu mọi đau khổ, không gì có thể ngăn chặn được lòng dũng cảm của ngài. Bị treo lên cây Thập Giá, ngài vẫn giảng dạy mầu nhiệm ơn cứu chuộc. Sau cùng, ngài đã chịu chém đầu cùng với nhiều tín hữu khác ở Montmartre hay "Núi các thánh tử đạo" vào khoảng năm 250.

 

Thánh Gioan Lêônarđô, Linh Mục

 Thánh Gioan Lêônarđô sinh tại Lucques vào khoảng năm 1541. Sau khi đã theo học ngành thuốc, ngài thụ phong linh mục năm 1571. Ngài thu nhập một số bạn hữu đi giảng dạy giáo lý cho thanh thiếu niên và chuẩn bị cho người trưởng thành trước những trào lưu của thệ phản. Ðó chính là Hội dòng Các Giáo Sĩ Mẹ Thiên Chúa (1574). Ngài hăng say lên tiếng chống lại những tệ đoan của xã hội, cũng vì đó ngài bị nhiều người thù ghét đến độ ngài phải rời khỏi Lucques. Ngài tới Rôma và góp phần đào tạo những linh mục thừa sai. Chính ngài đã đặt nền móng cho trường Truyền Giáo với sự cộng tác của Ðức Hồng Y Gioan Baotixita Vivès (1603). Ngôi trường danh tiếng này sau được Ðức Thánh Cha Urbanô VIII chính thức khai lập vào năm 1627. Ngài đã qua đời sau một cơn bệnh nặng. Suốt cuộc đời, ngài đã không ngừng hiến thân phụng vụ Thiên Chúa và anh em đồng loại. 


Thứ Bảy


sự sống lắng nghe

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Ge 4, 12-21

Ðáp Ca: Tv 96, 1-2. 5-6. 11-12

Phúc Âm: Lc 11, 27-28

Bài Phúc Âm cho Thứ Bảy Tuần XXVII hôm nay phải nói là bài Phúc Âm ngắn nhất trong các bài Phúc Âm cho phần phụng vụ lời Chúa. Vì bài Phúc Âm này chỉ có 2 câu vắn gọn mà thôi:

"Khi ấy, Chúa Giêsu đang giảng cho dân chúng, thì từ giữa đám dân chúng, có một phụ nữ cất tiếng nói rằng: 'Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú!' Nhưng Người phán rằng: 'Những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa thì có phúc hơn'".

Qua 2 câu ngắn ngủi của bài Phúc Âm này, Thánh ký Luca thuật lại cho chúng ta biết về sự kiện có một người đàn bà nghe thấy Chúa Giêsu giảng dạy thì bị cảm kích nên đã lên tiếng ngợi khen mẹ của nhà đại giảng thuyết có phúc vì đã được cưu mang ngài và cho ngài bú, thế nhưng chính vị đại giảng thuyết gia này đã đính chính về cái phúc thật mẹ của Người có được không như người đàn bà ấy tưởng nghĩ.

Thật vậy, Chúa Giêsu có ý đề cao mẹ của Người về hạnh phúc thật nơi Mẹ không phải chỉ ở tm mức thể lý là "cưu mang" Người và cho Người "" mớm như một người mẹ bình thường, mà trên hết và trước hết ở chỗ Mẹ đã "nghe và giữ lời Thiên Chúa", bằng không Mẹ đã vĩnh viễn không xứng đáng làm Mẹ của Người và có khả năng làm Mẹ của Người, Đấng Thiên Sai Cứu Thế, Đấng đến không phải để làm theo ý của mình mà là ý của Đấng đã sai Người (xem Gioan 6:38)

Thật vậy, Mẹ Maria đầy ân phúc đã chẳng những được Thiên Chúa ở cùng, được làm Mẹ Con Đấng Tối Cao, làm Mẹ Con Thiên Chúa (xem Luca 1:28,32,34), mà còn đầy ân phúc vì đã tin (xem Luca 1:45), đã xin vâng (xem Luca 1:38), "đã theo Con Chiên đến bất cứ nơi nào Con Chiên tới" (Khải Huyền 14:4), cho tới khi đứng bên Thánh Giá với con mình (xem Gioan 19:25). 

Trong khi Bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến hạnh phúc thật của chung những ai nghe và giữ Lời Chúa nhất là của người mẹ Chúa Giêsu, thì Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay theo Sách Tiên Tri Joel lại tiếp tục như hôm qua liên quan đến ngày của Chúa, một ngày gần đến trong Bài Đọc 1 hôm qua cũng như trong Bài Đọc 1 hôm nay, và trong Bài Đọc 1 hôm nay còn nói rõ thêm về địa điểm - ở "cánh đồng Giosaphát", về mục đích - "để phán xét mọi dân tộc chung quanh", về phương cách - "tra lưỡi hái, vì mùa gặt đã tới", về nguyên do - "vì bàn ép đã đầy, các chum đã tràn, vì tội ác của chúng đã gia tăng", và về hiện tượng - "có vô số dân tộc trong cánh đồng giết chóc... Mặt trời mặt trăng đã ra tối tăm, các vì sao đã mất ánh sáng..." 

Tuy nhiên, vào ngày "phán xét mọi dân tộc chung quanh" như thế, trong khi "Ai-cập sẽ trở nên hoang vu; Iđumê sẽ trở thành rừng bị tiêu huỷ: lý do là tại chúng ngược đãi con cái Giuđa, và đổ máu vô tội trong lãnh thổ của chúng", thì ngược lại, nơi mảnh đất của dân tộc được Ngài tuyển chọn:

"Các núi sẽ nhỏ mật ngọt, các đồi sẽ chảy ra sữa; nước sẽ chảy qua các sông ở Giuđa, mạch nước từ đền thờ Chúa sẽ chảy ra tưới suối gai góc... Đất Giuđa sẽ có người cư ngụ đời đời, và Giêrusalem cũng sẽ có người cư ngụ từ đời nọ tới đời kia. Ta sẽ rửa sạch máu chúng mà trước Ta chưa rửa sạch, và Chúa sẽ ngự tại Sion... Chúa sẽ là niềm cậy trông của dân Người, là sức mạnh của con cái Israel. Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Thiên Chúa các ngươi, đang ngự trên Sion, núi thánh của Ta: Giêrusalem sẽ là thành thánh và các ngoại kiều không còn lai vãng qua đó nữa".

Bài Đáp Ca hôm nay đã liên kết ý nghĩa của cả Bài Đọc 1 về Vị Thiên Chúa "hiển trị" trong trời đất muôn vật, bất chấp những lực lượng sự dữ dường như gây trở ngại cho dự án và công cuộc của Người, được tiêu biểu nơi "Ai Cập" hay "Idume", với ý nghĩa của Bài Phúc Âm về "người hiền đức" ở chỗ họ tỏ ra biết "nghe và giữ lời Chúa" như Mẹ Maria.

1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan; hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui! Mây khói và sương mù bao toả chung quanh, công minh chính trực là nền kê ngai báu. 

2) Núi non vỡ lở như mẩu sáp ong trước thiên nhan, trước thiên nhan Chúa tể toàn cõi đất. Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. 

3) Sáng sủa bừng lên cho người hiền đức, và niềm hoan hỉ cho kẻ lòng ngay. Người hiền đức, hãy mừng vui trong Chúa, và hãy ca tụng thánh danh Người!