SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XXXI Thường Niên 
1-7/11/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html) 



Chúa Nhật


Ngày 01 tháng 11

Lễ Các Thánh Nam Nữ

(Lễ trọng)


Bài Ðọc I: Kh 7, 2-4, 9-14

"Tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng".

Bài trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Tôi là Gioan đã nhìn thấy một thiên thần khác từ phía mặt trời mọc đi lên, tay cầm ấn Thiên Chúa hằng sống, và lớn tiếng kêu gọi bốn thiên thần được lệnh tàn phá đất và biển mà rằng: "Chớ có tàn phá đất, biển và cây cối trước khi ta đóng ấn trên trán những tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta". Và tôi đã nghe biết số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel.

Sau đó, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: "Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Ðấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên".

Rồi tất cả các thiên thần đến đứng chung quanh ngai vàng, và các trưởng lão cùng bốn con vật sấp mình xuống trước ngai mà thờ lạy Thiên Chúa rằng: "Amen! Chúc tụng, vinh hiển, khôn ngoan, cảm tạ, vinh dự, uy quyền và dũng lực cho Thiên Chúa chúng tôi muôn đời. Amen". Rồi một trong các trưởng lão lên tiếng hỏi rằng: "Những người mặc áo trắng này là ai vậy? Và họ từ đâu mà đến?" Tôi đáp lại rằng: "Thưa ngài, hẳn ngài đã rõ". Và người bảo tôi rằng: "Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 23, 1-2. 3-4ab. 5-6

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa (c. 6a).

Xướng: 1) Trái đất và muôn loài trên mặt đất là của Chúa, hoàn cầu và muôn vật trên địa cầu. Vì chưng Chúa đã xây dựng nền móng trái đất trên biển cả, và Người đã tạo dựng nó trên các sông ngòi. - Ðáp.

2) Ai sẽ được trèo lên núi Chúa? Ai sẽ được dừng bước trong thánh điện? Ðó là người có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch, không để lòng xuôi theo sự giả trá. - Ðáp.

3) Người đó sẽ hưởng phúc lành của Chúa và lượng từ bi của Chúa, Ðấng giải thoát họ. Ðấy là dòng dõi của những kẻ tìm Người, những kẻ tìm tôn nhan Thiên Chúa của Giacóp. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Ga 3, 1-3

"Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy".

Bài trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, các con hãy coi: Tình yêu của Thiên Chúa Cha đối với chúng ta thế nào, khiến chúng ta được gọi là con Thiên Chúa và thực sự là thế. Vì đó mà thế gian không nhận biết chúng ta, vì thế gian không biết Người. Các con thân mến, hiện nay, chúng ta là con Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ ra sao thì vẫn chưa được tỏ ra. Chúng ta biết rằng: khi được tỏ ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy. Và bất cứ ai đặt hy vọng nơi Người, thì tự thánh hoá mình cũng như Người là Ðấng Thánh.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Mc 11, 28

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các con". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 5, 1-12a

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. - Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. - Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. - Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. - Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. - Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. - Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. - Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.

"Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời".

Ðó là lời Chúa.





Chia sẻ Lời Chúa:

 

sự sống viên trọn


Hôm nay, Lễ Trọng Kính Các Thánh trên trời, Phụng Vụ Lời Chúa vì thế được Giáo Hội chọn đọc đều trực tiếp liên quan đến Các Thánh: Bài Đọc 1 liên quan tới số phận của các ngài, Bài Đáp Ca liên quan tới tinh thần của các ngài, Bài Đọc 2 liên quan tới vinh phúc của các ngài, và sau hết Bài Phúc Âm liên quan đến thánh đức của các ngài.

Bài Đọc 1 liên quan tới số phận của các ngài

Thật vậy, Sách Khải Huyền ở đoạn 7 đã cho chúng ta thấy số phận của Các Thánh nơi hình ảnh "đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: 'Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Ðấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên'... Rồi một trong các trưởng lão lên tiếng hỏi rằng: 'Những người mặc áo trắng này là ai vậy? Và họ từ đâu mà đến?' Tôi đáp lại rằng: 'Thưa ngài, hẳn ngài đã rõ'. Và người bảo tôi rằng: 'Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên'".

Phải, nếu NÊN THÁNH là nên giống Chúa Kitô, mà Chúa Kitô là một Đấng Thiên Sai Cứu Thế khổ nạn và tử giá, và nếu môn đệ không hơn Thày, đầy tớ không hơn chủ (xem Gioan 13:16), thì ai muốn theo Người, muốn làm môn đệ của Người không thể đi con đường nào khác ngoài con đường chính Người đã đi như một gương mẫu tối hậu cho họ. Càng nên giống Người càng phải khổ
. Càng khổ càng nên giống Người, đúng như dự án của Thiên Chúa: "Những ai Ngài biết trước thì Ngài cũng tiền định cho thông phần hình ảnh Con của Ngài" (Roma 8:29). Như thế, nếu Các Thánh là thành phần giống Chúa Kitô nhất thì các ngài phải là những con người đã "đi đến bất cứ nơi nào Con Chiên tới" (Khải Huyền 14:4): "Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên'". 

Bài Đáp Ca liên quan tới tinh thần của các ngài. 

Thế nhưng, để có thể "từ đau khổ lớn lao mà đến, giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên", "đi đến bất cứ nơi nào Con Chiên tới" như thế, Các Thánh, như Bài Đáp Ca cho thấy, cần phải "là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa, những kẻ tìm tôn nhan Thiên Chúa của Giacóp", thành phần "có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch, không để lòng xuôi theo sự giả trá".

Bài Đọc 2 liên quan tới vinh phúc của các ngài. 

Ngay từ khi lãnh nhận Phép Rửa, Kitô hữu đã là thánh, vì đã được trở nên dưỡng tử của Thiên Chúa, đã được thông phần vào bản tính vô cùng hoàn thiện của Thiên Chúa và sự sống thần linh vô cùng viên mãn của Ngài, một hiệp thông thần linh ngay khi còn ở trần gian này, và nhờ đó, sau này, như lời trong Bài Đọc 2 được trích từ Thư 1 của Thánh Gioan khẳng định: "
chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy".

Bài Phúc Âm liên quan đến thánh
 đức của các ngài.

Vẫn biết, nhờ Phép Rửa, Kitô hữu đã LÀ THÁNH, nhưng thực tế cho thấy bản tính vướng mắc nguyên tội của con người, cho dù đã được thanh tẩy, đã được tha khỏi nguyên tội, vẫn còn nguyên dấu vết và hậu quả của nguyên tội, chẳng những sống đời khổ đau và cùng đời chết đi, mà vẫn còn mầm mống tội lỗi là đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu trong mình nữa, khiến họ luôn hướng hạ và khuynh chiều về xác thịt, có thể sa ngã phạm tội bất cứ lúc nào, cần phải quyết liệt chiến đấu cho tới cùng, nhất là khi gặp gian nan khốn khó. 

Bởi thế, cho dù đã LÀ THÁNH, trong cuộc hành trình đức tin trên trần thế, đầy những cám dỗ và khổ đau, gây ra bởi xác thịt, thế gian và ma quỉ, Kitô hữu vẫn cần phải liên lỉ NÊN THÁNH nữa, bằng cách thắng vượt bản tính tự nhiên luôn tìm hưởng thụ đầy vị kỷ của mình, mà trung thành sống theo tác động thần linh của Thiên Chúa. Nhờ đó, họ mới có thể LÀM THÁNH đúng như ơn gọi LÀM Con Thiên Chúa và bản chất LÀ Con Thiên Chúa của họ, thành phần tác hành như Thiên Chúa là Cha của mình muốn, như Cha của mình tác hành: "trọn lành như Cha trên trời" (Mathêu 5:48), "thương xót như Cha thương xót" (Luca 6:36), và "yêu nhau như Thày đã yêu" (Gioan 13:34, 15:12). 

Bài Phúc Âm của Thánh ký cho Lễ Các Thánh hôm nay đã cho thấy thành phần LÀM THÁNH này, qua những tác động siêu nhiên, tác động thần linh, tác động trọn lành của họ, những tác động được gọi là thánh đức và được liệt kê thứ tự như sau:

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. 
Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. 
Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. 
Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. 
Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. 
Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. 
Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. 
Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.
Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời".

Thánh đức của các thành phần con cái Thiên Chúa, của những ai LÀM THÁNH như Các Thánh, đó là sống những tinh thần trọn lành sau đây:

"Nghèo khó": CÁC THÁNH là những vị trước hết không theo đam mê yêu thích và dính bén với bất cứ một người nào, một vật nào, một việc nào hay một sự gì trên thế gian này ngoài Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ duy nhất tối cao của các vị, là "Nước Trời" của các vị; dù mọi sự trên thế gian này cần thiết mấy chăng nữa, tốt lành mấy chăng nữa và ích lợi mấy chăng nữa, các vị cũng chỉ sử dụng chúng như phương tiện tạm bợ hơn là cùng đích của các vị
 
"Hiền lành": CÁC THÁNH là những vị không bao giờ tỏ thái độ khinh bỉ trần gian và ghét bỏ trần gian, như những tâm hồn mới bước vào đường nhân đức cảm thấy sốt sắng nhất thời mắc phải, hay như những tâm hồn là nạn nhân của thế gian nên quay ra thù hận ghét bỏ thế gian, trái lại, tinh thần nghèo khó siêu thoát còn làm cho các vị thanh thoát sử dụng tất cả mọi sự và  "hiền lành" đối xử với tất cả mọi sự đúng như giá trị của chúng, nên các vị chẳng những không mất chúng mà còn giữ được chúng như "được đất làm của mình vậy", ở chỗ các vị thánh hóa chúng bằng tinh thần khó nghèo siêu thoát của các vị.  
 
"Khóc lóc": CÁC THÁNH là những vị sống khổ chế theo tinh thần khó nghèo trọn lành, cho dù việc sống khổ chế của các vị có làm cho bản tính tự nhiên vốn xu hướng về hưởng thụ vị kỷ của các vị ban đầu trải qua những lúc cảm thấy tiếc xót; thế nhưng, cho dù lòng tham muốn tự nhiên có cảm thấy "đau buồn" hay "khóc lóc", như Dân Do Thái xưa trong sa mạc muốn quay về với củ hành củ tỏi Ai Cập, các vị vẫn cảm thấy một thứ "an ủi" khôn sánh trong tâm hồn.

"Đói khát sự công chính": CÁC THÁNH là những vị đói khát sự công chính hơn ai hết, vì các vị đã có được 3 phúc đức đầu trên đây trong Tám Mối Phúc Thật liên quan đến tinh thần từ bỏ tạo vật cũng như chính mình, đến độ các vị không "đói khát" hay mong ước gì hơn ngoài Nước Trời, ngoài "sự công chính", ngoài phần rỗi các linh hồn, đến độ cái làm cho các vị "no thỏa" nhất, mãn nguyện nhất, vui sướng nhất là được hy sinh và phục vụ tha nhân, nhất là những người anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô, theo khả năng và hoàn cảnh hết sức của các vị.
 
"Thương xót": CÁC THÁNH là những vị "thương xót" đồng loại hơn ai hết, nhất là những người anh chị em hèn mọn nhất của các vị về thể lý (nghèo khổ), về tâm lý (khù khờ), về tâm linh (dại dột), về luân lý (tội lỗi), về đạo lý (lầm lạc) v.v. Các vị cảm thấy những bất hạnh nơi anh chị em của mình như là của các vị, và vì thế các vị dám dấn thân hy sinh cho họ hết sức mình, đến độ, các vị trở thành đáng "thương xót" như Chúa Kitô khổ giá đáng thương hơn cả tội nhân.
 
"Có lòng thanh sạch": CÁC THÁNH là những vị được hiệp nhất nên một với Vị Thiên Chúa là Tình Yêu, bằng tấm "lòng thanh sạch", chẳng những ở chỗ các vị không hề quyến luyến và dính bén với bất cứ một sự gì trần tục thấp hèn trên thế gian này, mà còn ở chỗ, nhất là sau khi các vị trải qua đêm tối tăm thanh tẩy đức tin của các vị, các vị được Thánh Linh Chúa chiếm đoạt và làm chủ, nhờ đó các vị có được một con mắt hết sức tinh tường hơn ai hết trong việc "nhìn xem Thiên Chúa", tức là trong việc dễ dàng nhận biết ý Chúa muốn để đáp ứng một cách thích đáng.

n ở hòa thuận": CÁC THÁNH là những vị tràn đầy bình an của những người "con cái Thiên Chúa", không gì có thể cướp mất bình an Chúa Kitô ban cho các vị ở nơi tâm hồn của các vị, cho dù các vị có bị đau khổ thử thách, trái lại, chính nhờ tình trạng bình an sâu xa trong tâm hồn các vị ngay trong chính những biến loạn của cuộc đời như thế của các vị mà các vị luôn "ăn ở thuận hòa", không bao giờ có đối thủ, không bao giờ biết thù hằn oán ghét ai, trái lại, luôn tha thứ và nhẫn nại chịu đựng hết mọi phiền toái hay xúc phạm gây ra bởi những người anh chị em của các vị.
 
