SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 


Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 
Tuần XXVIII Thường Niên 
11-17/10/2015
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html) 



Chúa Nhật

 

sự sống đời đời


Bài Ðọc I: Kn 7, 7-11

Ðáp Ca: Tv 89, 12-13. 14-15. 16-17

Bài Ðọc II: Dt 4, 12-13

Phúc Âm: Mc 10, 17-27


Chủ đề "sự sống" trong Mùa Phục Sinh vẫn được phản ảnh trong Phụng Vụ Lời Chúa của các Chúa Nhật Thường Niên Hậu Phục Sinh, điển hình nhất là trong Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XXVIII Thường Niên tuần này, qua câu Phúc Âm hôm nay về "một người chạy lại quỳ gối trước Người và hỏi: 'Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?'" 

Thật ra, bài Phúc Âm hôm nay cũng chính là bài Phúc Âm đã được Giáo Hội chọn đọc cho Thứ Hai Tuần VIII Thường Niên Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần VIII Thường Niên Năm Lẻ, Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh, chứ không phải Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh. Bởi thế, theo chung Phụng Vụ Lời Chúa cho từng ngày có cùng bài Phúc Âm này, thì Bài Phúc Âm hôm nay có một ý nghĩa đặc biệt về "sự sống" theo chủ đề của Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh.

 

Thật vậy, "sự sống" trong Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XXVIII Thường Niên Năm B này là gì, nếu không phải là sự khôn ngoan, không phải là chính Lời Chúa. 


Con người đặt câu hỏi với Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay, tuy là một người
 chẳng những giầu có về vật chất và đạo đức về phần thiêng liêng, qua việc cẩn thận tuân giữ lề luật của Thiên Chúa từ bé: "Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ", nhưng hình như tận thâm tâm chàng vẫn cảm thấy thiếu thốn, vẫn cảm thấy khắc khoải bất an làm sao ấy, vẫn cảm thấy chưa viên trọn, đúng như Chúa Giêsu đã cho anh ta biết là "Ngươi chỉ còn thiếu một điều". 

Đúng thế, chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng dựng nên con người mới có thể thỏa đáng được cõi lòng của họ mà thôi, đúng như cảm nghiệm của chàng Âu Quốc Tinh đã viết trong cuốn Tự Thú của mình ở ngay trang đầu tiên: "Chúa đã dựng nên trái tim con cho Chúa nên lòng con khắc khoải cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa". 

Chính Thiên Chúa đã biết con người hơn họ biết họ và đã đáp ứng cõi lòng mong ước được sống đời đời của họ, tức là mong ước được hiệp thông thần linh với Ngài, bằng cách Ngài đã ban tặng cho họ chính Con Một của Ngài để ai tin vào Con Ngài thì không phải chết nhưng được sự sống trường sinh (xem Gioan 3:16). 

Người thanh niên giầu có trong bài Phúc Âm hôm nay đã cảm thấy bị Chúa Giêsu thu hút hơn ai hết nên đã tỏ ra cử chỉ rất cung kính và tin tưởng, ở chỗ "chạy lại quỳ gối trước Người" mà thân thưa "Lạy Thầy nhân lành...". Chàng ta dường như cảm thấy rằng Chúa Giêsu là Đấng có thể làm cho anh ta an lòng trước nỗi khắc khoải của anh ta.

Chính Chúa Giêsu cũng tỏ lòng đặc biệt cảm mến anh ta, như Thánh ký Marco tỉ mỉ tinh vi ghi nhận: "Chúa Giêsu trìu mến nhìn người ấy mà nói...". Bởi vì, Người thấy anh ta là một con người trẻ rất thành tâm và đầy thiện chí, đến độ giầu sang phú quí mà vẫn không ăn chơi hoang đàng, lại còn tiếp tục giữ đạo đàng hoàng hơn ai hết.  

Bởi thế, Người thật sự đã hết sức muốn nâng anh ta lên, để anh ta có thể sống vượt trên những gì là tự nhiên (giầu sang) và căn bản (giữ luật), tức là Người muốn dẫn anh ta vào đời sống trọn lành hơn, sống ở thế gian mà không thuôc về thế gian, khi huấn dụ anh ta rằng: "Ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta".

Rất tiếc, Phúc Âm đã thuật lại về tác dụng trái chiều của lời Chúa huấn dụ chàng thanh niên giầu có ấy như thế này: "Nhưng người ấy nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải", một thái độ hoàn toàn nhút nhát trái với tinh thần dấn thân theo Chúa ngay từ đầu của các tông đồ, như được Tông Đồ Phêrô đại diện nhắc lại cùng Người ở phần cuối (không buộc đọc) của bài Phúc Âm hôm nay: "Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy". 

Nếu sự chọn lựa của các tông đồ trong việc "bỏ mọi sự mà theo Thày" chẳng những chứng tỏ các vị có đức khôn ngoan mà sự khôn ngoan thúc đẩy các vị chọn lựa như thế là chính sự sống ở nơi các vị nữa. Đó là lý do trước khi theo Chúa lòng của con người đã có kho báu trên trời rồi, tức đã có sự sống thần linh rồi, như ý nghĩa của câu huấn dụ và khẳng định Chúa Giêsu nói với chàng thanh niên giầu có: "ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta". 

Bài Đọc 1 hôm nay bày tỏ cảm nhận về một đức khôn ngoan có thể làm cho con người sống một cách siêu việt, sống một cách siêu nhiên, vượt trên tự nhiên và trần tục, hay sống chính sự sống siêu nhiên, chính sự sống đời đời, chính sự sống thần linh, sống như thần linh trên dương thế:

"Tôi đã ước ao được ban sự hiểu biết, tôi cầu khẩn được thần trí khôn ngoan đến cùng tôi. Tôi lấy sự khôn ngoan làm hơn vương quốc và ngai vàng: Ðem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không. Tôi cũng không so sánh nó với kim cương, vì mọi thứ vàng đem so sánh với nó thì kể như hạt cát nhỏ bé, và bạc đem để trước nó thì kể như đất bùn. Tôi yêu quý sự khôn ngoan hơn sức khoẻ và sắc đẹp, tôi lấy nó làm hơn được sự sáng, vì sự sáng của nó không hề tắt. Tất cả mọi sự tốt lành đều đến cùng tôi làm một với nó, và nhờ tay của nó, tôi được đoan chính không kể xiết".

Thế nhưng, con người không thể sống sự sống thần linh, sự sống siêu nhiên, sự sống khôn ngoan nếu không được soi dẫn bởi Lời Chúa, vì, theo Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô tông đồ đã cảm nghiệm thấy thực tại thần linh lời Chúa và trình bày cho biết thế nào là lời Chúa cùng với tác dụng vô song của lời Chúa nơi con người, như sau: 

"Anh em thân mến, lời Thiên Chúa là lời hằng sống, linh nghiệm, sắc bén hơn mọi thứ gươm hai lưỡi, thấu suốt đến nỗi phân rẽ linh hồn với thần trí, gân cốt với tủy não, phân tách tình cảm với ý nghĩ của tâm hồn. Không một tạo vật nào ẩn khuất được trước mặt Chúa; tất cả mọi sự đều phơi trần và tỏ ra trước mắt của Ðấng mà chúng ta phải trả lẽ".