"Chịu bách hại vì lẽ công chính": CÁC THÁNH là những vị sống công chính, mà công chính như ánh sáng chiếu soi tăm tối nên các vị luôn trở thành mục tiêu chống đối và "bách hại" của quyền lực sự dữ, của thành phần bất chính, như lương tâm chân chính bao giờ cũng bị con người phàm tục đê hèn phản loạn và đàn áp, như các tiên tri loan báo những gì Thiên Chúa nhắc nhở đều bị dân Do Thái chống đối và sát hại, như chính Chúa Kitô bị dân Người phủ nhận và đóng đanh; nếu không một quyền lực sự dữ nào có thể triệt hạ được Đấng phục sinh từ trong kẻ chết, thì quyền lực bất khuất và bất diệt ấy cũng biến những bách hại của các vị trở thành hạt giống "Nước Trời". 


Chúa Nhật 31 Quanh Năm Năm B

(nếu không trùng với Lễ Các Thánh)

 

Bài Ðọc I: Ðnl 6, 2-6

"Hỡi Israel, hãy nghe đây: Ngươi hãy yêu mến Chúa hết lòng ngươi".

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Ông Môsê nói cùng dân chúng rằng: "Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài.

"Hỡi Israel, hãy nghe đây mà tuân hành các điều Chúa truyền dạy cho ngươi, thì ngươi được phần phúc và sinh sản ra nhiều hơn, như lời Chúa là Thiên Chúa tổ phụ ngươi đã hứa ban cho ngươi phần đất chảy sữa và mật.

"Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 17, 2-3a. 3bc-4. 47-51ab

Ðáp: Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa (c. 2).

Xướng: 1) Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa; lạy Chúa là đá tảng, chiến luỹ, cứu tinh. - Ðáp.

2) Lạy Chúa là Thiên Chúa, là sơn động chỗ con nương mình, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù con. Con xướng ca khen ngợi cầu cứu Chúa, và con sẽ được cứu thoát khỏi tay quân thù. - Ðáp.

3) Vạn tuế Thiên Chúa, chúc tụng Ðá Tảng của con, ngợi khen Thiên Chúa là Ðấng cứu độ con. Ngài đã ban cho đức vua được đại thắng, đã tỏ lòng từ bi với Ðấng được xức dầu của Ngài. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Dt 7, 23-28

"Vì lẽ Người tồn tại đời đời, nên Người có một chức tư tế hằng hữu".

Trích thư gởi cho tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, có nhiều người làm tư tế (của Giao Ước cũ), vì lẽ sự chết ngăn trở họ tồn tại lâu bền. Còn Ðức Kitô, vì lẽ Người tồn tại đời đời, nên Người có một chức tư tế hằng hữu. Bởi đó, Người có thể cứu độ cách vĩnh viễn những ai nhờ Người mà đến với Thiên Chúa, vì Người hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta.

Phải, vì chúng ta cần một vị Thượng tế thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời. Người không cần phải như các tư tế hằng ngày dâng lên của lễ trước là đền tội lỗi mình, sau là đền tội lỗi dân chúng, vì Người làm việc ấy chỉ có một lần khi hiến dâng chính mình. Vì Lề luật thì đặt những người yếu đuối làm tư tế, còn lời thề có sau Lề luật thì đặt Người Con hoàn hảo làm Thượng tế đến muôn đời.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Mt 4, 4b

Alleluia, alleluia! - Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 12, 28b-34

"Ðó là giới răn thứ nhất, còn giới răn thứ hai cũng giống như giới răn thứ nhất".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, có người trong nhóm luật sĩ tiến đến Chúa Giêsu và hỏi Người rằng: "Trong các giới răn điều nào trọng nhất?" Chúa Giêsu đáp:

"Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó".

Luật sĩ thưa Ngài: "Thưa Thầy, đúng lắm! Thầy dạy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là Chúa duy nhất và ngoài Người chẳng có Chúa nào khác nữa. Mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh".

Thấy người ấy tỏ ý kiến khôn ngoan, Chúa Giêsu bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu". Và không ai dám hỏi Người thêm điều gì nữa.

Ðó là lời Chúa.


Chia sẻ suy niệm

 

sự sống yêu thương 


Chủ đề sự sống của Mùa Phục Sinh vẫn tiếp tục được chất chứa trong Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XXXI Thường Niên Năm B hôm nay, liên quan đến giới răn cao trọng nhất.

Trước hết, trong bài Phúc Âm hôm nay, để trả lời cho hỏi của một "người trong nhóm luật sĩ": "Trong các giới răn điều nào trọng nhất?", Chúa Giêsu đáp: "Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó".

Câu trả lời của Chúa Giêsu, phần đầu, không phải chỉ lập lại hầu như nguyên văn lời huấn dụ của Moisen cho dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi", mà còn bao gồm cả giới răn yêu thương tha nhân như bản thân mình nữa.

Câu trả lời của Chúa Giêsu chí lý đến nỗi đã làm cho luật sĩ này không thể nào không công nhận và khen tặng, vì chắc đó cũng là những gì nhân vật thông luật này thâm tín và cố gắng giữ luật và dạy luật cho dân chúng như đúng tinh thần và cốt lõi của luật là yêu thương. 

"Thưa Thầy, đúng lắm! Thầy dạy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là Chúa duy nhất và ngoài Người chẳng có Chúa nào khác nữa. Mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh".
     Về phần mình, nếu câu trả lời của Chúa Giêsu đã làm cho vị luật sĩ khâm phục thế nào thì câu công nhận của vị luật sĩ sau đó cũng rất tâm đắc với Chúa Giêsu. Ở chỗ, nhân vật này chẳng những công nhận những gì Người nói là chí lý mà còn thêm một nhận định riêng đầy ý thức của mình nữa khi so sánh giá trị cao vượt của yêu thương "hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh".

Câu công nhận đầy cảm nghiệm của vị luật sĩ ấy đã hoàn toàn phản ảnh với những gì Chúa Giêsu đã quả quyết trong bữa ăn ở nhà của nhân viên thu thuế Levi được Người kêu gọi và trở lại theo Người, một bữa ăn trong số khách tham dự có cả những người biệt phái là thành phần đã kêu trách Chúa với các môn đệ của Người về hành động Người ngồi ăn uống với thành phần tội lỗi, những lời kêu trách hoàn toàn sai trái với cốt lõi của lề luật là tình thương: "Điều Ta mong muốn là lòng nhân lành chứ không phải lễ vật(Mathêu 9:11-13).

Đó là lý do, sau khi nghe câu trả lời công nhận đầy cảm nhận chính xác này của vị luật sĩ ấy, hơn hẳn hầu hết thành phần luật sĩ và biệt phái thông luật, giữ luật và dạy luật trong dân chúng, Chúa Giêsu đã không thể nào không lên tiếng khen ngợi và phấn khích con người "bày tỏ ý kiến khôn ngoan" ấy rằng: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu". Nghĩa là nhân vật này như thể đã thấy được tất cả sự thật nơi lề luật, như Moisen được thấy Đất Hứa từ đỉnh núi Nabo là nơi vị giải phóng dân Do Thái này chưa được đặt chân vào vậy (xem Dân Số 27:12).

Thật vậy, thâm tín được giới răn cao trọng nhất là kính mến Thiên Chúa hết mình và yêu thương tha nhân như mình là chuyện đã khó, nhưng áp dụng thực hành hai giới răn chính yếu và cao trọng nhất này nữa mới càng khó hơn. Có một số Kitô hữu Công giáo nói rằng mến Chúa thì dễ mà yêu người thì khó. 

Cảm nghiệm này của họ dường như chối bỏ hai nguyên tắc mến chúa thì phải yêu người mà yêu người thì phải phản ảnh tình Chúa yêu: 1- đã mến Chúa thì phải yêu người (xem 1Gioan 4:20-21), bởi thế nếu yêu người mà khó thì mến Chúa cũng khó, không thể nào lại dễ được; 2- muốn yêu người thì phải có tình yêu Thiên Chúa là Đấng đã yêu họ chứ không một ai có thể yêu người một cách trọn lành như chính Chúa đã yêu họ (xem Gioan 13:34, 15:12). 

Đó là lý do Thánh Phaolô Tông Đồ, trong thư gửi Giáo đoàn Do Thái ở Bài Đọc 2 hôm nay, ở câu kết, đã nhận định rằng: "Vì Lề luật thì đặt những người yếu đuối làm tư tế, còn lời thề có sau Lề luật thì đặt Người Con hoàn hảo làm Thượng tế đến muôn đời".

Được lãnh nhận Phép Rửa, Kitô hữu cũng được thông phần với vai trò vương đế, ngôn sứ và tư tế của Chúa Kitô: Vai trò vương đế của Kitô hữu là ở chỗ họ làm chủ mọi sự như Chúa Kitô Phục Sinh được toàn quyền trên trời dưới đất (xem Mathêu 28:19); vai trò ngôn sứ của họ là ở chỗ họ làm chứng nhân như Chúa Kitô và cho Chúa Kitô về tình yêu thương cứu độ của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô (xem Gioan 3:16); và vai trò tư tế của họ là ở chỗ họ thánh hóa tất cả mọi tạo vật và sự vật được trao phó cho họ hay họ tiếp xúc trong đời sống trần gian của họ.

Riêng vai trò tư tế của mình, cho dù họ tự bản chất là thành phần "những người yếu đuối làm tư tế", nhưng vai trò tư tế của họ được thông phần với Chúa Kitô là vị tư tế thượng phẩm, một vị thượng tế chẳng những là chủ tế mà còn chính là hy tế cứu độ cho phần rỗi của nhân loại nữa, hoàn toàn chỉ vì Người yêu thương nhân loại như Cha đã yêu Người (xem Gioan 17:23), nhờ đó họ cũng mới có thể yêu thương nhau như Người đã yêu thương họ. Và chỉ có đức ái trọn hảo nơi Kitô hữu sống trọn vẹn vai trò tư tế này mới thực sự "hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh" mà họ hằng ngày, với vai trò tư tế phổ quát hay thừa tác, hiến dâng trong phụng vụ Thánh Thể.

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa một cảm nhận sâu xa về thân phận yếu đuối của con người, một thân phận rất cần đến Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể giúp họ mến Chúa hết mình và nhất là yêu tha nhân như chính Ngài yêu họ:

1) Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa; lạy Chúa là đá tảng, chiến lũy, cứu tinh.

2) Lạy Chúa là Thiên Chúa, là sơn động chỗ con nương mình, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù con. Con xướng ca khen ngợi cầu cứu Chúa, và con sẽ được cứu thoát khỏi tay quân thù. 

3) Vạn tuế Thiên Chúa, chúc tụng Ðá Tảng của con, ngợi khen Thiên Chúa là Ðấng cứu độ con. Ngài đã ban cho đức vua được đại thắng, đã tỏ lòng từ bi với Ðấng được xức dầu của Ngài. 

 

Thứ Hai


Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Ðã Qua Ðời

Lễ Nhớ

Lễ Nhất

Bài Ðọc I: Rm 6, 3-9

"Chúng ta phải sống đời sống mới".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.

Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 5).

Hoặc đọc: Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con (c. 4a).

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. - Ðáp.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. - Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. - Ðáp.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. - Ðáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 11, 25-26

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 51-59

"Thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân Do-thái rằng: "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống". Vậy người Do-thái tranh luận với nhau rằng: "Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?"

Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời".

Ðó là lời Chúa.

 

Lễ Nhì

Bài Ðọc I: Kn 3, 1-9

"Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu".

Trích sách Khôn Ngoan.

Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Ðối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 24, 6-7bc. 17-18. 20-21

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa (c. 1b).

Hoặc đọc: Lạy Chúa, phàm ai trông cậy Chúa, ắt chẳng hổ ngươi (c. 3b).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa. - Ðáp.

2) Xin cho lòng con được nhẹ bớt lo âu, và giải thoát con khỏi cảnh ưu tư phiền muộn. Xin Chúa coi cảnh lầm than khốn khổ của con, và tha thứ hết mọi điều tội lỗi. - Ðáp.

3) Xin gìn giữ mạng sống con và giải thoát con, đừng để con bẽ bàng vì đã tìm nương tựa Chúa. Nguyện cho lòng con vô tội và trung thứ bảo vệ con, vì con trông cậy vào Ngài, thân lạy Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: 2 Tm 2, 11-12a

Alleluia, alleluia! - Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Kitô, thì chúng ta cùng sống với Người; nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 23, 33. 39-43

"Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng: "Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm". Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục người rằng: "Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa".

Ðối lại, tên kia mắng nó rằng: "Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu?" Và anh ta thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi". Chúa Giêsu đáp: "Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta".

Ðó là lời Chúa.

 

Lễ Ba

Bài Ðọc I: Rm 5, 5-11

"Chúng ta đã nên công chính trong Máu của Người, và nhờ Người chúng ta được cứu khỏi cơn thịnh nộ".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta. Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, họa chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người, và nhờ Người chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ. Bởi chưng nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, thì huống chi khi đã được giao hoà, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của chính Chúa Kitô. Và không những thế, chúng ta còn được vinh hiển trong Thiên Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người mà bây giờ chúng ta được lãnh ơn giao hoà.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 7 và 8b và 9a. 13-14

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).

Hoặc đọc: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh (c. 13).

Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? - Ðáp.

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, xin nghe con kêu cầu, xin thương xót và nhậm lời con. Và lạy Chúa, con tìm ra mắt Chúa. Xin Chúa đừng ẩn mặt xa con. - Ðáp.

4) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy trông đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và trông đợi Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 6, 39

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ý của Cha là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết Ta sẽ cho nó sống lại". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 17, 24-26

"Con muốn rằng Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, (Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng:) "Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian. Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con. Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa".

Ðó là lời Chúa.






Chia sẻ Suy Niệm:

sự sống chưa trọn


Giáo Hội cố ý đặt Lễ Các Đẳng (2/11) ngay sau Lễ Các Thánh (1/11) hằng năm như có ý nhấn mạnh đến mầu nhiệm các thánh thông công. 

Các Thánh là những vị đã được hưởng phúc trên thiên đàng, đã đạt đến cùng đích của mình, đã được hiệp thông thần linh viên mãn trong Thiên Chúa và với Thiên Chúa, còn Các Đẳng là những vị tuy đã được rỗi nhưng chưa hoàn toàn được hưởng vinh phúc như Các Thánh, chưa được hoàn toàn chiêm ngưỡng Thánh Nhan Thiên Chúa vô cùng uy nghi và toàn thiện, bởi hậu quả gây ra bởi tội lỗi của các vị khi còn sống trên trần gian này.

Các Đẳng ở dưới luyện ngục không phải để đền tội lỗi của mình cho bằng để đền bù những hậu quả do tội gây ra. Mà hậu quả do tội lỗi gây ra không phải chỉ là đau khổ và chết chóc như trên thế gian này khi con người còn sống, mà còn là và nhất là ở chỗ do tội lỗi họ phạm trên trần gian mà mối liên hệ giữa h và Thiên Chúa bị gián đoạn, bị hư hoại. Bởi thế, cái đau khổ nhất của các linh hồn trong luyện ngục là chưa được chiêm ngưỡng dung nhan Thiên Chúa, chưa được tận hưởng hiệp thông thần linh với Ngài là cùng đích của các vị.

Vấn đề được đặt ra ở đây là như thế thì chẳng lẽ ở đời sau, hay nói đúng hơn ở trong luyện ngục, (trừ thiên đàng và hỏa ngục), cũng có "thời gian" hay sao hay cũng còn "thời gian" hay sao? Vì các linh hồn ở đó "vẫn chưa" được hoàn toàn chiêm ngưỡng Thánh Nhan Thiên Chúa, nghĩa là "vẫn còn" trông đợi một "tương lai vĩnh phúc" sau khi họ đã chết và ra khỏi trần gian, ra khỏi phạm trù không gian và thời gian. 

Đúng thế, nếu xét về thứ không gian và thời gian theo thể lý của ngày tạo dựng thứ tư (xem Khởi Nguyên 1:14-19), mà bất cứ loài tạo vật hay sinh vật hữu hình nào ở trên trái đất này cũng bị chi phối và lệ thuộc, thì các linh hồn ở trong luyện ngục quả thực không còn "thời gian" nữa. 

Như thế, nói chung, đối với các sinh vật hữu hình sống trong thời gian và không gian, cách riêng với loài linh ư vạn vật là con người, thì quả thực "chết là hết" - "hết thời" hay "hết thời gian", chứ không phải chỉ là hiện tượng và tình trạng linh hồn ra khỏi thân xác, hay nói cách khác, chính vì "hết thời" mà linh hồn ra khỏi xác, mà con người ta lìa đời: "Mọi sự đều có thời của mình trên trần gian này... có thời sinh ra và có thời chết đi..." (xem Giảng Viên 3:2).

Chính vì thế mà bản thân của họ không còn thời gian, không còn cơ hội để lập công đền tội trong thân xác của họ nữa, cần phải có người nào còn sống trong thân xác ở trên trần gian này, nghĩa là còn sống trong thời gian để lập công đn tội thay cho họ. 

Thời gian ở trên trần gian này quí như vậy, qua đi không bao giờ trở lại nữa, mà con người ta đã lãng phí vào bao nhiêu là những gì chẳng đáng trên đời này, như thể không có đời sau, không có vĩnh cửu, trong khi đó họ vẫn sợ chết, nghĩa là vẫn muốn được sống mãi mãi, vẫn muốn được sống trường sinh bất tử. Vậy nếu họ tin có đời sau thì họ đang tìm gì ở trên đời này vậy?! Các Đẳng trong luyện ngục rất mong được có thời gian vô cùng quí báu như khi còn sống trên đời này mà chẳng bao giờ được nữa. Đã muộn rồi. Đã hết thời nơi họ rồi. 

Thế nhưng, cho dù không còn thời gian để tự lập công nữa, Các Đẳng vẫn có thể nhận công bởi những người còn thời gian, còn sống trên trần gian này, mà luyện ngục, ở một nghĩa nào đó, dường như vẫn còn liên hệ với thời gian, vẫn là một thực tại linh thiêng chưa tuyệt đối như thiên đàng hay hỏa ngục, vẫn còn có thể đổi thay, vẫn chưa viên mãn vì các linh hồn ở đó chưa đạt được cùng đích tối hậu của mình, vẫn còn mong đợi. 

Đó là lý do, như ngục tổ tông xưa là một thực tại linh thiêng vô hình để trông chờ Đấng Thiên Sai Cứu Chuộc Nhân Trần thế nào, cho đến khi "Người xuống ngục tổ tông" đưa các thánh lên mới không còn ngục tổ tông này nữa, thì cũng có thể nói luyện ngục là một thực tại linh thiêng vô hình chỉ tồn tại cho đến tận thế là thời điểm Chúa Kitô đến lần thứ hai, sau đó không bao giờ còn luyện ngục nữa. 

Cả lâm bô (limbo) là "nơi" chúng ta vẫn tin rằng vô thưởng vô phạt cho những linh hồn chết đi chưa kịp được nhận Phép Rửa tha nguyên tội mà cũng chưa kịp phạm bất cứ một cá tội nào cũng thế. Nếu Thiên Chúa dựng nên con người là để cho họ được hạnh phúc đời đời, được hiệp thông thần linh với Ngài trong cõi vĩnh phúc: "Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (Timôthêu 2:4), thì lâm bô không thể nào tồn tại đời đời, trái lại, chỉ có thể tồn tại cho đến khi Chúa Kitô đến lần thứ hai "để mang ơn cứu rỗi cho những ai thiết tha trông đời Người" (Do Thái 9:28). 

Mà các linh hồn ở trong lâm bô, cũng như trong luyện tội cho tới khi Chúa Kitô đến lần cuối cùng, như trường hợp của Amélia được Đức Mẹ trả lời cho em Lucia vào lần hiện ra thứ nhất ở Fatima ngày 13/5/1917 rằng "nó sẽ phải ở trong luyện tội cho tới tận thế", đều hết sức trông mong được tận hưởng vinh phúc trong tình trạng hiệp thông thần linh với Thiên Chúa là cùng đích của họ, thì phải kết luận là hai thực tại lâm bô và luyện ngục chỉ tồn tại tạm thời thôi.

(Về trường hợp của thiếu nữ mười tám đôi mươi Amélia này, lời Mẹ Maria nói đến số phận của cô phải ở trong luyện ngục cho tới tận thế, thì một là Mẹ ngầm báo rằng sắp sửa đến tận thế rồi đấy, bằng không biết cô thiếu nữ trẻ trung nhỏ tuổi quê mùa vào năm 1917 này đã phạm những tội gì mà bị phạt lâu dài đến thế? Nếu thế thì tội lỗi của con người ta vô cùng khủng khiếp ghê sợ chưa từng có hiện nay còn đáng bị trừng phạt khủng khiếp đến chừng nào ch)

Vậy nếu ngục tổ tông chỉ tồn tại cho tới khi Chúa Kitô đến trần gian lần thứ nhất và luyện ngục chỉ tồn tại cho đến khi Người đến thế gian lần thứ hai, cả lâm bô cũng thế, thì ba thực tại này chỉ là những thực tại linh thiêng tạm thời, một thực tại chuyển tiếp, một thực tại vẫn hướng về "thời gian viên trọn" (Galata 4:4) của Chúa Kitô, Đấng đã hoàn tất công cuộc cứu chuộc của Người bằng cuộc Vượt Qua của Người, nhưng qua Giáo Hội, Người vẫn tiếp tục công việc cứu chuộc của Người cho đến tận thế, bao gồm cả việc cứu những linh hồn ở trong luyện ngục cho khỏi hình phạt họ phải chịu nữa cũng như cứu các linh hồn ở trong lâm bô vô thưởng vô phạt cũng trông mong được đời đời cứu độ.

Đó là lý do, cho dù không tự mình lập công đền tội, các linh hồn trong luyện ngục vẫn có thể tiếp tục hưởng Ơn Toàn Xá cũng gọi là Ơn Đại Xá, ơn tha hết mọi hình phạt gây ra bởi tội lỗi, do một người nào đó hoàn tất có ý chỉ cho họ, nhờ công nghiệp vô cùng châu báu của Chúa Giêsu Kitô là những gì vẫn còn tác hiệu trong thời gian cho tới khi Người lại đến, nhờ đó họ lập tức được tha thứ hết mọi hình phạt bởi tội lỗi của họ gây ra mà được hiệp thông thần linh với Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần. 

Nếu nói rằng luyện ngục là "nơi" các linh hồn bị giam cầm để đền bù hậu quả của tội lỗi khi vấp phạm trên đời, thì luyện ngục là một "nơi" khổ chứ không sướng như thiên đường. Nhưng tình trạng "khổ" liên quan đến hình phạt ở trong luyện ngục đây không như ở trong hỏa ngục, vì tình trạng "khổ" ở luyện ngục chỉ tạm thời trong một "thời gian" chứ không vô cùng bất tận như trong hỏa ngục.

Tình trạng "khổ" ở trong luyện ngục là ở chỗ dù con người đã chết nhưng hồn thiêng bất tử của con người vẫn chưa đạt được cùng đích của mình là Thiên Chúa, nghĩa là chưa được hoàn toàn và trọn vẹn hiệp thông thần linh với Ngài. Và vì chưa đạt được cùng đích của mình nên linh hồn trong luyện ngục vẫn thao thức mong chờ cho tới khi được hoàn toàn mãn nguyện, nghĩa là được "lên" thiên đàng, được "vào nơi" muôn đời vinh phúc, hay nói đúng hơn, được "ở trong " hay được tham hưởng sự sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi và với Thiên Chúa Ba Ngôi.

Tuy chưa được hoàn toàn và trọn vẹn tham hưởng sự sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi và với Thiên Chúa Ba Ngôi, Các Đẳng trong luyện ngục cũng đã được cứu độ rồi, nghĩa là cũng được tham hưởng "một phần nào" sự sống thần linh của Thiên Chúa và với Thiên Chúa, tuy chưa hoàn toàn và trọn vẹn như Các Thánh ở trên trời, nghĩa là họ được tham hưởng sự sống thần linh này tùy theo mức độ tội trạng của họ trước kia, tức tùy theo tình trạng xa cách Thiên Chúa của họ gây ra bởi tội lỗi họ phạm khi còn sống trên trần gian, hay tùy theo mức độ liên hệ của họ với Ngài khi còn sống, cũng như tùy theo "thời gian" bao lâu họ đã ở trong luyện ngục, nhờ đó mỗi ngày họ càng gần Chúa hơn, càng hưởng Chúa hơn.

Nếu còn sống trên trần gian thành phần Kitô hữu đang hành trình đức tin chỉ thấy Thiên Chúa như qua tấm gương thì trên thiên đàng Các Thánh được thấy Thiên Chúa nhãn tiền, diện đối diện, một cách như Ngài là (xem 1Corinto 13:12), và nhờ đó Các Thánh được trở nên giống như Thiên Chúa, phản ảnh Thiên Chúa, như Bài Đọc 2 cho Lễ Các Thánh hôm qua cho biết: "hiện nay, chúng ta là con Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ ra sao thì vẫn chưa được tỏ ra. Chúng ta biết rằng: khi được tỏ ra thì chúng ta sẽ giống như Ngài, vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài là" (1Gioan 3:2).

Và như thế, Các Đẳng trong luyện ngục, nếu đã được cứu độ, tức nếu đã được hiệp thông thần linh với Thiên Chúa ở một mức độ nào đó, chưa hoàn toàn và trọn vẹn, thì Các Đẳng cũng đang ở trong tiến trình nên "giống như Ngài" và đang từ từ "sẽ thấy Ngài như Ngài là" cho đến "khi được tỏ ra", nghĩa là cho đến khi Thiên Chúa trở nên trọn vẹn nơi các vị "như Ngài là" mà khi còn sống trên thế gian họ còn thiếu sót trong việc nhận biết "Ngài như Ngài là"

Đó là lý do khi còn sống trên trần gian này, càng nhận biết Thiên Chúa bao nhiêu, ở chỗ càng hiệp nhất nên một với Ý Muốn của Ngài bằng đức tin tuân phc bao nhiêu cũng như bằng đức ái trọn hảo hiện thực hóa đức tin (xem Galata 5:6) bao nhiêu, thì càng được hoan hưởng Thiên Chúa nhanh bấy nhiêu và nhiều bấy nhiêu, như Các Thánh nói chung trên thiên đàng, nhất là như Mẹ Maria đầy ơn phúc, một đệ nhất tạo vật về ân sủng

Trường hợp của những linh hồn được lên thiên đàng ngay sau khi lãnh nhận Phép Rửa, dù là mới sinh hay người lớn, là những trường hợp đốt giai đoạn được hưởng Nước Trời nhanh nhất, như người trộm bị đóng đanh bên phải Chúa Kitô (xem Luca 23:40-43), nhưng không thể nào được hiệp thông thần linh với Thiên Chúa bằng Các Thánh hay như Mẹ Maria là những hạt giống sinh 30, 60 hay 100 (xem Mathêu 13:23).