Vấn đề được đặt ra ở đây là nếu lời Chúa có sức công phá lòng người một cách mãnh liệt hầu như bất khả chống cưỡng như vậy thì tại sao vẫn không lay động được những con người không chấp nhận lời Chúa, chẳng hạn như chàng thanh niên giầu có trong Phúc Âm hôm nay? 

Thực tế cho thấy lời Chúa là ánh sáng chiếu soi trong tăm tối cho những ai mở mắt trông nhìn, chứ không phải cho những ai có mắt mà nhắm lại như mù, và như hạt giống được gieo vào lòng người như môi trường bất khả thiếu để trổ sinh, và việc trổ sinh do tự nó hơn là bởi mảnh đất lòng người, miễn là lòng người biết tiếp nhận và đáp ứng nó theo chiều hướng của bài Đáp Ca hôm nay: 

1) Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chứ còn để tới bao giờ? Xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài.

2) Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin ban niềm vui thế cho những ngày Chúa hạ nhục chúng con, thế cho những năm chúng con gặp phải tai họa

3) Xin cho các bầy tôi nhìn thấy sự nghiệp của Chúa, và cho con cháu họ được thấy vinh quang Ngài. Xin cho chúng con được hưởng ân sủng Chúa là Thiên Chúa chúng con, sự nghiệp tay chúng con làm ra, xin Ngài củng cố; xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng con làm ra.



Thứ Hai

 

sự sống điềm lạ


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 1, 1-7
Ðáp Ca: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4
Phúc Âm: Lc 11, 29-32


Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Hai Tuần XXVIII Thường Niên, cũng là bài Phúc Âm cùng một nội dung được Thánh ký Mathêu thuật lại và được Giáo Hội chọn đọc cho Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên - Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XVI Thường Niên.

Tuy nhiên, bài Phúc Âm cùng nội dung này của Thánh ký Mathêu cho Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên được Giáo Hội chọn đọc chung với Bài Đọc 1 trong Cựu Ước, còn bài Phúc Âm cùng nội dung của Thánh ký Luca hôm nay được Giáo Hội chọn đọc chung với Bài Đọc 1 trong Tân Ước. 

Nội dung của Bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến điềm lạ Giona, một điềm lạ ám chỉ Chúa Kitô và cuộc vượt qua của Người là Đấng mà con người cần phải tin tưởng chấp nhận mới được cứu độ:

"Khi ấy, thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại, Chúa Giêsu phán rằng: 'Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa'".

"Điềm lạ của tiên tri Giona" là gì, nếu không phải, như Bài Đọc 1 cho năm lẻ của các ngày Thứ Hai, Thứ Ba và Thứ Tư tuần trước cho thấy, là điềm lạ vị tiên tri này sẵn sàng bị ném xuống biển để cứu sinh mạng của những con người ở trên một con tầu bấy giờ đang bị bão tố sắp bị nhận chìm, nhưng chính vị tiên tri này cũng không chết mà tiếp tục tục sống trong bụng cá 3 ngày 3 đêm cho đến khi được nó nhả ra trên bãi biển, một điềm lạ như báo trước cuộc vượt qua của Chúa Kitô, Đấng cũng nằm trong lòng đất cho đến ngày thứ ba thì phục sinh vinh hiển.

Phải, Chúa Kitô Vượt Qua chính là điềm lạ cho riêng dân Do Thái là thành phần dân riêng của Người , thành phần chẳng những không chấp nhận Người (xem Gioan 1:11) mà còn sát hại Người cho bằng được, nhưng họ chẳng làm gì được Người vì Người là Đấng Thiên sai Con Thiên Chúa hằng sống bất từ không thể nào không sống lại để chiến thắng tội lỗi và sự chết, để làm chủ cả sự chết lẫn sự sống, để làm cho con người được sự sống và là một sự sống viên mãn hơn (xem Gioan 10:10).   

Nếu Chúa Kitô thực sự là điềm lạ Giona cho chung nhân loại mọi thời và cho riêng thành phần dân của Người thì điềm lạ ấy chính là tin mừng cứu độ của nhân loại và cho nhân loại, nhất là của những ai và cho những ai tin vào điềm lạ Giona cũng là tin vào Tin Mừng cứu độ ấy, như Thánh Phaolô Tông Đồ đã nói đến ngay khi mở đầu thư Rôma trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Tin mừng mà Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Ðavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần, đã sống lại từ cõi chết. Ðó chính là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, để nhân danh Người, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về Ðức Tin, trong đó có cả anh em là những người mà Chúa Giêsu Kitô đã kêu gọi".

Bài Đáp Ca hôm nay phản ảnh bài Phúc Âm và Bài đọc 1 về ơn cứu độ của Thiên Chúa từ bi nhân ái nơi Đức Giêsu Kitô Vượt Qua, một ơn cứu độ chẳng những cho dân Do Thái mà còn cho muôn dân:

1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. 

2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel. 

3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca! 


 

Thứ Ba


sự sống chân thật

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 1, 16-25

Ðáp Ca: Tv 18, 2-3. 4-5

Phúc Âm: Lc 11, 37-41

 

Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, Thứ Ba Tuần XXVIII Thường Niên, tương tự như bài Phúc Âm của Thánh ký Marco cho Thứ Ba Tuần V Thường Niên về vấn đề rửa tay trước khi ăn. 

Tuy nhiên, ở bài Phúc Âm Thánh ký Marco Tuần V Thường Niên, vấn đề không rửa tay trước khi ăn xẩy ra nơi một số môn đệ của Chúa Giêsu (xem Marco 7:2), trong khi ở bài Phúc Âm hôm nay lại xẩy ra với chính Chúa Kitô, như Thánh ký Luca thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Khi ấy, lúc Chúa Giêsu còn đang nói, thì có một người biệt phái mời Người dùng bữa tại nhà ông. Người đi vào và ngồi bàn ăn. Nhưng người biệt phái ngạc nhiên, nghĩ trong lòng rằng tại sao Người không rửa tay trước khi dùng bữa".

Chắc chắn Chúa Kitô đã biết cái thói lệ thông thường không phải là luật Chúa này của dân Do Thái mà lại là những gì những ai thông luật và giữ luật như thành phần biệt phái vốn coi trọng, nhưng có lẽ Người chủ ý không làm như vậy, không rửa tay trước khi ăn, để nhân cơ hội này dạy cho họ một bài học về những gì cần thiết và quan trọng hơn cả những gì là bề ngoài được họ đặt nặng:

"Bấy giờ Chúa phán cùng ông ấy rằng: 'Này quí vị, những người biệt phái, quí vị lau rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng nội tâm quí vị lại đầy những tham lam và gian ác. Hỡi những kẻ ngu dại, chớ thì Ðấng đã tạo thành cái bên ngoài, lại chẳng tạo thành cả cái bên trong sao? Thế nhưng nếu quí vị bố thí đi những gì quí vị có thì mọi sự sẽ được tẩy sạch cho quí vị'".