Vấn đề được thông hiệp thần linh với Thiên Chúa trên thiên đàng nhiều hay ít hoàn toàn không phải là do con người khi còn sống trên gian này "lập công" nhiều hay ít, mà hoàn toàn do Công Nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, được con người chấp nhận khi lãnh nhận Phép Rửa, bằng nước hay máu hoặc lửa, và tiếp tục trung thành đáp ứng ơn cứu độ này cũng như cộng tác với ơn cứu độ này cho phần rỗi các linh hồn khác.

Trong khi các linh hồn ở lâm bô không thể chuyển cầu cho người thế, vì các linh hồn này không có "công" gì và đang ở trong tình trạng vô thưởng vô phạt, thì Các Đẳng ở trong luyện ngục, tùy theo mức độ "được tỏ ra" của Thiên Chúa nơi các vị, nghĩa là tùy theo mức độ các vị được hiệp thông thần linh với Ngài bao nhiêu và tới đâu, các vị cũng có thể xứng đáng chuyển cầu cho những ai còn sống trên trần gian, nhất là những ai nhớ đến các vị để giúp các vị mau chóng được hoàn toàn và trọn vẹn hiệp thông thần linh đời đời với Thiên Chúa trên thiên đàng như Các Thánh. 


Thứ Hai 

(Nếu không trùng với Lễ Các Đẳng)

 

Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 11, 29-36

"Thiên Chúa đã để mọi người phải giam hãm trong sự cứng lòng tin, để Chúa thương xót hết mọi người".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, Thiên Chúa ban ơn và kêu gọi ai, thì Người không hề hối tiếc. Như xưa anh em không tin Thiên Chúa, nhưng nay vì họ cứng lòng tin, nên anh em được thương xót, cũng thế, nay họ không tin, vì thấy Chúa thương xót anh em, để họ cũng được thương xót. Thiên Chúa đã để mọi người phải giam hãm trong sự cứng lòng tin, để Chúa thương xót hết mọi người.

Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa! Sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được! Vì chưng, nào ai biết được ý Chúa? Hoặc ai đã làm cố vấn cho Người? Hay ai đã cho Người trước để Người sẽ trả lại sau? Vì mọi sự đều do Người và trong Người: nguyện Người được vinh quang đến muôn đời. Amen.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 68, 30-31. 33-34. 36-37

Ðáp: Lạy Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương, xin nhậm lời con (c. 14cd).

Xướng: 1) Phần con, con đau khổ cơ hàn; lạy Chúa, xin gia ân phù trợ, bảo toàn thân con. Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng Ngài với bài tri ân. - Ðáp.

2) Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân của Người bị bắt cầm tù. - Ðáp.

3) Vì Thiên Chúa sẽ cứu độ Sion, Người sẽ tái thiết thành trì của Giuđa, tại đây người ta cư ngụ và chiếm quyền sở hữu. Con cháu của bầy tôi Chúa sẽ thừa hưởng đất này, và tại đây những người yêu danh Chúa sẽ định cư. - Ðáp.

 

Alleluia: Mt 11, 29ab

Alleluia, alleluia! - Các ngươi hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 14, 12-14

"Ông chớ mời các bạn hữu, nhưng hãy mời những người nghèo khó và tàn tật".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với thủ lãnh các người biệt phái đã mời Người rằng: "Khi ông dọn tiệc trưa hay tiệc tối, ông chớ mời các bạn hữu, anh em, bà con và những người láng giềng giàu có, kẻo chính họ sẽ mời lại ông mà trả ơn cho ông. Nhưng khi ông dọn tiệc, ông hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt và đui mù, thì ông sẽ được phúc, bởi họ không có gì đền ơn cho ông: vì chưng, khi những người công chính sống lại, ông sẽ được đền ơn".

Ðó là lời Chúa.


Chia sẻ suy niệm

 

sự sống bao gồm 

 

Bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần XXXI Thường Niên hôm nay là bài Phúc Âm tiếp theo hai bài Phúc Âm cuối tuần trước, vì cùng ở trong một bối cảnh của một bữa ăn diễn ra tại nhà của một trong những lãnh đạo viên của thành phần biệt phái.

Nếu trong bài Phúc Âm cho Thứ Bảy tuần vừa rồi huấn dụ của Chúa Giêsu liên quan đến thái độ của khách được mời đến dự tiệc, thì ở bài Phúc Âm hôm nay huấn dụ của Người liên quan đến người mời khách là chính vị gia chủ đã mời Người:

"Khi ấy, Chúa Giêsu nói với thủ lãnh các người biệt phái đã mời Người rằng: 'Khi ông dọn tiệc trưa hay tiệc tối, ông chớ mời các bạn hữu, anh em, bà con và những người láng giềng giàu có, kẻo chính họ sẽ mời lại ông mà trả ơn cho ông. Nhưng khi ông dọn tiệc, ông hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt và đui mù, thì ông sẽ được phúc, bởi họ không có gì đền ơn cho ông: vì chưng, khi những người công chính sống lại, ông sẽ được đền ơn'". 

 Ở đây chắc hẳn Chúa Giêsu không cố ý nói rằng chúng ta chẳng bao giờ mời thân nhân và thân hữu đến dự bữa khoản đãi của chúng ta nhân một dịp nào đó, như chúng ta theo khuynh hướng tự nhiên vẫn làm và luôn làm, mà chỉ khuyên chúng ta rằng dầu sao chúng ta cũng: 

1- Trước hết, đừng quên những con người xa lạ khác, nhất là những người anh chị em hèn mọn nhất trong xã hội đáng thương, cần thương yêu, ưu đãi và giúp đỡ hơn ai hết; 

2- Sau nữa, chúng ta có làm gì cho ai, dù cho người thân yêu hay xa lạ, chúng ta cũng đừng làm chỉ vì mình, ở chỗ để được đền đáp xứng đáng, hơn là chỉ vì yêu thương họ, cho dù họ "không có gì đền ơn".

Tại sao làm ơn hay yêu thương mà không cần đền ơn hay đáp trả như thế? - Ở cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã hướng thượng chúng ta về đời sau như thế này: "vì chưng, khi những người công chính sống lại, ông sẽ được đền ơn". 

Nghĩa là, theo tinh thần của lời Chúa này: 1- việc làm yêu thương bác ái không bao giờ qua đi, sẽ vĩnh viễn tồn tại (được ám chỉ ở chữ "sống lại"); 2- việc yêu thương trọn hảo mới làm cho con người nên "công chính"; 3- việc bác ái yêu thương mới làm cho con người phản ảnh Thiên Chúa (một tình trạng liên hệ với ý nghĩa "được đền ơn").

Chính Thiên Chúa đã làm gương cho chúng ta về việc mời khách dự tiệc Nước Trời do Ngài khoản đãi, ở chỗ, Ngài đã mời cả những người xa lạ "không tin Thiên Chúa", ngoài dân Do Thái là dân tộc đã được Ngài tuyển chọn giữa các dân nước trên trái đất này, như Thánh Phaolô Tông Đồ đã đề cập đến trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay: 

"Anh em thân mến, Thiên Chúa ban ơn và kêu gọi ai, thì Người không hề hối tiếc. Như xưa anh em không tin Thiên Chúa, nhưng nay vì họ cứng lòng tin, nên anh em được thương xót, cũng thế, nay họ không tin, vì thấy Chúa thương xót anh em, để họ cũng được thương xót. Thiên Chúa đã để mọi người phải giam hãm trong sự cứng lòng tin, để Chúa thương xót hết mọi người".

Huấn dụ Chúa Giêsu ngỏ cùng vị gia chủ mời Người dùng bữa tại nhà của ông trong bài Phúc Âm hôm nay quả thực phản ảnh ý nghĩ cùng đường lối siêu việt của Thiên Chúa, trái ngược lại với tâm thức tầm thường và hạn hẹp của con người trần gian, đến độ Thánh Phaolô đã phải chất ngất than lên trong cùng Bài Đọc 1 hôm nay rằng:

"Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa! Sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được! Vì chưng, nào ai biết được ý Chúa? Hoặc ai đã làm cố vấn cho Người? Hay ai đã cho Người trước để Người sẽ trả lại sau? Vì mọi sự đều do Người và trong Người: nguyện Người được vinh quang đến muôn đời. Amen". 

 Chính vì những huấn dụ Chúa Giêsu dạy là giáo huấn từ trời như thế, vô cùng chân thật và thiện hảo như thế mà ai áp dụng thực hành sẽ nên giống Chúa và đẹp lòng Ngài. Tuy nhiên, tự bản chất hèn yếu, con người khó lòng sống theo giáo huấn thần linh này của Chúa. Bởi thế mà họ cần phải có tâm tình và cảm nhận của Bài Đáp Ca hôm nay:

 1) Phần con, con đau khổ cơ hàn; lạy Chúa, xin gia ân phù trợ, bảo toàn thân con. Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng Ngài với bài tri ân. 

2) Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân của Người bị bắt cầm tù. 

3) Vì Thiên Chúa sẽ cứu độ Sion, Người sẽ tái thiết thành trì của Giuđa, tại đây người ta cư ngụ và chiếm quyền sở hữu. Con cháu của bầy tôi Chúa sẽ thừa hưởng đất này, và tại đây những người yêu danh Chúa sẽ định cư. 


 

Thứ Ba


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 12, 5-16

"Kẻ này là chi thể của người kia".

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.


Anh em thân mến, chúng ta tuy nhiều người, nhưng cũng chỉ là một thân thể trong Ðức Kitô, và tương quan với mỗi người, kẻ này là chi thể của người kia. Nhưng chúng ta được những ân huệ khác nhau tuỳ theo ân sủng đã ban cho chúng ta: nếu là ơn nói tiên tri, thì hãy xử dụng sao cho xứng đối với đức tin; nếu là chức phận giúp việc, thì hãy chuyên cần giúp việc; nếu là thầy dạy, hãy lo dạy dỗ; nếu là khuyên bảo, hãy lo khuyên bảo; nếu là người phân phát, hãy có lòng chân thành; nếu là người cai quản, hãy cần mẫn; nếu là kẻ thương giúp, hãy vui vẻ.

Ðức ái không được giả hình. Hãy chê ghét điều ác và trìu mến điều lành. Hãy thương yêu nhau trong tình bác ái huynh đệ: Hãy nhân nhượng tôn kính nhau. Hãy siêng năng, chớ biếng nhác: hãy sốt mến trong tâm thần và phụng sự Chúa. Hãy hân hoan trong niềm cậy trông, nhẫn nại trong gian truân và kiên tâm cầu nguyện. Hãy giúp đỡ các thánh khi họ thiếu thốn, và ân cần tiếp khách đỗ nhà. Hãy chúc phúc cho những kẻ bắt bớ anh em: Hãy chúc phúc, chứ đừng chúc dữ. Hãy vui mừng với kẻ vui mừng, và khóc lóc với kẻ khóc lóc. Hãy đồng tâm hiệp ý với nhau: đừng tự cao tự đại, một hãy ưa thích những sự hèn kém. Ðừng tự đắc cho mình là khôn.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 130, 1. 2. 3

Ðáp: Lạy Chúa, xin giữ linh hồn con trong bình an của Chúa.

Xướng: 1) Lạy Chúa, lòng con không tự đắc, và mắt con chẳng liếc nhìn cao, con cũng không lo nghĩ những việc lớn lao hay là những điều quá tầm trí mọn. - Ðáp.

2) Nhưng con lo giữ linh hồn cho thinh lặng và thanh thản. Như trẻ thơ sống trong lòng thân mẫu, linh hồn con cũng như thế ở trong con. - Ðáp.

3) Israel hãy cậy trông vào Chúa, tự bây giờ và cho tới muôn đời. - Ðáp.


Hoặc:

Ðáp Ca: Tv 21, 26b-27. 28-30a. 31-32

Ðáp: Lạy Chúa, bởi Chúa mà lời con ca ngợi vang lên trong Ðại hội (c. 26a).

Xướng: 1) Bởi Chúa mà lời con ca ngợi vang lên trong Ðại hội. Con sẽ làm trọn những lời khấn hứa của con, trước mặt những người tôn sợ Chúa. Bạn cơ bần sẽ ăn và được no nê, những kẻ tìm kiếm Chúa sẽ ca khen Chúa: "Tâm hồn các bạn hãy vui sống tới muôn đời". - Ðáp.