Đúng thế, qua câu giáo huấn chí lý nhưng hết sức thực tế này của Chúa Giêsu, chúng ta thấy rằng Người chú trọng đến nội tâm hơn hành động biểu hiện, đến tinh thần hơn hình thức bề ngoài. Cho dù vẫn cần đến hành vi cử chỉ bề ngoài và hình thức biểu hiệu đấy, nhưng chúng phải là những gì phản ảnh nội tâm, phản ảnh tinh thần, chứ không phải là những gì thuần hình thức và máy móc, bất xứng với con người là loài có tâm linh và ý thức.

Nếu bề ngoài dù có những hành vi cử chỉ tốt lành hay có những việc làm có vẻ đạo đức như "lau rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng nội tâm các ông đầy tham lam và gian ác" thì tất cả chỉ là giả hình che mắt thiên hạ, làm để lấy tiếng khen... Cho đến khi họ bị hiểu lầm hay chống đối hoặc bị chê bai bởi chính những việc giả hình họ làm, họ liền lộ cái chân tướng đầy kiêu căng tự ái của họ, thậm chí họ còn có những hành vi cử chỉ chọc gậy bánh xe, chống phá, thơ nặc danh v.v., như đã từng xẩy ra ở các cộng đoàn Việt Nam từ trước đến nay. 

Đó là lý do Chúa Giêsu đã dạy cho thành phần biệt phái cũng như cho chúng ta là thành phần môn đệ của Người, nhưng vẫn bị nhập nhiễm men giả hình giả tạo của họ, một nguyên tắc hay một đường lối làm cho chúng ta không còn sống giả hình mà là sống chân chính đúng như Thiên Chúa muốn, đó là hãy: "Bố thí đi những gì quí vị có thì mọi sự sẽ được tẩy sạch cho quí vị'".

Câu này của Chúa Giêsu có nghĩa là gì? Người khuyên chúng ta ra sao đây để có thể thực hành cho chính xác và có hiệu nghiệm?? Tại sao "bố thí đi những gì (mình) có" là phương cách duy nhất và hiệu nghiệm nhờ đó "mọi sự sẽ được tẩy sạch" cho chúng ta???

Phải chăng ở đây Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta rằng để mọi việc làm của chúng ta, để mỗi một và tất cả mọi hành vi cử chỉ được bày tỏ ra bề ngoài của chúng ta được chân thực, hoàn toàn không có gì là giả tạo, bôi bác, hình thức v.v. chúng ta cần phải sống hết mình, phải ý thức những gì mình làm, phải dứt khoát từ bỏ, như "bố thí đi những gì mình có", những ý hướng xấu xa vị kỷ ham danh hơn là sống hoàn toàn vì Chúa và cho tha nhân v.v.!?

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, Thánh Tông Đồ Phaolô cũng cho chúng ta thấy chính vì con người chưa có đức tin, chưa nhận biết Thiên Chúa là những gì bề trong, nội tâm, thuộc tâm linh cao cả, như "Người công chính sống bởi đức tin", mà họ, cho dù theo tự nhiên vẫn có thể nhận biết sự hiện hữu của Thiên Chúa trong trời đất: "Từ khi sáng tạo thế gian, qua những loài thụ tạo, họ đã có thể nhìn nhận, hiểu biết những sự không trông thấy được của Thiên Chúa, nhất là quyền năng đời đời và thiên tính của Người, nên họ không thể chữa mình được", vẫn hướng hạ, vẫn không thể nào sống theo sự thật, hoàn toàn sống phản lại sự thật đến độ đã biến đổi sự thật theo ý họ:

"Vì dẫu họ biết Thiên Chúa, họ không tôn vinh, không cảm tạ Người cho xứng với Thiên Chúa, song họ đã lầm lạc trong những hư tưởng của họ, và tâm trạng ngu muội của họ đã ra mù tối. Họ tự khoe là khôn ngoan, nhưng họ đã hoá ra điên dại. Họ đã hoán đổi vinh quang của Thiên Chúa bất hủ ra giống như hình ảnh của loài người hay chết và của loài chim, loài thú bốn chân và rắn rết. Vì thế, Thiên Chúa để mặc cho họ buông theo lòng dục vọng tìm sự dâm ô, thậm chí làm ô nhục đến chính bản thân họ. Họ là những người đã hoán đổi sự chân thật". 

Bài Đáp Ca hôm nay âm vang nội dung của Bài Đọc 1 hôm nay về vấn đề Thiên Chúa đã tỏ mình ra qua thiên nhiên tạo vật của Ngài để con người có thể nhận biết Ngài mà đến với Ngài và ca tụng Ngài, nhờ đó, họ được chân lý giải phóng mà sống trong chân thật, chứ không sống giả dối như thành phần cho dù giữ luật Chúa vẫn đầy những giả hình như những người biệt phái trong bài Phúc Âm hôm nay:

1) Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp tay Người. Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác, đêm này truyền tụng cho đêm kia. 

2) Ðây không phải lời cũng không phải tiếng, mà âm thanh chúng không thể lọt tai. Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất, và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu. 

Thứ Tư

 

sự sống muộn phiền 

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 2, 1-11

Ðáp Ca: Tv 61, 2-3. 6-7. 9

Phúc Âm: Lc 11, 42-46

 

Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, Thứ Tư Tuần XXVIII Thường Niên, và bài Phúc Âm ngày mai của ngài, cả hai cộng lại dài 1/3 của đoạn 11 và cả hai đều ở vào cuối đoạn 11 này, một khúc Phúc Âm liên quan đến những lời khiển trách thậm tệ của Chúa Giêsu với thành phận biệt phái và luật sĩ trong dân Do Thái, những lời khiển trách này cũng đã được Thánh ký Mathêu giành nguyên đoạn 23 dài để thuật lại và đã được Giáo Hội chọn đọc cho 4 ngày liền: Thứ Bảy Tuần XX Thường Niên - Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XX Thường Niên, và Thứ Hai, Thứ Ba cùng Thứ Tư Tuần XXI Thường Niên -  Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XXI Thường Niên.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, trước hết Chúa Giêsu đã khiển trách thành phần biệt phái, thành phần trong bài Phúc Âm hôm qua vừa được Người vạch ra cho thấy họ chỉ sống vụ hình thức và bề ngoài mà nội tâm rỗng tuyếch và không có gì là chân thực. Người đã khiển trách họ 3 điều chính yếu theo thứ tự như sau:


1- Khuynh hướng giảm khinh - coi thường những gì chính yếu: "Khốn cho các ngươi, hỡi những người biệt phái! Vì các ngươi nộp thuế thập phân, bạc hà, vân hương, và các thứ rau, mà lại bỏ qua đức công b
ình và lòng yêu mến Thiên Chúa: Phải thi hành những điều này, và không được bỏ những điều kia". 

2- Lòng ham hố danh vọng - coi mình là đệ nhất thiên hạ: "Khốn cho các ngươi, hỡi những người biệt phái! Vì các ngươi ưa thích ngồi ghế nhất trong các hội đường, và ưa thích được chào hỏi ngoài phố chợ". 

3- Nội tâm như nấm mộ chứa đầy những "tham lam và gian ác" (Bài Phúc Âm hôm qua) - được che đậy bằng những dáng vẻ đạo đức bề ngoài che mắt thiên hạ: "Khốn cho các ngươi, vì các ngươi giống như những nấm mồ kín đáo mà người ta không biết dẵm bước lên trên!"

Chúa Giêsu chẳng những khiển trách thành phần biệt phái mà còn cả thành phần luật sĩ nữa, vì cả hai đều là thành phần thông luật, giữ luật và đóng vai trò làm thày dạy luật cho dân chúng. Bởi thế, nghe thấy Chúa Giêsu khiển trách thành phần biệt phái như thế thì "có một tiến sĩ luật" cảm thấy bị động lòng - như thể nghe về người khác thì nghĩ đến thân mình liền lên tiếng: "Thưa Thầy, Thầy nói như thế là Thầy sỉ nhục cả chúng tôi nữa". 

Lợi dụng cơ hội thuận lợi này, Chúa Giêsu liền vạch trần bộ mặt thật của thành phần luật sĩ ấy nữa như sau: "Hỡi những tiến sĩ luật, khốn cho các ngươi nữa! Vì các ngươi chất lên người ta những gánh nặng không thể vác được, mà chính các ngươi dù một ngón tay cũng không động tới". 

Nghĩa là thành phần luật sĩ này bị Chúa Giêsu khiển trách là họ đã tỏ ra nghiêm ngặt với người khác mà nới rộng với bản thân họ về vấn đề tuân giữ lề luậtỞ chỗ, họ bắt người ta tuân giữ kỹ càng và tỉ mỉ đủ mọi luật lệ, trong khi đó cái gì hợp với họ hay dễ giữ thì họ giữ, hoặc giữ để qua mắt thiên hạ, còn cái nào không hợp hay khó khăn thì bỏ qua, tùy theo cách giải thích luật một cách chủ quan vụ lợi của họ.

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, Thánh Phaolô Tông Đồ cũng cảnh báo Kitô hữu Giáo đoàn Rôma những điều Chúa Giêsu đã khiển trách thành phần luật sĩ trong bài Phúc Âm hôm nay. Thánh Phaolô viết: "Vì ngươi xét đoán kẻ khác thế nào, thì ngươi tự lên án mình như vậy: bởi lẽ ngươi cũng phạm điều ngươi lên án"; "ngươi xét đoán những kẻ hành động thể ấy, mà chính mình ngươi cũng làm". 

Thật là những lời chí lý đúng ngay chóc thành phần luật sĩ, ở chỗ, họ bắt lỗi dân chúng không giữ luật này phép kia theo như họ hiểu và họ dạy, thế nhưng chính họ cũng lỗi luật như ai và còn hơn ai nữa kìa: "ngươi xét đoán những kẻ hành động thể ấy, mà chính mình ngươi cũng làm", và như thế họ thật sự là "xét đoán kẻ khác thế nào, thì (họ) tự lên án mình như vậy: bởi lẽ (họ) cũng phạm điều (họ) lên án". 

Hậu quả của những con người sống giả hình, như thành phần biệt phái trong Phúc Âm hôm nay: sống theo khuynh hướng giảm khinh - coi thường những gì chính yếu; sống theo lòng ham hố danh vọng - coi mình là đệ nhất thiên hạ; sống tham lam gian ác bằng vỏ đậy đạo đức giả hình; hay như thành phần luật sĩ trong bài Phúc Âm hôm nay tỏ ra nghiệm ngặt với người mà rộng rãi với mình ở vấn đề giữ lề luật, đó là một thứ hậu quả, như Thánh Phaolô khẳng định và cảnh báo ở cuối Bài Đọc 1 hôm nay: "Hễ kẻ nào làm sự dữ, thì mắc phải gian nan phiền muộn", vì Thánh Phaolô cũng báo trước trong cùng Bài Đọc 1 hôm nay như sau: 

"... trong ngày thịnh nộ, ngày sẽ tỏ ra thẩm phán công bình của Thiên Chúa, Ðấng sẽ trả lại cho ai nấy tùy theo công việc họ đã làm, vì hễ những ai bền đỗ làm lành, tìm kiếm vinh quang, danh dự và ơn bất tử, thì sẽ được sống đời đời; còn những ai ương ngạnh, không vâng phục chân lý, mà lại tin theo sự gian ác, thì sẽ gặp cơn thịnh nộ và giận dữ".

Bài Đáp Ca hôm nay có một nội dung như để giải quyết vấn đề "gian nan phiền muộn" của những "kẻ nào làm sự dữ", như thành phần biệt phái và luật sĩ trong Bài Phúc Âm hôm nay. Bởi vì: 

1) Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui; do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến luỹ của tôi, tôi sẽ không hề nao núng.

2) Nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi ơi, hãy an vui, vì do Người, tôi được điều tôi trông đợi. Phải, chính Chúa là Ðá tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến luỹ của tôi, tôi sẽ không hề nao núng. 

3) Hỡi dân tộc, hãy trông cậy Người luôn mọi lúc, hãy đổ giốc niềm tâm sự trước nhan Người, vì Thiên Chúa là nơi ta nương náu. 

Ngày 14: Thánh Callistô I, Giáo Hoàng tử đạo

Thầy sáu Callistô là người cộng sự thân cận của Ðức Giáo Hoàng Zêphyrinô. Năm 217, ngài được chọn làm đấng kế vị lèo lái con thuyền Hội Thánh dưới thời hoàng đế Antonin Heliogabale. Theo chân vị tiền nhiệm khả kính, ngài đã cho sửa sang những nghĩa trang đầu tiên của cộng đoàn tín hữu Rôma trên đường Appia. Ðó là nơi yên nghỉ của hầu hết các Ðức Giáo Hoàng và các thánh tử đạo. Tuy nhiên, ngài cũng bị linh mục Hippolyte, một nhà tư tưởng nổi tiếng chống đối, nhưng với địa vị Giáo Hoàng, ngài cương quyết bảo vệ đức tin của Giáo Hội trước vấn đề mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ngài bị bọn lạc giáo bắt và hành hạ: phải nhịn đói, đánh đòn nhiều lần, sau cùng ngài bị ném xuống giếng cho chết. Ngài lãnh triều thiên tử đạo năm 222 tại Transtévère dưới thời vua Alexandre.

 


Thứ Năm


sự sống công chính 


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 3, 21-30a

Ðáp Ca: Tv 129, 1-2. 3-4ab. 4c-5

Phúc Âm: Lc 11, 47-54


Hôm nay, Thứ Năm Tuần XXVIII Thường Niên, Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca được tiếp tục với bài Phúc Âm hôm qua là bài Phúc Âm thuật lại lời Chúa Giêsu khiển trách cả thành phần biệt phái lẫn thành phần luật sĩ về tính chất giả tạo và đời sống hình thức của họ. 

Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói với cả 2 thành phần này một lúc, những lời nói khiến họ cảm thấy bị hạ nhục một cách công khai trong khi họ là những bậc thày dạy về luật lệ trong dân chúng và cho dân chúng. Bởi thế, ở đoạn kết bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Luca đã cho chúng ta thấy phản ứng dữ dội nơi 2 thành phần này như sau:

"Khi người phán bảo cho các người biệt phái và tiến sĩ luật những lời đó, thì họ bắt đầu oán ghét Người một cách ghê gớm, và chất vấn Người về nhiều vấn đề, cố gài bẫy Người để may ra bắt bẻ được lời gì do miệng Người thốt ra chăng".