2) Thiên hạ sẽ ghi lòng và trở về với Chúa, khắp cùng bờ cõi địa cầu; và toàn thể bá tánh chư dân sẽ phủ phục trước thiên nhan Chúa. Bao người ngủ trong lòng đất sẽ tôn thờ duy một Chúa. - Ðáp.

3) Miêu duệ con sẽ phục vụ Ngài, sẽ tường thuật về Chúa cho thế hệ tương lai, và chúng kể cho dân hậu sinh biết đức công minh Chúa, rằng: "Ðiều đó Chúa đã làm". - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 147, 12a và 15a

Alleluia, alleluia! - Giêrusalem, hãy ngợi khen Chúa, Ðấng đã sai lời Người xuống cõi trần ai. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 14, 15-24

"Anh hãy ra ngoài đường ngoài ngõ, và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, một người đồng bàn thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Phúc cho kẻ sẽ được ăn tiệc trong nước Thiên Chúa". Người phán cùng kẻ ấy rằng: "Có một người kia dọn tiệc linh đình, và đã mời nhiều thực khách. Tới giờ dự tiệc, ông sai đầy tớ đi báo cho những kẻ được mời để họ đến, vì mọi sự đã dọn sẵn sàng rồi. Nhưng mọi người đồng thanh xin kiếu. Người thứ nhất nói với ông rằng: "Tôi mới tậu một thửa ruộng, tôi cần phải đi xem đất, nên xin ông cho tôi kiếu". Người thứ hai nói: "Tôi mới mua năm đôi bò, và tôi phải đi thử chúng, nên xin ông cho tôi kiếu". Người khác lại rằng: "Tôi mới cưới vợ, bởi đó tôi không thể đến được".

"Người đầy tớ trở về thuật lại những điều đó cho chủ mình. Bấy giờ chủ nhà liền nổi giận, bảo người đầy tớ rằng: "Anh hãy cấp tốc đi ra các công trường và các ngõ hẻm thành phố mà dẫn về đây những người hành khất, tàn tật, đui mù và què quặt". Người đầy tớ trở về trình rằng: "Thưa ông, lệnh ông ban đã được thi hành, thế mà hãy còn dư chỗ". Ông chủ lại bảo người đầy tớ rằng: "Anh hãy ra ngoài đường ngoài ngõ và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi. Vì tôi bảo cho các người biết: không một ai trong những kẻ đã được mời, sẽ được nếm bữa tiệc của tôi".

Ðó là lời Chúa.





Chia sẻ Lời Chúa:



                    sự sống chia s


m nay, Thứ Ba Tuần XXXI Thường Niên Quanh Năm, Thánh ký Luca thuật lại cho chúng ta trong Bài Phúc Âm của ngài về bữa tiệc mời và thái độ đáp ứng của khách được mời.


Chúng ta nên nhớ rằng, Bài Phúc Âm hôm nay tiếp theo Bài Phúc Âm hôm qua và 2 Bài Phúc Âm cuối tuần trước, những Bài Phúc Âm ở nửa đầu của Đoạn 14 này cho biết rằng Người đang tham dự bữa ăn ở nhà của một trong những người lãnh đạo nhóm biệt phái, một môi trường hiếm quí Người muốn lợi dụng để có thể tỏ mình ra cho riêng thành phần hầu như toàn biệt phái lúc ấy. 


Theo thứ tự của các Bài Phúc Âm này thì đầu tiên, ở Bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần trước, Người đã dạy cho thành phần thông luật, giữ luật và dạy luật một cách duy luật này về ý nghĩa nhân bản đích thực của bản chất luật, bằng cách chữa lành nạn nhân bị thủy thủng ngay trong ngày hưu lễ và tại nhà của gia chủ biệt phái. 


Sau đó, ở Bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước, Người dạy cho thành phần biệt phái ham danh đầy khoe khoang này về thái độ họ cần phải có khi họ được mời đến dự tiệc nơi công cộng, ở chỗ "hãy đi mà ngồi vào chỗ cuối cùng" ở chỗ sẵn sàng chấp nhận bất cứ chỗ nào đã ấn định cho mình, chứ không phải "hãy chọn chỗ cuối cùng mà ngồi", tức những gì theo ý riêng chủ quan đầy tham vọng của mình.


Rồi trong Bài Phúc Âm hôm qua, Thứ Hai, cũng liên quan đến bữa ăn, Người trực tiếp ngỏ cùng gia chủ biệt phái mời Người hôm ấy về tinh thần mà ông cần có trong việc mời mọc khách đến tham dự tiệc tùng do ông khoản đãi, ở chỗ, đặc biệt là mời những ai không thể nào đền đáp lại lòng tốt của ông.


Cũng lợi dụng bối cảnh của một bữa ăn hôm ấy và chẳng những theo tư cách là khách tham dự (như Bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần trước), mà còn theo tư cách của người đãi tiệc (như Bài Phúc Âm hôm qua), hôm nay, qua Bài Phúc Âm theo ngày, và lợi dụng câu hỏi của "một người đồng bàn thưa cùng Chúa Giêsu rằng: 'Phúc cho kẻ sẽ được ăn tiệc trong nước Thiên Chúa'", Người đã nói đến cả 2 vế: vế người đãi tiệc lẫn vế khách được mời.


Về vế người đãi tiệc, Bài Phúc Âm hôm nay cho biết Chúa Giêsu đã tiếp tục dùng dụ ngôn mà dạy như thế này: "Có một người kia dọn tiệc linh đình, và đã mời nhiều thực khách. Tới giờ dự tiệc, ông sai đầy tớ đi báo cho những kẻ được mời để họ đến, vì mọi sự đã dọn sẵn sàng rồi".


Về vế của khách được mời, Bài Phúc Âm cho biết phản ứng của "mọi người" trong họ, nại đủ những lý do riêng tư chính đáng của họ như sau: "Nhưng mọi người đồng thanh xin kiếu. Người thứ nhất nói với ông rằng: 'Tôi mới tậu một thửa ruộng, tôi cần phải đi xem đất, nên xin ông cho tôi kiếu'. Người thứ hai nói: 'Tôi mới mua năm đôi bò, và tôi phải đi thử chúng, nên xin ông cho tôi kiếu'. Người khác lại rằng: 'Tôi mới cưới vợ, bởi đó tôi không thể đến được'".


Trước thái độ có vẻ coi thường của khách được mời, của "mọi người", của tất cả mọi khách được vinh dự mời như thế, khiến cho bữa tiệc thịnh soạn của mình dọn ra chỉ để đãi khách như bị ế ẩm như thế, người đãi tiệc đã tỏ thái độ ra sao, Bài Phúc Âm hôm nay đã thuật lại như sau: 


"Người đầy tớ trở về thuật lại những điều đó cho chủ mình. Bấy giờ chủ nhà liền nổi giận, bảo người đầy tớ rằng: 'Anh hãy cấp tốc đi ra các công trường và các ngõ hẻm thành phố mà dẫn về đây những người hành khất, tàn tật, đui mù và què quặt'. Người đầy tớ trở về trình rằng: 'Thưa ông, lệnh ông ban đã được thi hành, thế mà hãy còn dư chỗ'. Ông chủ lại bảo người đầy tớ rằng: 'Anh hãy ra ngoài đường ngoài ngõ và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi. Vì tôi bảo cho các người biết: không một ai trong những kẻ đã được mời, sẽ được nếm bữa tiệc của tôi'".


Ở đây, trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về người đãi tiệc và khách được mời này có ít là hai điều cần chú ý, nhờ đó có thể biết được ẩn ý của dụ ngôn, nghĩa là biết được dụ ngôn này ám chỉ về ai, điều chú ý thứ nhất liên quan đến phía khách được mời và điều chú ý thứ hai liên quan đến phía người đãi tiệc.


Về phía khách được mời, dụ ngôn cho biết là "mọi người đồng thanh xin kiếu" và thành phần "mọi người" đây phải chăng ám chỉ chung dân do Thái, cho đến nay, họ vẫn từ chối tham dự bữa tiệc Nước Trời được Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ dọn ra cho họ và mời họ đầu tiên, bằng cách, cho đến nay họ vẫn chưa chấp nhận Giêsu Nazarét là Đấng Thiên Sai của họ?


Về phía người đãi tiệc, dụ ngôn cho thấy thái độ của người này tỏ ra trước phản ứng bất lợi của khách được mời, một thái độ rất tuyệt vời trong việc giải quyết theo chiều hướng biến dữ thành lành. Ở chỗ, người đãi tiệc này đã mời đủ mọi loại khách xa lạ khác đến tham dự thay chỗ cho đám khách quí thân quen trước đó, một thái độ được tỏ ra đúng như những gì Chúa Giêsu đã dạy cho gia chủ biệt phái trong bài Phúc Âm hôm qua trong việc mời khách thì mời thành phần không thể đáp trả. 


Đám khách xa lạ được mời đến sau để thay chỗ cho nhóm khách được mời đến trước nhưng từ chối đó là ai, nếu không phải là thành phần dân ngoại, thành phần, như Thánh Phaolô, Tông Đồ Dân Ngoại, đã nhận định trong Bài Đọc 1 Thứ Bảy tuần trước: "một phần dân Israel cứng lòng mãi cho đến khi toàn thể Dân ngoại nhập giáo, và bấy giờ toàn thể Israel cũng sẽ được cứu độ", cũng như trong Bài Đọc 1 Thứ Hai hôm qua: "Như xưa anh em không tin Thiên Chúa, nhưng nay vì họ cứng lòng tin nên anh em được thương xót, cũng thế, nay họ không tin, vì Thiên Chúa muốn tỏ lòng thương anh em mà họ cũng được xót thương".


Nghĩa là, theo dự án cứu độ của Thiên Chúa, Ngài muốn cứu độ tất cả mọi người (xem 1Timôthêu 2:4) chứ không riêng gì dân Do Thái hay chỉ có dân ngoại, mà là cả hai, theo đường lối khôn ngoan nhất của Ngài để nhờ đó Ngài có thể tỏ lòng thương tất cả mọi người (xem Roma 11:32), và cũng nhờ đó mọi người được Ngài cứu độ đều phải công nhận rằng ơn cứu độ của họ là do họ được Thiên Chúa thương mà thôi. 


Đó là lý do trong Bài Đọc 1 cho Năm Lẻ hôm nay, Thánh Phaolô đã viết cho Kitô hữu Rôma để khuyên họ hãy sử dụng ân huệ Chúa ban để phục vụ trong bác ái yêu thương và hiệp thông như trong một thân thể duy nhất của nhau và với nhau như sau:


"Anh em thân mến, chúng ta tuy nhiều người, nhưng cũng chỉ là một thân thể trong Ðức Kitô, và tương quan với mỗi người, kẻ này là chi thể của người kia. Nhưng chúng ta được những ân huệ khác nhau tùy theo ân sủng đã ban cho chúng ta: nếu là ơn nói tiên tri, thì hãy xử dụng sao cho xứng đối với đức tin; nếu là chức phận giúp việc, thì hãy chuyên cần giúp việc; nếu là thầy dạy, hãy lo dạy dỗ; nếu là khuyên bảo, hãy lo khuyên bảo; nếu là người phân phát, hãy có lòng chân thành; nếu là người cai quản, hãy cần mẫn; nếu là kẻ thương giúp, hãy vui vẻ... Hãy đồng tâm hiệp ý với nhau: đừng tự cao tự đại, một hãy ưa thích những sự hèn kém. Ðừng tự đắc cho mình là khôn".


Tinh thần của những lời Thánh Phaolô huấn dụ trong Bài Đọc 1 hôm nay được âm vang nơi tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:


1) Lạy Chúa, lòng con không tự đắc, và mắt con chẳng liếc nhìn cao, con cũng không lo nghĩ những việc lớn lao hay là những điều quá tầm trí mọn. 


2) Nhưng con lo giữ linh hồn cho thinh lặng và thanh thản. Như trẻ thơ sống trong lòng thân mẫu, linh hồn con cũng như thế ở trong con. 


3) Israel hãy cậy trông vào Chúa, tự bây giờ và cho tới muôn đời. 


 


Ngày 03: Thánh Martinô đệ Porrès, tu sĩ


Martinô là kết quả của một cuộc hôn nhân không chính thức, vì thế ngay từ nhỏ, ngài đã bị mang tiếng xấu là đứa con ngoại tình. Thuộc hàng nô lệ da đen, nhưng ngài chọn ngay sự xấu xa, hèn hạ này để tiến đức.

Năm 22 tuổi, Martinô vào dòng Ða Minh với tư cách người giúp việc. Nhưng Bề Trên nhà dòng thấy ngài có nhiều nhân đức nổi bật nên đã chọn làm trợ sĩ và đã được khấn trọn đời. Từ đó, ngài chuyên lo giúp đỡ người nghèo khó, ốm đau, nhất là hạng người nô lệ da đen. Ngài cũng giúp họ nhận biết rằng tất cả mọi người bình đẳng trước nhan thánh Người.

Martinô ngay từ nhỏ đã được nhiều ơn đặc biệt như nói tiên tri, làm phép lạ, ngất trí. Ðằng khác, ngài còn có trí thông minh khác thường.