Vậy, sau khi khiển trách từng thành phần trong họ ở bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Giêsu đã nói với cả hai thành phần này những gì nữa khiến họ đã tỏ ra căm tức quá như thế? Căn cứ vào những lời Chúa Giêsu nói với họ, thì Người cảnh báo rằng họ sẽ bị trả nợ máu:

"Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa đã nói: Ta sẽ sai đến với chúng các tiên tri và các tông đồ, trong số các vị đó, người thì chúng giết đi, người thì chúng bách hại, khiến cho dòng giống này sẽ bị đòi nợ máu của tất cả các tiên tri đã đổ ra từ lúc tạo thành vũ trụ, kể từ máu của Abel cho đến máu của Giacaria, người đã bị sát hại giữa bàn thờ và thánh điện. Phải, Ta bảo các ngươi, dòng giống này sẽ bị đòi nợ máu".

Thực tế cho thấy họ chẳng giết hại tiên tri nào vào thời của họ hết, như vị vẫn được coi là tiên tri như Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, vị đã bị quận vương Hêrôđê giết chứ không phải họ. Thế nhưng, cũng căn cứ vào lời Chúa Giêsu khẳng định, thì việc họ xây mồ mả cho các vị tiên tri do cha ông của họ sát hại là việc họ, bề ngoài, như thể tỏ ra tôn kính các tiên tri, bù đắp cho các vị, nhưng gián tiếp họ đã tỏ ra công nhận là cha ông họ đã sát hại các vị tiên tri ấy:

"Khốn cho các ngươi! Hỡi những người xây cất mồ mả các tiên tri, mà tổ phụ các ngươi đã giết chết. Thật, các ngươi làm chứng và tán thành những hành động của tổ phụ các ngươi: vì thực ra họ đã giết các vị tiên tri, còn các ngươi thì xây mồ mả cho họ". 

Thế nhưng, hành động xây mồ mả cho các vị tiên tri của họ, đối với Chúa Giêsu, không phải là việc họ bù đắp cho các vị tiên tri hay công nhận các vị tiên tri, cho bằng họ "làm chứng và tán thành những hành động của tổ phụ các ngươi". Tại sao Chúa Giêsu lại có vẻ hiểu lầm họ một cách oan nghiệt như thế, như thể Người muốn ngăn chặn con đường ăn năn hoán cải của họ, bằng cách hoàn toàn phủ nhận công việc lành thánh họ muốn làm để bù đắp lỗi lầm cho cha ông của họ như vậy chứ?   

Phải chăng ở đây Chúa Giêsu muốn ngầm tiên báo cho họ biết trước rằng, cho dù họ có thiện chí xây dựng lại mồ mả cho các vị tiên tri nạn nhân của cha ông họ, họ cũng chẳng hơn gì cha ông của họ đâu, mà thậm chí họ còn tệ hơn cha ông của họ nữa, bởi họ có thực sự không sát hại các vị tiên tri như cha ông của họ đã làm, nhưng họ sẽ nhúng tay vào việc sát hại một vị đại tiên tri trên hết các tiên tri, Vị Thiên Sai của Thiên Chúa là chính bản thân Người!?! - "dòng giống này sẽ bị đòi nợ máu" là thế! 

Đúng vậy, họ "sẽ bị đòi nợ máu" của chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế, như chính họ đã tự nguyện chấp nhận với Tổng Trấn Philatô: "hãy cứ để cho máu của hắn đổ lên chúng tôi và con cháu chúng tôi" (Mathêu 27:35), nhưng lại chính là máu đổ ra để cứu chuộc họ, đổ ra một cách nhưng không và vô cùng nhân ái, hoàn toàn không do công nghiệp của họ và cho dù họ cố tình nhúng tay vào việc sát hại Người chăng nữa, miễn là họ tin tưởng vào Người, chứ không tin vào việc tuân giữ lề luật của họ. 

Thánh Phaolô đã từng chủ trương công chính bởi giữ luật theo chiều hướng của một biệt phái nhiệt thành trước kia, nhưng nhờ ân sủng, ngài đã được công chính hóa khi nhận ra chân lý bằng đức tin tuân phục của ngài, nhờ đó ngài đã dấn thân rao giảng chân lý cứu độ chính yếu được ngài "thâm tín rằng: con người nhờ đức tin mà được công chính hoá, chứ không phải bởi việc làm theo lề luật"như ngài đã viết trong Thư gửi Giáo đoàn Rôma ở Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay như sau:

"Anh em thân mến, hiện giờ sự công chính của Thiên Chúa đã tỏ hiện không tùy vào lề luật, nhưng có lề luật và các tiên tri làm chứng. Sự công chính của Thiên Chúa nhờ tin vào Ðức Giêsu Kitô sẽ ban cho mọi kẻ tin vào Người, không có gì phân biệt: vì mọi người đều phạm tội và đã thiếu mất vinh quang của Thiên Chúa, họ được công chính hoá cách nhưng không, do ơn nghĩa của Người và nhờ sự cứu chuộc nơi Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Thiên Chúa đã đặt làm của lễ đền tội, nhờ tin vào máu của Người, để tỏ cho thấy đức công chính của Người, bởi Người tha thứ những tội đã phạm khi trước, trong thời kỳ nhịn nhục của Thiên Chúa, ngõ hầu tỏ ra đức công chính của Người trong lúc này, để tỏ ra chính Người là Ðấng công chính và công chính hoá người tin vào Ðức Giêsu Kitô... ". 

Bài Đáp Ca hôm nay cũng như hôm qua, vẫn tiếp tục âm vang nội dung của Bài Đọc 1 cho năm lẻ theo ngày của mình. Nếu Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay bày tỏ cảm nhận "mọi người đều phạm tội và đã thiếu mất vinh quang của Thiên Chúa, họ được công chính hoá cách nhưng không, do ơn nghĩa của Người và nhờ sự cứu chuộc nơi Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Thiên Chúa đã đặt làm của lễ đền tội, nhờ tin vào máu của Người", thì thành phần như biệt phái và luật sĩ trong bài Phúc Âm hôm nay cần phải làm sao có được tâm tình của Bài Đáp Ca cùng ngày sau đây:

1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu! Dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. 

2) Nếu Chúa nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. 

3) Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn con mong đợi Chúa, hơn người lính gác mong trời rạng đông. Hơn lính gác mong hừng đông dậy, Israel đang mong đợi Chúa. 

Ngày 15: Thánh Têrêxa Avila, đồng trinh Tiến Sĩ Hội Thánh

Thánh nữ Têrêxa sinh ngày 18/3/1515 tại Avila nước Tây Ban Nha, trong một gia đình quý phái. Sống giữa bầu khí đạo hạnh nên ngài sớm trưởng thành trên đường nhân đức. Ngài thích đọc sách các thánh tử đạo và các sách viết về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Tuy bị gia đình ngăn cản, năm 1535, ngài đã can tâm gạt bỏ tất cả để vào dòng Carmêlô, lúc đó được 20 tuổi. Ngài đã góp công rất nhiều trong việc cải tổ dòng này và đã để lại nhiều tư tưởng thần học giá trị. Ngài có lòng kính mến Ðức Mẹ cách đặc biệt. Với tinh thần nhiệm nhặt, ngài lập một tu viện mới ở Avila và tiếp tục xây thêm nhiều nhà khác nữa. Ngài dâng mọi đau khổ tinh thần cũng như thể xác để cầu cho những người tội lỗi. Tuy bận rộn với công việc nhà dòng, ngài vẫn dành nhiều thời giờ để ghi lại những tư tưởng thiêng liêng, suy gẫm và phổ biến việc giữ luật dòng Carmêlô cho các tín hữu nam nữ (1562-1568). Ngài dâng các việc hãm mình hy sinh và đánh tội trong suốt cả đời để cầu nguyện cho anh em ly giáo và lạc giáo. Với một lòng tin tưởng sâu xa, ngài luôn nói: "Lạy Chúa, dù thành công hay thất bại, con vẫn một lòng tin tưởng vào Chúa".

Thánh nữ qua đời tại Alba năm 1582, hưởng thọ 67 tuổi. Ngài được nổi tiếng vì ơn nói tiên tri và nhiều ơn lạ khác. 

Năm 1614, Ðức Thánh Cha Paul V đã phong ngài lên bậc Chân Phước. 

Dưới triều Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô XIV, ngài được vinh thăng Hiển Thánh năm 1622.



Thứ Sáu


sự sống bất khuất


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 4, 1-8

Ðáp Ca: Tv 31, 1-2. 5. 11

Phúc Âm: Lc 12, 1-7


Bài Phúc Âm cho Thứ Sáu Tuần XXVIII Thường Niên hôm nay vẫn theo chiều hướng đức tin công chính là những gì được Bài Đọc 1 cho năm lẻ tiếp tục khai triển từ Thứ Hai đầu Tuần XXVIII Thường Niên này.

Trước hết, có một chi tiết hơi lạ ở ngay đầu bài Phúc Âm hôm nay, đó là chi tiết: "Khi ấy, có nhiều đám đông dân chúng đứng chung quanh, đến nỗi chen đạp lẫn nhau, nên Chúa Giêsu bắt đầu dạy các môn đệ trước tiên rằng: 'Các con hãy ý tứ giữ mình khỏi men biệt phái, nghĩa là sự giả hình'...".

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao tình trạng dân chúng đông đảo đến độ chen lấn đạp cả lên nhau lại trở thành nguyên động lực thúc đẩy Chúa Giêsu lên tiếng giảng dạy các môn đệ của Người về việc ý tứ giữ mình cho khỏi men của những người biệt phái? Phải chăng hiện tượng chen lấn nhau, đến độ gây tổn hại cho nhau như thế là hình ảnh về một thứ môi trường có thể lây lan những cái xấu xa từ kẻ mạnh sang kẻ yếu!

Chính Chúa Giêsu đã xác định "men biệt phái, nghĩa là sự giả hình". Mà giả hình tức là những gì không thật, giả tạo, dối trá không thể nào tồn tại vĩnh viễn như chân lý bất diệt, tức là sẽ bị lộ ra trước ánh sáng, như chính Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay:  

"Không có gì che đậy mà không bị tiết lộ ra, và không có gì giấu kín mà chẳng biết được. Vì vậy, những điều các con nói trong nơi tối tăm, sẽ được nói ra nơi sáng sủa, và điều các con nói rỉ tai trong buồng kín, sẽ được rao giảng trên mái nhà".

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu chẳng những khuyên các môn đệ hãy tránh điều tiêu cực là sống giả hình như thành phần biệt phái, mà còn trấn an và thúc giục các vị hãy sống tích cực bằng lòng tin tưởng vào Thiên Chúa khi phải sống sự thật, tức là sống không giả tạo, không gian dối, không giả hình, cho dù có vì thế, vì chân lý mà bị bách hại và bị sát hại như Người:

"Thầy bảo các con là những bạn hữu của Thầy rằng: Các con đừng sợ chi những kẻ giết được thân xác, rồi sau đó không thể làm gì hơn được nữa. Thầy sẽ chỉ cho các con biết phải sợ ai: Hãy sợ Ðấng, sau khi đã giết chết, còn có quyền ném vào địa ngục. Phải, Thầy bảo các con hãy sợ Ðấng ấy. Chớ thì năm con chim sẻ không bán được hai đồng tiền sao? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Hơn nữa, mọi sợi tóc trên đầu các con cũng đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn trọng hơn nhiều con chim sẻ".

Ở đây Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ rằng: 1- không một sự gì xẩy ra ngoài Thánh Ý Chúa quan phòng; 2- dù là một con chim sẻ chỉ có giác hồn, một sợi tóc vô hồn v.v., chẳng đáng già là bao, huống chi là con người vốn là loài linh ư vạn vật, cao trọng hơn chim sẻ nhiều; 3- Thiên Chúa là Đấng quan phòng thần linh sẽ gìn giữ tất cả mọi người và từng người theo ý định khôn ngoan và quyền năng vô cùng của Ngài; 4- bởi đó đừng lo âu sợ hãi nhất là sợ kẻ dữ vì họ cũng chỉ là một con người hữu hạn như mình, chứ không toàn quyền sinh tử đời đời như Thiên Chúa.

Tóm lại, hãy tin tưởng vào Thiên Chúa mà bằng an vui sống cho dù có phải gian nan khốn khó hoạn nạn đớn đau. Chính lòng tin tưởng vào Thiên Chúa là những gì làm cho con người sống chân thật và công chính, sống vượt lên trên mọi gian nan khốn khó, sống trước thánh nhan Thiên Chúa. 

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, Thánh Phaolô đã cho thấy một tổ phụ Abraham không trở thành công chính vì việc làm của ông mà là bằng lòng tin của ông đối với Vị Thiên Chúa là Đấng đã nhưng không tuyển chọn ông cũng như đã tự động ký kết giao ước với ông:

"Nếu như Abraham nhờ việc làm mà được nên công chính, thì ông có lý mà tự hào, nhưng không phải tự hào trước mặt Thiên Chúa. Vì Thánh Kinh nói gì? Abraham đã tin vào Thiên Chúa, và vì thế mà ông được kể là người công chính".

Thật ra không phải là tổ phụ Abraham không làm gì, chỉ hoàn toàn tin tưởng một cách thuần túy vào Thiên Chúa vô hình mà thôi, trái lại, vị tổ phụ này, chính vì hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa mà đã phải làm những gì quá sức và cam go hơn ai hết, khi ông phải hết sức đáp ứng ý muốn tối cao của Thiên Chúa, nhất là khi ông phải đích thân sát tế người con trai duy nhất của mình theo như ý muốn tối cao của Thiên Chúa, bằng tất cả lòng tin tưởng của ông. 

Cái cốt lõi của việc tin vào Thiên Chúa nhờ đó mà được nên công chính là ở chỗ con người cần phải, trước hết và trên hết, biết chân nhận mình hèn hạ, yếu đuối, tội lỗi trước nhan Thiên Chúa là Đấng thứ tha và thánh hóa chúng ta, như Thánh Phaolô đã viết trong Thư gửi Giáo đoàn Rôma ở Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay:

"Đavít tuyên bố là phúc đức con người được Thiên Chúa kể là công chính, không cần có việc làm, mà rằng: 'Phúc cho những ai được tha thứ sự gian ác, và được che lấp các tội lỗi. Phúc cho người Chúa không chấp nhất sự tội'".

Với ý thức đó, chúng ta mới thấm thía cảm nghiệm được ý nghĩa của những lời trong Bài Đáp Ca hôm nay: 

1) Phúc thay người được tha thứ lỗi lầm, và tội phạm của người được ơn che đậy! Phúc thay người mà Chúa không trách cứ lỗi lầm, và trong lòng người đó chẳng có mưu gian. 

2) Tôi xưng ra cùng Chúa tội phạm của tôi, và lỗi lầm của tôi, tôi đã không che giấu. Tôi nói: "Con thú thực cùng Chúa điều gian ác của con, và Chúa đã tha thứ tội lỗi cho con". 

3) Chư vị hiền nhân, hãy vui mừng hân hoan trong Chúa, và mọi người lòng ngay hãy hớn hở reo mừng! 

 

Ngày 16: 1. Thánh Hedviga, nữ tu

                2. Thánh Margarita Maria Alacoque, đồng trinh


Thánh Hedviga, Nữ Tu (1174-1243)

 

Thánh nữ Hedviga sinh năm 1174, trong một gia đình đạo đức thuộc hoàng tộc. Trong số 8 anh chị em, có hai anh làm Giám Mục, một em gái làm Bề Trên tu viện và một người là thánh nữ Elisabeth, hoàng hậu nước Hung. Từ nhỏ, thánh nữ đã tỏ ra thông minh và đạo đức. Khi tới tuổi trưởng thành, ngài kết hôn cùng Henri, quận công nước Ba Lan, năm 1186. Nhờ nhân đức và lòng đạo hạnh, ngài đã cải hóa được người chồng hoang đàng. Ngài sinh hạ được 7 người con, nhưng Chúa sớm cất về chỉ còn lại người con gái thứ 3 sau làm Bề Trên tu viện.

Thánh nữ ham thích cầu nguyện, ăn chay và hãm mình. Năm 1209, ngài và quận công Henri đã cùng nhau thề nguyền sống thủ tiết. Mỗi người vào một nhà dòng để thanh luyện tâm hồn và kết hợp với Chúa. Trong cuộc sống mới, ngài đã nêu cao tinh thần vui vẻ và phục vụ. Thấy ngài đã có tuổi nên Bề Trên nhà dòng, cũng là con gái thứ ba của ngài, muốn châm chước những luật nghiêm nhặt cho ngài. Nhưng ngài từ chối và xin được đối xử như mọi chị em khác. Thánh nữ còn là một mẫu gương sáng chói: ngài thường an ủi giúp đỡ những người nghèo khó. Chính ngài đã rửa vết thương và băng bó cho những người bị phong cùi.

Với đời sống thánh thiện, Chúa đã cho thánh nữ làm nhiều phép lạ và đã cho ngài biết trước giờ chết. Sau hai tuần lâm bệnh, ngài đã trút linh hồn trong tay Chúa vào ngày 15/10/1243. 

Hai mươi bốn năm sau, ngài được Ðức Giáo Hoàng Clêmentê IV phong lên bậc Hiển Thánh và được tôn làm quan thầy các bà mẹ Công Giáo và toàn nước Ba Lan năm 1267.

Thánh Margarita Maria Alacoque, Ðồng Trinh (1647-1690)

 

Thánh Margarita Maria Alacoque sinh năm 1647 trong một gia đình quý phái miền Autun, nước Pháp. Ngay từ những năm thơ ấu, ngài đã có một lòng đạo đức sốt sắng. Ngài đặc biệt tôn kính Ðức Mẹ và Thánh Tâm Chúa. Chúa đã gửi cho ngài nhiều đau khổ để thử thách, nhưng ngài vẫn một lòng tin cậy vào Chúa. Ngày 20/6/1671, thánh nữ chính thức gia nhập dòng Ðức Mẹ Thăm Viếng, và ngày 26/10/1672, ngài được khấn trọn đời. Thấy ngài nhân đức, ma quỷ ra sức cám dỗ, nhưng ngài vẫn không hề thay đổi ý định. Ngài được Chúa cho xem nhiều thị kiến. Một lần kia, trong lúc chầu Thánh Thể, ngài thấy Thánh Tâm Chúa hiện ra với ngọn lửa bừng cháy và những gai nhọn đâm thâu vì quá yêu thương loài người, nhưng loài người lại hững hờ và xúc phạm đến Chúa. Chúa đã truyền cho ngài tổ chức việc tôn thờ Thánh Tâm cách công khai, và hứa sẽ ban nhiều đặc ân cho kẻ thành tâm thi hành việc đạo đức này (1675). Tuy nhiên, ngài gặp phải bao khó khăn vì chị em, vì Bề Trên không muốn chấp nhận. Ngài vẫn âm thầm chịu đựng và luôn kết hợp mật thiết với Chúa trong việc tôn sùng Thánh Tâm Ngài. Về sau, một chị bạn thân thiết với ngài lên làm Bề Trên. Vì hiểu rõ tâm hồn sốt mến của ngài, nên đã cho phép ngài được tổ chức việc tôn sùng này. Từ đó, việc tôn sùng này được phổ biến không những trong dòng mà còn lan dần cả thế giới.

Thánh nữ rất vui mừng và chỉ mong được chia sẻ mọi đau khổ để đền vì tội lỗi nhân loại. Ngày 1610/1690, ngài đã trút linh hồn bình an. 

Thánh nữ được phong Hiển Thánh ngày 13/3/1920 dưới triều Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XV. 

Ðức Giáo Hoàng Piô XI đã truyền mừng kính trọng thể lễ này trong toàn thể Giáo Hội năm 1929.


Thứ Bảy

 

sự sống chứng nhân 

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 4, 13. 16-18

Ðáp Ca: Tv 104, 6-7. 8-9. 42-43

Phúc Âm: Lc 12, 8-12

 

Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho Thứ Bảy cuối Tuần XXVIII Thường Niên hôm nay vẫn cùng với Bài Đọc 1 cho năm lẻ trong ngày tiếp tục đề tài về đức tin công chính hay về người lành sống bởi đức tin.

Thật vậy, theo lời Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm, thì người lành sống bởi đức tin là người tỏ ra hiên ngang làm chứng cho sự thật, tức làm chứng cho Chúa Kitô, không sợ hãi khi bị bách hại, hay sợ hãi kẻ bắt bớ mình, trái lại, họ sống như đang ở trước nhan Thiên Chúa là Đấng ngự trong họ bằng Thánh Thần của Ngài, để Ngài có thể tỏ mình ra trong họ và qua họ ở vào chính những cơn gian nan thử thách cần đến đức tin bất khuất của họ. 