Sau những ngày phục vụ Chúa qua những người sống chung quanh, ngài đã yên nghỉ trong Chúa. 

Năm 1836, Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô XVI đã phong ngài hàng Chân Phước và Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII tôn lên bậc Hiển Thánh năm 1962.





Thứ Tư


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 13, 8-10

"Yêu thương là chu toàn trọn cả luật".

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.


Anh em thân mến, anh em chớ mắc nợ ai ngoài việc phải yêu mến nhau. Vì ai yêu người, thì đã giữ trọn Lề luật. Ðó là: Chớ ngoại tình, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ mê tham, và nếu có điều luật nào khác, thì cũng tóm lại trong lời này là: Ngươi hãy yêu mến kẻ khác như chính mình. Lòng yêu thương không làm hại kẻ khác. Vậy yêu thương là chu toàn cả lề luật.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 111, 1-2. 4-5. 9

Ðáp: Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay (c. 5a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Phúc đức thay người tôn sợ Chúa, người hết lòng ham mộ luật pháp của Ngài. Con cháu người sẽ hùng cường trong đất nước: thiên hạ sẽ chúc phúc cho dòng dõi hiền nhân. - Ðáp.

2) Trong u tối người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay, người nhân hậu, từ bi và công chính. Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình. - Ðáp.

3) Người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, lòng quảng đại của người muôn đời còn mãi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang. - Ðáp.

 

Alleluia: x. Cv 16, 14b

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy mở lòng chúng con, để chúng con nghe lời của Con Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 14, 25-33

"Ai không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu, Người ngoảnh lại bảo họ rằng: "Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta. Và có ai trong các ngươi muốn xây tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không, kẻo đặt móng rồi mà không thể hoàn tất, thì mọi người xem thấy sẽ chế diễu người đó rằng: "Tên này khởi sự xây cất mà không hoàn thành nổi".

"Hoặc có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên không ngồi suy nghĩ xem mình có thể đem mười ngàn quân ra đương đầu với đối phương dẫn hai mươi ngàn quân tiến đánh mình chăng? Bằng chẳng nổi, thì khi đối phương còn ở xa, vua ấy sai một phái đoàn đến cầu hoà. Cũng thế, bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta".

Ðó là lời Chúa.

 




Chia sẻ Lời Chúa:


 

sự sống nợ nần


i Phúc Âm cho Thứ Tư Tuần XXXI Thường Niên hôm nay tiếp theo Bài Phúc Âm hôm qua, nhưng hoàn toàn với một bối cảnh khác, không còn ở trong bữa ăn tại nhà của một trong nhũng người lãnh đạo của thành phần biệt phái nữa, mà là đã xong bữa ăn ấy và đang thực hiện một cuộc hành trình, tiếp tục tiến về Giêrusalem, một cuộc hành trình đến một đích điểm chất chứa một ý nghĩa cần phải được Chúa Giêsu khẳng định và cảnh giác cho rất ư là nhiều người đang hào hứng đồng hành với Người bấy giờ, như Bài Phúc Âm thuật lại như sau:


"Khi ấy, có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu, Người ngoảnh lại bảo họ rằng: "Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta". 


Ở đây, Chúa Giêsu chẳng những khẳng định và cảnh giác những ai theo Người lên Giêrusalem, một số người đông thật là đông, số người đồng hành với Người ấy không biết có phải vì đã xem thấy đầy những phép lạ Người làm, nghe những lời Người giảng vô cùng khôn ngoan xuất chúng, nên tưởng rằng theo Người đến giáo đô Giêrusalem là thủ phủ của Do Thái giáo họ sẽ được vinh dự một cách nào đó trước mặt dân chúng bởi họ thuộc về nhóm của Người hay chăng, Người còn cho họ biết rằng họ cần phải lượng sức mình kẻo bị thất vọng, như Người đã khuyên họ ngay sau khi cảnh giác họ về thân phận của những ai muốn theo Người cần phải từ bỏ và vác thập giá trên đây:


"Có ai trong các ngươi muốn xây tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không, kẻo đặt móng rồi mà không thể hoàn tất, thì mọi người xem thấy sẽ chế diễu người đó rằng: 'Tên này khởi sự xây cất mà không hoàn thành nổi'. Hoặc có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên không ngồi suy nghĩ xem mình có thể đem mười ngàn quân ra đương đầu với đối phương dẫn hai mươi ngàn quân tiến đánh mình chăng? Bằng chẳng nổi, thì khi đối phương còn ở xa, vua ấy sai một phái đoàn đến cầu hoà. Cũng thế, bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta".


Trong khi đó, Bài Đọc 1 cho Năm Lẻ hôm nay, Thánh Phaolô Tông Đồ lại khuyên Kitô hữu Rôma những gì dường như không có liên hệ chi tới nội dung của Bài Phúc Âm hôm nay, nguyên văn toàn bài như sau:


"Anh em thân mến, anh em chớ mắc nợ ai ngoài việc phải yêu mến nhau. Vì ai yêu người, thì đã giữ trọn Lề luật. Ðó là: Chớ ngoại tình, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ mê tham, và nếu có điều luật nào khác, thì cũng tóm lại trong lời này là: Ngươi hãy yêu mến kẻ khác như chính mình. Lòng yêu thương không làm hại kẻ khác. Vậy yêu thương là chu toàn cả lề luật".


Tại sao theo Chúa Kitô cần phải bỏ mình và vác thập giá, nếu không phải vì Người là Đấng "đến không phải để được phục vụ mà là phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mathêu 20:28)? Nghĩa là ai muốn theo Người không thể nào không phục vụ, mà phải phục vụ hết mình, phục vụ đến sẵn sàng thí mạng sống mình cho tha nhân như Người, và vì thế nếu không từ bỏ chính bản thân mình, đến độ còn có thể sẵn sàng chịu tất cả mọi gian nan khốn khó cho đến cùng vì phần rỗi của tha nhân nữa, không thể nào theo Người được


Đó là ý nghĩa của lời Thánh Phaolô huấn dụ ở ngay đầu bài Đọc 1 hôm nay: "anh em chớ mắc nợ ai ngoài việc phải yêu mến nhau". Tại sao chúng ta lại mắc nợ nhau đức bác ái, lại phải yêu thương nhau? Nếu không phải tại vì chúng ta được Thiên Chúa nhưng không yêu thương đến ban Con Một của Ngài để cứu độ chúng ta (xem Gioan 3:16), thậm chí đã không dung tha cho Con Ngài để công chính hóa chúng ta (xem Rôma 8:32)! 


Và vì thế chúng ta cần phải "yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con" (Gioan 13:34,15:12). Chúng ta nợ tình với Thiên Chúa, một món nợ tình của Vị Thiên Chúa vô cùng không thể nào chúng ta là tạo vật có thể đền đáp cho chính Ngài, có thể đáp trả một cách tương xứng, nhưng chúng ta vẫn có thể đền đáp Ngài nơi chính tha nhân nói chung, nhất là những người anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô (xem Mathêu 25:40,45). Trong Kinh Lạy Cha Chúa Giêsu cũng đã dạy các môn đệ của Người thực hành nguyên tắc trả nợ sòng phẳng này với Thiên Chúa qua tha nhân qua câu nguyện: "Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" (Mathêu 6:12).


Bài Đáp Ca hôm nay cũng chất chứa tâm tình của Bài Đọc 1 về đức bác ái yêu thương tha nhân của "người tôn sợ Chúa" như sau: 


1) Phúc đức thay người tôn sợ Chúa, người hết lòng ham mộ luật pháp của Ngài. Con cháu người sẽ hùng cường trong đất nước: thiên hạ sẽ chúc phúc cho dòng dõi hiền nhân. 


2) Trong u tối người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay, người nhân hậu, từ bi và công chính. Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình. 


3) Người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, lòng quảng đại của người muôn đời còn mãi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang. 

 


Ngày 04: Thánh Carôlô Borrômêô, tổng giám mục Milan


Thánh Carôlô sinh ngày 02/10/1538 tại Milan, nước Ý, thuộc Borrômêô. Năm 12 tuổi dâng mình cho Chúa và sau đó gia nhập hàng giáo sĩ. Năm 21 tuổi đỗ tiến sĩ giáo luật và dân luật. Năm1560, ngài lại được Ðức Giáo Hoàng triệu về La Mã và được phong làm Hồng Y quốc vụ khanh giáo triều, kiêm nhiệm Tổng Giám Mục thành Milan.

Ngài đã có công rất lớn trong việc điều hành công đồng Tridentinô. Thời đó bệnh dịch lan tràn khắp thành Milan, ngài đã bán hết tài sản để cứu trợ kẻ nghèo. Ngài đích thân thăm viếng những người mắc bệnh, an ủi và ban các bí tích cho họ. Ngài còn viết nhiều sách có giá trị đặc biệt về mục vụ của các Giám Mục và việc dạy giáo lý của các cha sở. Ngài đã lập một dòng riêng cho địa phận mang tên thánh Ambrôsiô. Ngài cũng xây cất nhiều cơ sở giáo dục Công Giáo và Chủng Viện. Trong bất cứ công việc gì, ngài chỉ nhắm một mục đích phụng sự thánh ý Chúa.

Ngày 03/11/1584, ngài từ trần tại Milan trong khi đang quên mình phục vụ cho các nạn nhân đói rách bệnh tật, hưởng thọ 47 tuổi. Ðức Giáo Hoàng Phaolô V đã phong ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1610.



​​



Thứ Năm


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 14, 7-12

"Dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa".

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, không ai trong anh em được sống cho mình, và cũng không ai chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa.

Vì lẽ ấy, nếu Ðức Kitô đã chết và sống lại, là để cai trị kẻ sống và kẻ chết. Còn ngươi, việc gì mà đoán xét anh em ngươi? Và ngươi, tại sao ngươi khinh miệt anh em ngươi? Vì tất cả chúng ta đều sẽ phải ra trước toà án của Ðức Kitô, bởi có lời chép: "Chúa phán rằng: Ta thề trên sự sống Ta, mọi đầu gối sẽ phải quỳ lạy Ta, và mọi miệng lưỡi sẽ ngợi khen Thiên Chúa".

Vì vậy, mỗi người chúng ta sẽ phải trả lẽ về chính mình với Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14

Ðáp: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh (c. 13).

Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? - Ðáp.

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. - Ðáp.

3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa! - Ðáp.

 

Alleluia: 2 Cr 5, 19

Alleluia, alleluia! - Thiên Chúa ở trong Ðức Kitô đã giải hoà thế gian, để chúng ta nghe lời của Con Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 15, 1-10

"Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: "Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!" Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.

"Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: "Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất". Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Ðó là lời Chúa.






Chia sẻ Lời Chúa:


sự sống thất lạc



Thứ Năm Tuần XXXI Thường Niên hôm nay Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca bắt đầu 10 câu đầu của đoạn 15, một đoạn từ đầu đến cuối hoàn toàn về Lòng Thương Xót Chúa, bao gồm 3 dụ ngôn, 2 ngắn đầu và 1 dài cuối.


Sở dĩ Chúa Giêsu phải nói đến 3 dụ ngôn về Lòng Thương Xót Chúa ấy, là vì, như đầu Bài Phúc Âm hôm nay cho biết: "Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: 'Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng'". 


Để đáp lại thái độ có vẻ kỳ thị và khinh người của nhóm biệt phái tự cho mình là công chính bấy giờ, Chúa Giêsu đã cho họ biết đâu là tinh thần họ phải có đối với tội nhân, đối với thành phần bị họ cho là "những kẻ tội lỗi", bằng 3 dụ ngôn về Lòng Thương Xót Chúa liền. Và Hai dụ ngôn ngắn về Lòng Thương Xót Chúa trong Bài Phúc Âm hôm nay ấy như sau:


"Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: 'Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!' Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải".


"Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: 'Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất'. Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".


Hai dụ ngôn trên đây, một dụ ngôn về con chiên lạc, đúng hơn về việc tìm kiếm con chiên lạc, và dụ ngôn về đồng bạc bị thất lạc, đúng hơn về việc tìm kiếm đồng bạc bị thất lạcđều cho thấy Lòng Thương Xót Chúa yêu thương và lưu ý đền từng người, yêu thương cho tới cùng, hoàn toàn không bỏ mất một ai, không bỏ mất một sự gì, dù nhỏ mọn mấy chăng nữa. 


Hơn thế nữa, cả hai dụ ngôn này thậm chí còn cho thấy thái độ của các vị chủ nhân sau khi tìm thấy con chiên lạc hay đồng bạc bị mất nữa, ở chỗ các vị chẳng những không trút cơn giận dữ xuống trên đầu trên cổ con chiên lạc hay đồng bạc bị mất là những gì làm cho các vị chủ nhân của chúng đã mất giờ tìm kiếm và hết sức vất vả kiếm tìm, trái lại, cả hai còn tỏ ra hết sức hân hoan vui sướng nữa


"Khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: 'Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!'... khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: 'Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất'".


Nếu "trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải", thì dụ ngôn về nhân vật tìm kiếm con chiên lạc đây ám chỉ chính Vị Thiên Chúa đã hóa thân làm người nơi Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã "đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại" (Luca 19:10) bằng mầu nhiệm nhập thể và vượt qua của Người. 


Và con chiên lạc và đồng bạc thất lạc đây ám chỉ chẳng những chung loài người sa ngã phạm tội (99 con chiên không lạc được bỏ lại một nơi để đi tìm con chiên lạc có thể hiểu là ám chỉ các thiên thần vì liên quan đến hình ảnh "trên trời sẽ vui mừng... " sau khi con chiên lạc được tìm thấy, hay "các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng..." sau khi kiếm được đồng bạc thất lạc)mà còn ám chỉ đến từng cá nhân ("một người tội lỗi hối cải" được lập lại 2 lần như nhau ở cuối 2 dụ ngônvướng mắc nguyên tội luôn chiều theo xác thịt, thế gian và ma quỉ. 


Nếu Chúa Kitô là hiện thân đích thực và sống động của Lòng Thương Xót Chúa và cho Lòng Thương Xót Chúa nhập thể giáng sinh và khổ giá phục sinh là để mang ơn cứu độ và sự sống thần linh cho chung nhân loại cũng như cho riêng từ người, thì ai đã được Người cứu độ nhờ Phép Rửa đều phải quan tâm đến phần rỗi của nhau, phải sống chết cho phần rỗi của nhau, như Chúa Kitô đã đối xử với họ, bằng không, chính phần rỗi của riêng mình cũng chưa chắc được bảo đảm, vì chúng ta đã tỏ ra coi thường ơn cứu độ vô giá nơi anh chị em mình. Đó là lý do Thánh Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã khuyên Kitô hữu Rôma trong Bài Đọc 1 cho Năm Lẻ hôm nay như sau:


"Anh em thân mến, không ai trong anh em được sống cho mình, và cũng không ai chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. Vì lẽ ấy, nếu Ðức Kitô đã chết và sống lại, là để cai trị kẻ sống và kẻ chết. Còn ngươi, việc gì mà đoán xét anh em ngươi? Và ngươi, tại sao ngươi khinh miệt anh em ngươi? Vì tất cả chúng ta đều sẽ phải ra trước toà án của Ðức Kitô, bởi có lời chép: 'Chúa phán rằng: Ta thề trên sự sống Ta, mọi đầu gối sẽ phải quỳ lạy Ta, và mọi miệng lưỡi sẽ ngợi khen Thiên Chúa'. Vì vậy, mỗi người chúng ta sẽ phải trả lẽ về chính mình với Thiên Chúa".


Thành phần tội nhân được tiêu biểu nơi con chiên lạc và đồng bạc thất lạc trong Bài Phúc Âm hôm nay, trước tình yêu vô cùng nhân hậu của Vị Thiên Chúa là Cha trọn lành và thương xót ở trên trời, cần phải có cảm thức và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:


1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? 


2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. 


3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa! 

 


Thứ Sáu


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 15, 14-21

"Tôi là người giúp việc của Ðức Giêsu Kitô nơi các người Dân ngoại để của lễ Dân ngoại được Chúa chấp nhận".

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, phần tôi, tôi tin chắc rằng anh em có đầy thiện cảm, và đầy mọi sự hiểu biết, cho nên anh em có thể khuyên bảo lẫn nhau. Nhưng tôi đã viết thư này cho anh em có phần khá bạo dạn, có ý nhắc nhủ anh em nhớ lại: nhờ ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi trở nên người giúp việc của Ðức Giêsu Kitô nơi các Dân ngoại, gánh lấy thiên chức rao giảng Tin Mừng, ngõ hầu của lễ Dân ngoại được chấp nhận và được thánh hoá trong Thánh Thần.

Bởi vậy trong Ðức Giêsu Kitô, tôi có thể tự hào trước mặt Thiên Chúa. Vì chưng tôi không dám nói điều gì ngoài việc Ðức Kitô dùng tôi làm cho dân ngoại vâng phục, bằng ngôn ngữ cũng như bằng hành động, nhờ những phép lạ, những việc phi thường và quyền lực của Thánh Thần. Bởi thế, từ Giêrusalem và miền chung quanh cho đến Illyricô, tôi đã rao giảng đầy đủ Tin Mừng của Ðức Kitô.

Như thế, tôi đã rao giảng Tin Mừng này, không phải ở những nơi đã kêu cầu danh Ðức Kitô, để tránh khỏi xây dựng trên nền móng kẻ khác đã đặt, nhưng tôi hành động như lời đã chép: "Những ai chưa hề nghe loan báo về Người, thì sẽ xem thấy Người; và những ai chưa hề nghe nói về Người, thì sẽ hiểu biết Người".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4

Ðáp: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người trước mặt chư dân (x. c. 2b).

Xướng: 1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. - Ðáp.

2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người, trước mặt chư dân, Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành, để sủng ái nhà Israel. - Ðáp.

3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca. - Ðáp.

 

Alleluia: Pl 2, 15-16

Alleluia, alleluia! - Anh em hãy tích trữ lời ban sự sống, anh em hãy chiếu sáng như những vì sao ở giữa thế gian. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 16, 1-8

"Con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn khéo hơn con cái sự sáng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Một người phú hộ kia có một người quản lý; và người này bị tố cáo đã phung phí của chủ. Ông chủ gọi người quản lý đến và bảo rằng: "Tôi nghe nói anh sao đó. Anh hãy tính sổ công việc quản lý của anh, vì từ nay anh không thể làm quản lý nữa". Người quản lý thầm nghĩ rằng: "Tôi phải làm thế nào, vì chủ tôi cất chức quản lý của tôi? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Tôi biết phải liệu thế nào để khi mất chức quản lý thì sẽ có người đón tiếp tôi về nhà họ".

"Vậy anh gọi từng con nợ của chủ đến và hỏi người thứ nhất rằng: "Anh mắc nợ chủ tôi bao nhiêu?" Người ấy đáp: "Một trăm thùng dầu". Anh bảo người ấy rằng: "Anh hãy lấy văn tự, ngồi xuống mau mà viết lại năm mươi". Rồi anh hỏi người khác rằng: "Còn anh, anh mắc nợ bao nhiêu?" Người ấy đáp: "Một trăm giạ lúa miến". Anh bảo người ấy rằng: "Anh hãy lấy văn tự mà viết lại: tám mươi".

"Và chủ khen người quản lý bất lương đó đã hành động cách khôn khéo: vì con cái đời này, khi đối xử với đồng loại, thì khôn khéo hơn con cái sự sáng".

Ðó là lời Chúa.





Chia sẻ Lời Chúa:


                                                                                                        sự sống khôn khéo


Hôm nay, Thứ Sáu Tuần XXXI Thường Niên, Bài Phúc Âm không tiếp ngay sau Bài Phúc Âm hôm qua là bài Phúc Âm về việc tìm kiếm con chiên lạc và đồng bạc bị thất lạc. 


Sau 2 dụ ngôn này là dụ ngôn về người cha nhân lành thương 2 người con đáng thương của mình tùy theo hoàn cảnh của mỗi đứa, nhưng lại không được Giáo Hội chọn đọc, mà lại chọn đọc Bài Phúc Âm ở đầu Đoạn 16 về người quản lý bất lương bị chủ báo cho nghỉ việc nên đang mưu toan tìm cách sống còn. 


Người quản lý bất lương bị chủ báo cho nghỉ việc: "Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: 'Một người phú hộ kia có một người quản lý; và người này bị tố cáo đã phung phí của chủ. Ông chủ gọi người quản lý đến và bảo rằng: Tôi nghe nói anh sao đó. Anh hãy tính sổ công việc quản lý của anh, vì từ nay anh không thể làm quản lý nữa'". 


Người quản lý bất lương đang mưu toan tìm cách sống còn: "Người quản lý thầm nghĩ rằng: 'Tôi phải làm thế nào, vì chủ tôi cất chức quản lý của tôi? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Tôi biết phải liệu thế nào để khi mất chức quản lý thì sẽ có người đón tiếp tôi về nhà họ'. Vậy anh gọi từng con nợ của chủ đến và hỏi người thứ nhất rằng: 'Anh mắc nợ chủ tôi bao nhiêu?' Người ấy đáp: 'Một trăm thùng dầu'. Anh bảo người ấy rằng: 'Anh hãy lấy văn tự, ngồi xuống mau mà viết lại năm mươi'. Rồi anh hỏi người khác rằng: 'Còn anh, anh mắc nợ bao nhiêu?' Người ấy đáp: 'Một trăm giạ lúa miến'. Anh bảo người ấy rằng: 'Anh hãy lấy văn tự mà viết lại: tám mươi'".


Mục đích của dụ ngôn này là gì, hay Chúa Giêsu muốn nói đến dụ ngôn này để làm gì, nếu không phải Người muốn khuyên "các môn đệ" là đối tượng được Người nói với trong bài Phúc Âm hôm nay, như câu Người kết luận cũng trong cùng Bài Phúc Âm rằng các vị là "con cái ánh sáng" thì ngây thơ khù khờ, cần phải "hành động cách khôn khéo... khi đối xử với đồng loại" như "con cái đời này" vậy!

 


"Người quản lý bất lương" này "khôn khéo" ở chỗ nào, nếu không phải ở chỗ anh ta chẳng những đánh lừa được chủ nợi mà cả con nợ của chủ nợ nữa. Bằng cách, anh ta đã biến các con nợ của chủ thành con nợ của mình, khi tự động giảm nợ cho các con nợ số nợ của họ với chủ nợ. 

Có thể các con nợ cũng biết rằng người quản lý này gian lận ở việc anh ta giảm nợ cho họ, nhưng dầu sao cũng vẫn có lợi cho họ thì họ vẫn cứ hướng chứ dại gì mà vạch trần việc làm gian lận của anh ta làm chi với chủ của anh ta, hoàn toàn không hề biết gì đến tình trạng sắp bị thất nghiệp của anh ta, một con người quen làm nghề quản lý, chứ không quen làm việc tay chân mệt nhọc phần xác hay chẳng làm gì mà vẫn có tiền như ngồi ăn xin xấu hổ mất mặt. 

Thế nhưng, cho tới khi anh ta bị thất nghiệp, đi lang thang kiếm sống, ghé vào các nhà con nợ đã được anh ta giảm nợ cho để xin giúp đỡ, thì chẳng lẽ những người ấy lại phũ phàng từ chối xua đuổi anh ta hay sao? Bấy giờ cho dù họ mới biết bị anh ta lừa đảo song đã muộn và không thể không giúp anh ta cách nào đó, không nhiều thì ít, không trước thì sau, miễn là đừng hoài hoài mãi mãi. 

Chắc chủ nợ của anh ta có nhiều con nợ đã đưoọc anh ta lạm dụng ban ơn giảm nợ cho, nên anh ta cứ tháng này đến nhà người này, tháng sau đến nhà người khác gõ cửa, và anh ta ăn xin một cách ngon lành, không xấu hổ, vì anh ta là ân nhân của các con nợ từ người chủ đã sa thải anh ta. Thật là "khôn khéo", đúng như người chủ nhận xét về anh ta ở cuối bài Phúc Âm hôm nay.   

 

 

Như thế phải chăng Chúa Giêsu đã chấp nhận cái khôn lanh trần gian có vẻ gian dối lừa đảo của người quản lý bất lương trong dụ ngôn là tốt, đáng các môn đệ của Người noi gương bắt chước. Vì Chúa Kitô "là sự thật" (Gioan 14:6) nên Người không thể nào hợp với những gì là gian dối lừa đảo, và vì Người "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12) nên Người không chấp nhận bóng tối. 


Bởi vậy, Người không khuyên các môn đệ bắt chước đường lối gian manh của người quản lý bất lương, mà chỉ khuyên các vị hãy bắt chước ước muốn lành mạnh của nhân vật này để khôn khéo làm sao có thể sống sót qua cơn gian nan khốn khó mà thôi: "phải liệu thế nào để khi mất chức quản lý thì sẽ có người đón tiếp tôi về nhà họ". 


Thật ra, theo luân lý Công giáo (xem Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo các khoản 1755-1756), một việc tốt cần phải hội đủ ba điều kiện bất khả thiếu, đó là, thứ nhất việc làm tự bản chất là tốt, thứ hai là phải có ý hướng tốt khi làm việc ấy, và thứ ba là làm việc ấy một cách thích đáng. 


Chẳng hạn, đi làm việc tông đồ tự nó là việc làm tốt, với ý hướng chính yếu là để giúp cho giáo xứ hay cộng đoàn dân Chúa của mình thêm sinh động và thăng tiến, thế nhưng, nếu làm việc tông đồ này đến độ bỏ bê trách nhiệm trong gia đình thì việc tông đồ ấy không tốt nữa. 


Hay làm việc tông đồ này khi nào có thể nhưng với ý hướng lợi dụng việc tông đồ để quen biết mà trục lợi trong vấn đề làm ăn tư riêng cũng không tốt. Nếu chính việc làm tự bản chất là xấu, chẳng hạn việc trộm cắp, cho dù để giúp người nghèo thì việc trộm cắp cũng không thể trở thành việc tốt v.v. 