Đó là tất cả ý nghĩa của những gì "Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: 'Hễ ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, thì Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa; nhưng ai chối bỏ Thầy trước mặt người đời, thì sẽ bị chối bỏ trước mặt thiên thần của Thiên Chúa. Và hễ kẻ nào nói phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha. Nhưng kẻ nào nói phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha. Khi người ta điệu các con vào các hội đường, đến trước mặt vua quan và chính quyền, các con chớ lo lắng phải thưa làm sao, hay phải nói thế nào, vì trong giờ ấy, Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói thế nào'". 

Trong đoạn "Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ" trên đây, có tất cả là 3 câu, nhưng hình như câu thứ hai hơi lạc đề, không dính dáng gì với câu trước và câu sau, đó là câu: "Và hễ kẻ nào nói phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha. Nhưng kẻ nào nói phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha". Chẳng lẽ câu này Người có ý cảnh báo cho các môn đệ của Người về hai thứ tội: một tội có thể tha được là tội phạm đến Con Người và một tội không thể tha được là tội phạm đến Thánh Thần?

Có nghĩa là nếu các môn đệ của Người chẳng may vì yếu đuối sợ hãi quá hoặc đau đớn quá không dám làm chứng cho Người, "chối bỏ Thầy trước mặt người đời", thì tội của họ vẫn có thể được tha thứ, như trường hợp đã xẩy ra cho tông đồ Phêrô sau này, vị tông đồ đã chối Thày 3 lần nhưng vẫn được tha, bởi ngài vẫn tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa sau khi ngài vừa chối lần thứ ba xong liền bắt gặp ánh mắt nhân hậu của Thày quay lại nhìn ngài (xem Luca 22:61).

Sở dĩ tội "phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha" là bởi vì, đối với chính Con Người là Chúa Giêsu Kitô, những ai phạm đến Người nhìn bề ngoài cũng chỉ là một con người tầm thường như họ, không thể nào là Thiên Chúa như họ nghĩ, đều là những con người hoàn toàn "lầm không biết việc mình làm" (Luca 23:34). 

Thậm chí dân Do Thái nói chung và thành phần lãnh đạo dân chúng nói riêng, bề ngoài nhất định chối bỏ Người, cố ý lên án tử cho Người và cương quyết xin Tổng Trấn Philato giết Người cho bằng được, vẫn được vị tông đồ đã chối Thày 3 lần là Phêrô tỏ ra hoàn toàn cảm thông trong bài giảng ở Giêrusalem sau khi ngài chữa lành cho một người què ở Cửa Đẹp, như sau: "Thưa anh em, tôi biết rằng anh em đã tác hành một cách vô thức, như các vị lãnh đạo của anh em đã làm vậy" (Tông Vụ 3:17).

Thế nhưng, một khi tình trạng "vô thức - ignorance" (Tông Vụ 3:17) ấy của con người, tình trạng "không biết - do not know" (Luca 23:34) ấy nơi con người, một tình trạng vẫn còn có thể được tha thứ, một tình trạng mà một khi đã được Thiên Chúa bù đắp cho bằng Thánh Thần của Ngài là Đấng thấu suốt mọi sự kể cả thâm tâm của Thiên Chúa (xem 1Corinto 2:10), để "Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói thế nào", con người vẫn không dám làm chứng cho sự thật, vẫn không dám làm chứng cho Chúa Kitô, vẫn chối Chúa Kitô, thì bấy giờ mới là tội "phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha".

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phaolô Tông Đồ vẫn tiếp tục gương của tổ phụ Abraham là người công chính sống bởi đức tin, đến độ ông tuyệt đối tin vào tất cả những gì Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất đã tự động hứa với ông, thậm chí ông được Ngài hứa cho làm cha của một dân tộc, đông như sao trời cát biển, qua đứa con được sinh ra khi vợ ông đã hết thời sinh sản, mà lại là đứa con chính Ngài đã bảo ông phải sát tế cho Ngài, ông vẫn sẵn sàng sống đức tin tuân phục.

Chính vì thế Thánh Phaolô đã viết về ông trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay rằng: "mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin rằng mình sẽ trở thành cha nhiều dân tộc, như có lời đã phán với ông rằng: 'Dòng dõi ngươi sẽ như thế'", một dòng dõi xuất phát Đấng Thiên Sai Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô, Đấng được các tông đồ và Giáo Hội của Người "làm chứng cho đến tận cùng trái đất" (xem Tông Vụ 1:8).

Bài Đáp Ca hôm nay kêu gọi thành phần con cháu của tổ phụ Abraham, cha của các kẻ tin hãy tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng đã tự ý thiết lập giao ước với vị tổ phụ này và sẽ tiếp tục trung thành hiện thực với giao ước của Ngài với con cháu của ông cho đến cùng:

1) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Ngài, hỡi con cháu Giacóp, những người được Ngài kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Ngài bao trùm khắp cả địa cầu. 

2) Tới muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh ước, lời hứa mà Ngài đã an bài tới muôn thế hệ, lời minh ước Ngài đã ký cùng Abraham, lời thề hứa Ngài đã thề với Isaac.

3) Vì Ngài đã nhớ lời thánh thiện của Ngài, lời Ngài đã ban bố cùng Abraham là tôi tớ Ngài. Ngài đã đưa dân tộc Ngài ra đi trong niềm vui vẻ, đưa những kẻ Ngài kén chọn ra đi trong tiếng hân hoan.

Ngày 17: Thánh Ignatiô thành Antiôkia, Giám Mục tử đạo

Ignatiô là môn đệ của thánh Gioan tông đồ, và được đặt làm Giám Mục thành Antiokia dưới thời hoàng đế Trajan.

Theo truyền tụng, khi còn bé ngài đã được Chúa Giêsu ẵm bế đặt ở giữa các môn đệ khi Chúa khuyên họ phải trở nên như con trẻ mới được vào nước Trời. Kẻ khác cho rằng, chính Ignatiô là cậu bé đã bán 5 chiếc bánh và 3 con cá cho một tông đồ trước khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để 3,000 người ăn no cho thỏa.

Trong khi thi hành nhiệm vụ, ngài có lòng yêu mến Chúa cách đặc biệt. Ngài rất nhiệt thành với nhiệm vụ chủ chăn, năng thăm viếng các bệnh nhân, an ủi người sầu khổ, dạy dỗ kẻ dốt nát, tận tâm rao giảng Tin Mừng. Thấy vậy, dân ngoại tố cáo ngài đã cả gan rao truyền tà đạo, khuyến dụ mọi người khinh chê tiền tài danh vọng, lạc thú trần tục và loại bỏ các thần minh. Vì thế, ngài bị điệu về Rôma. Ði đến đâu, ngài cũng chỉ rao giảng Tin Mừng và luôn hhuyên nhủ các Giáo Hội Á Châu bằng những thư rất có giá trị. Trong đó, ngài thường nhắc bảo mọi người phải tôn kính và vâng phục quyền bính, nhất là hàng giáo phẩm.

Trước pháp trường Rôma, ngài đã thốt lên khi thấy những con sư tử hăng tiết xông tới: "Tôi là miếng mồi ngon cho Ðức Kitô. Ước gì nhờ răng của thú dữ, tôi trở thành bánh được tuyển chọn!". Ngài đã về với Chúa năm 107.