Con người dù có ý tốt đến đâu cũng không thể nào biến một việc tự bản chất là xấu thành lành. Chẳng hạn nguyên tổ Eva dù có ý muốn chính đáng và tốt lành là nên giống như Thiên Chúa, vì con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và xu hướng về lý tưởng nên giống như Ngài, thế nhưng cách thức để đạt tới đích điểm ấy, đạt được ý hướng ấy lại không tốt, ở chỗ bất tuân ý Chúa bằng cách nghe theo rắn quỉ ăn trái cấm không được phép, thì việc làm của bà bấy giờ là xấu, tội lỗi.


Việc làm cho người quản lý bất lương trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay, cho dù có ý hướng tốt là làm sao có thể sống còn, nhưng cách làm của nhân vật này lại có tính cách dối trá, gian lận của chủ (và cũng chính vì máu "phung phí" như thế mà hắn đã bị sa thải), nên việc làm của hắn trở thành xấu xa. Giá hắn đến xin chủ thương tình để hắn sửa mình và đền bù những gì hắn đã phung phí cho chủ, hoặc xin chủ cho làm việc khác nhẹ nhàng mà không dính dáng gì đến tiền bạc có phải hơn không). 


Nếu người quản lý trong Bài Phúc Âm hôm nay bị chủ sa thải là vì nhân vật này "bị tố cáo đã phung phí của chủ", bởi thế nhân vật ấy mới tìm cách sống còn sau khi đã bị mất chức mà chẳng biết làm ăn gì, thì một trong những vị quản lý trung thành và khôn ngoan đã làm việc đắc lực cho chủ và không bao giờ sợ bị chủ laid off, cho nghỉ việc, đó là Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, vị đã tâm sự với Giáo đoàn Rôma trong Bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay như sau:

 


"Nhờ ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi trở nên người giúp việc của Ðức Giêsu Kitô nơi các Dân ngoại, gánh lấy thiên chức rao giảng Tin Mừng, ngõ hầu của lễ Dân ngoại được chấp nhận và được thánh hoá trong Thánh Thần. Bởi vậy trong Ðức Giêsu Kitô, tôi có thể tự hào trước mặt Thiên Chúa. Vì chưng tôi không dám nói điều gì ngoài việc Ðức Kitô dùng tôi làm cho dân ngoại vâng phục, bằng ngôn ngữ cũng như bằng hành động, nhờ những phép lạ, những việc phi thường và quyền lực của Thánh Thần. Bởi thế, từ Giêrusalem và miền chung quanh cho đến Illyricô, tôi đã rao giảng đầy đủ Tin Mừng của Ðức Kitô".


Bài Đáp Ca hôm nay như phản ảnh nhận thức của Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại về Vị Thiên Chúa từ bi nhân ái cũng như về ơn cứu độ của Ngài, đáng muôn loài chúc tụng tôn vinh:

 

1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. 


2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người, trước mặt chư dân, Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành, để sủng ái nhà Israel. 


3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca. 



Thứ Bảy


Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 16, 3-9. 16. 22-27

"Anh em hãy chào nhau trong cái hôn thánh thiện".

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tôi xin gởi lời chào bà Prisca và ông Aquila, là những người cộng sự viên của tôi trong Ðức Giêsu Kitô, (họ đã liều mất đầu để cứu mạng sống tôi; không chỉ một mình tôi mang ơn họ mà thôi, nhưng còn tất cả các Giáo đoàn dân ngoại nữa), xin gởi lời chào Giáo đoàn đang hội họp tại nhà họ. Xin gởi lời chào Êphênêtô, người tôi yêu quý, ông là hoa quả đầu mùa trong Ðức Kitô bên Tiểu Á. Xin gởi lời chào Maria, người đã vất vả nhiều vì anh em. Xin gởi lời chào Anđrônicô và Giunia, người bà con và bạn tù của tôi; họ là những người danh vọng trong hàng các Tông đồ và đã thuộc về Ðức Kitô trước tôi. Xin gởi lời chào Ampliatô, người tôi rất yêu quý trong Chúa. Xin gởi lời chào Urbanô, cộng sự viên của chúng tôi trong Ðức Giêsu Kitô, và cả Sitakhin, người tôi yêu quý. Anh em hãy chào nhau trong cái hôn thánh thiện. Tất cả các Giáo đoàn của Ðức Kitô gởi lời chào anh em.

Tôi là Tertiô, người viết thư này, xin gởi lời chào anh em trong Chúa. Caiô, người cho tôi trọ nhà, và toàn thể Giáo đoàn cũng gởi lời chào anh em. Êrastô, chủ kho bạc thị trấn, và Quartô, người anh em, xin gởi lời chào anh em. Nguyện chúc ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ở cùng tất cả anh em. Amen.

Kính chúc Ðấng có quyền năng làm cho anh em được vững vàng theo Tin Mừng tôi loan truyền, và lời giảng dạy của Chúa Giêsu Kitô, theo mạc khải mầu nhiệm được giữ kín từ đời đời, nhưng nay được tỏ bày, và nhờ các tiên tri ghi chép theo lệnh của Thiên Chúa hằng hữu, được thông tri cho các dân ngoại, để dẫn đưa họ về vâng phục đức tin. Kính chúc Thiên Chúa, Ðấng khôn ngoan độc nhất, nhờ Chúa Giêsu Kitô, kính chúc Người vinh quang muôn đời. Amen.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 144, 2-3. 4-5. 10-11

Ðáp: Lạy Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời (x. c. 1b).

Xướng: 1) Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, sự vĩ đại của Chúa không thể đo lường được. - Ðáp.

2) Thế hệ này rao giảng cho thế hệ kia hay công việc Chúa, và thiên hạ loan tin quyền năng của Ngài. Người ta nói đến vinh quang cao cả oai nghiêm, và phổ biến những điều kỳ diệu của Chúa. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài.- Ðáp.

 

Alleluia: Ep 1, 17-18

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa Cha của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cho mắt tâm hồn chúng ta được sáng suốt, để chúng ta biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi chúng ta. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 16, 9-15

"Nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ giao của chân thật cho các con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời. Ai trung tín trong việc nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai gian dối trong việc nhỏ, thì cũng gian dối trong việc lớn. Vậy nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ giao phó của chân thật cho các con.

"Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó ghét chủ này và mến chủ kia; hoặc phục chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được". Những người biệt phái là những kẻ tham lam, nghe nói tất cả những điều đó, thì nhạo cười Người. Vậy Người bảo các ông rằng: "Chính các ông là những kẻ phô trương mình là công chính trước mặt người ta, nhưng Thiên Chúa biết lòng các ông; bởi chưng điều gì cao sang đối với người ta, thì lại là ghê tởm trước mặt Thiên Chúa".

Ðó là lời Chúa.




 Chia sẻ Lời Chúa:

 

sự sống phàm tục


Hôm nay, Thứ Bảy Tuần XXXI Thường Niên, Bài Phúc Âm theo Thánh ký Luca được Giáo Hội chọn đọc tiếp tục với Bài Phúc Âm hôm qua, liên quan đến người quản lý bất lương bị chủ sa thải nên đã tìm cách để tồn tại trong tình trạng thất nghiệp khốn khổ ấy, và cách thức người quản lý bất lương này làm liên quan đến tiền bạc gian lận của chủ.


Đó là lý do, trong Bài Phúc Âm hôm nay, tiếp tục huấn dụ "các môn đệ", Chúa Giêsu đã nói với các vị về tiền bạc.


Trước hết, đối với tha nhân, Người bảo các vị hãy lợi dụng tiền bạc mà làm việc bác ái, hay nói đúng hơn, đừng coi của hơn người mà ngược lại phải coi người hơn của: "Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời".


Nếu chúng ta coi người hơn của, thì theo lời Chúa dạy, có nghĩa là chúng ta đã "trung tín trong việc nhỏ (là sử dụng chính đáng tiền bạc nhỏ mọn chẳng là gì so với đức ái cao cả)thì cũng trung tín trong việc lớn (tức mới có thể sống bác ái là những gì trọng đại được)". Ngược lại, nếu chúng ta coi của hơn người, tức là "gian dối trong việc nhỏ (ở chỗ sử dụng tiền của một cách bất chính) thì cũng gian dối trong việc lớn (ở chỗ sống vị kỷ chẳng biết sống bác ái yêu thương gì hết)". 


Đến đây chúng ta mới thấy dụ ngôn hôm qua về người quản lý bất lương gian lận tiền bạc bị sa thải vì "phung phí" của chủ có thể sẽ trở thành trường hợp của chính các môn đệ là những người theo Chúa Kitô, qua lời Ngưòi khẳng định với các vị trong Bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Vậy nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ giao phó của chân thật (có thể Chúa ám chỉ các linh hồn được các vị coi sóc hay ơn cứu độ cần các vị ban phát) cho các con".


Sau nữa, đối với Thiên Chúa, Người bảo các vị đừng lệ thuộc vào tiền của mà hãy chỉ phụng sự Thiên Chúa mà thôi, tức hãy coi Thiên Chúa hơn tiền của: "Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó ghét chủ này và mến chủ kia; hoặc phục chủ này và khinh chủ nọ". Đó là lý do, Chúa Giêsu đã cảnh giác các môn đệ là thành phần theo Người rằng: "Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được". 


Đúng thế, theo tâm lý chung cũng như theo kinh nghiệm sống đạo thực tế, một khi con người ham thích tiền bạc, mê man của cải trần gian, lúc nào cũng tìm cách và tính toán sao cho có tiền, có nhiều bao nhiêu tốt bấy nhiêu, rồi xài sang, sống hết sức tiện nghi đến xa xỉ, thiếu thốn một chút gì thì không chịu được, thì kêu ca nhăn nhó v.v., họ sẽ dễ dàng quên Chúa và bỏ Chúa, thậm chí có những lúc lạm dụng chính đức bác ái để làm tiền, và cũng chỉ vì tiền, vì lợi lộc đâm ra lỗi đức bác ái yêu thương cao cả, mất lòng Chúa. Chẳng hạn, phũ phàng thay và mâu thuẫn thay, họ tranh nhau gây quĩ bác ái cứu trợ v.v.


Giáo lý trong Bài Phúc Âm hôm nay của Chúa Giêsu đề cao tinh thần hơn vật chất, đề cao Thiên Chúa và tha nhân cao cả hơn tiền bạc thường hèn, một huấn dụ Người chỉ khuyên dạy riêng cho riêng các môn đệ của Người, nhưng không ngờ đã trở thành như một cái tát vào mặt thành phần tham lam của cải trần gian, cũng hiện diện và nghe thấy giáo huấn này của Người bấy giờ, và vì thế, cuối Bài Phúc Âm hôm nay còn có thêm chi tiết: "Những người biệt phái là những kẻ tham lam, nghe nói tất cả những điều đó, thì nhạo cười Người". Một thái độ "nhạo cười" như thể họ cho giáo huấn của Người là những gì không tưởng, chẳng thực tế, không bao giờ thực hiện được, chẳng ai theo nổi.


Thế nhưng, đáp lại, Chúa Giêsu đã thẳng thắn vạch trần bộ mặt giả dối và lối sống giả hình của thành phần "biệt phái" có vẻ thông luật và giữ luật hơn người như là các thày dạy luật này rằng: "Chính các ông là những kẻ phô trương mình là công chính trước mặt người ta, nhưng Thiên Chúa biết lòng các ông; bởi chưng điều gì cao sang đối với người ta (chẳng hạn như tiền của hay danh giá hoặc chức quyền được người ta sùng bái như ngẫu tượng trên hết của họ), thì lại là ghê tởm trước mặt Thiên Chúa".


Trái với khuynh hướng và tinh thần vốn coi trọng cái thường và coi thường cái trọng của thành phần biệt phái ở cuối Bài Phúc Âm hôm nay là những con người được liệt kê ở cuối Thư gửi Giáo Đoàn Rôma của Thánh Phaolô, những con người có một tinh thần hy sinh xả kỷ sống bác ái yêu thương xứng đáng là môn đệ của Chúa Kitô, như Thánh Phaolô cho thấy một cách vắn gọn trong Bài Đọc 1 hôm nay, nhất là về ông bà Aquila và Prisca, như sau:


"Anh em thân mến, tôi xin gởi lời chào bà Prisca và ông Aquila, là những người cộng sự viên của tôi trong Ðức Giêsu Kitô, (họ đã liều mất đầu để cứu mạng sống tôi; không chỉ một mình tôi mang ơn họ mà thôi, nhưng còn tất cả các Giáo đoàn dân ngoại nữa), xin gởi lời chào Giáo đoàn đang hội họp tại nhà họ...".


Bài Đáp Ca hôm nay phản ảnh một tâm hồn chỉ biết tìm Chúa trên hết mọi sự và coi Chúa là tất cả mọi sự của mình, một tâm hồn luôn cảm tạ ngợi khen chúc tụng Chúa trong đời sống tràn đầy bình an vui sống không quyến luyến trần tục của mình:

 

1) Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, sự vĩ đại của Chúa không thể đo lường được. 


2) Thế hệ này rao giảng cho thế hệ kia hay công việc Chúa, và thiên hạ loan tin quyền năng của Ngài. Người ta nói đến vinh quang cao cả oai nghiêm, và phổ biến những điều kỳ diệu của Chúa. 


3) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài.