SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 
Mùa Chay Tuần 1 
14-20/2/2016

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2016/SNSD/PVLC-MuaThuongNienTuan1.html) 



Chúa Nhật


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Ðnl 26, 4-10

"Dân được chọn tuyên xưng đức tin".

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Ông Môsê nói cùng dân chúng rằng: "Thầy tư tế nhận của đầu mùa từ tay ngươi và đem đặt trước bàn thờ của Chúa là Thiên Chúa ngươi, và ngươi sẽ nói trước mặt Chúa là Thiên Chúa rằng: "Tổ phụ con là Aramêô du mục đã đi xuống Ai-cập và sống ở đó như ngoại kiều với một ít người; và đã phát triển thành một dân tộc vĩ đại, hùng mạnh và đông đúc. Các người Ai-cập đã ngược đãi, hành hạvà bắt chúng con làm việc nặng nhọc. Chúng con đã kêu cầu Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, và Chúa đã nghe lời chúng con, đã nhìn thấy cảnh thống khổ, cực nhọc và khốn cùng của chúng con. Chúa đã dùng bàn tay mạnh, cánh tay hùng, dùng những biến cố khủng khiếp và những dấu lạ phi thường mà dẫn chúng con ra khỏi Ai-cập. Chúa đưa chúng con đến đây, ban cho chúng con xứ này, một xứ chảy sữa và mật. Và vì thế, lạy Chúa, giờ đây con dâng tiến Chúa những của đầu mùa, hoa màu ruộng đất mà Chúa đã ban cho con". Ngươi sẽ đem đặt nó trước mặt Chúa là Thiên Chúa ngươi và sấp mình trước tôn nhan Người.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 90, 1-2. 10-11. 12-13. 14-15

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy ở cùng con trong lúc gian truân (x. c. 15b).

Xướng: 1) Bạn sống trong sự che chở của Ðấng Tối Cao, bạn cư ngụ dưới bóng của Ðấng Toàn Năng. Hãy thưa cùng Chúa: Chúa là chiến luỹ, nơi con nương náu, lạy Chúa con, con tin cậy ởNgài. - Ðáp.

2) Tai nạn không đến gần được bạn, và oan ương không bén mảng tới nhà bạn ở. Vì Chúa ra lệnh cho các Thiên Thần Ngài săn sóc bạn, để chư vị đó gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường. - Ðáp.

3) Chư vị đó bồng bế bạn trên tay, để bạn khỏi vấp chân vào đá. Trên mình hổ mang, rắn lục bạn bước đi, bạn đạp chân trên sư tử và giao long. - Ðáp.

4) Vì người quý mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời, Ta sẽ ở cùng người trong lúc gian truân, Ta sẽ cứu gỡ và làm vinh dự cho người. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Rm 10, 8-13

"Kẻ tin tưởng tuyên xưng đức tin trong Chúa Kitô".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, Thánh Kinh nói gi? Lời ở kề trong miệng và trong lòng người.Ðó là lời đức tin mà chúng tôi rao giảng. Vì nếu miệng ngươi tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa, và lòng ngươi tin rằng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, thì ngươi sẽ được rỗi. Quả thế, tin trong lòng thì sẽ được công chính, tuyên xưng ngoài miệng sẽ được cứu rỗi. Vì Thánh Kinh đã có nói: "Hễ ai tin vào Người sẽ không phải hổ thẹn". Bởi lẽ không có sự phân biệt người Do-thái và Hy-lạp: Vì là cùng một Chúa của mọi người, Ngài rộng rãi đói với tất cả mọi người khẩn xin cùng Ngài. Vì mọi kẻ cầu khẩn Danh Ngài, đều được cứu độ.

Ðó là lời Chúa.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4,4b

Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

 

Phúc Âm: Lc 4, 1-13

"Thánh Thần thúc đẩy Chúa vào hoang địa, và chịu cám dỗ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi". Chúa Giêsu đáp: "Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa".

Rồi ma quỷ lại đem Người lên cao hơn cho xem ngay một lúc tất cả các nước thiên hạ và nói với Người rằng: "Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả đó là của tôi và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!" Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi".

Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem, để Người trên góc tường cao đền thờ và bảo rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: "Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!" Và còn thêm rằng: "Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá". Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!" Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác.

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm

 

Sự Sống Chay Tịnh 


Mùa Chay tuy được bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro, nhưng chính Thứ Tư Lễ Tro này cùng với 3 ngày sau đó chỉ là một dạo khúc mở màn cho Mùa Chay, hay như là ngưỡng cửa để tiến vào Mùa Chay, thời điểm bao gồm 5 tuần lễ liền, mà tuần đầu tiên được mở màn với Chúa Nhật Thứ Nhất hôm nay.

Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật 1 Mùa Chay này có thể nói xoay quanh trục sống đức tin, căn cứ vào lời Chúa Giêsu phán trong bài Phúc Âm hôm nay, một lời liên quan đến việc sống đức tin, được Giáo Hội sử dụng cho "Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4,4b": "Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra".

Thật vậy, ở Bài Đọc 1 được trích từ Sách Đệ Nhị Luật, việc dâng của đầu mùa nơi dân chúng là một hành động chẳng những bày tỏ lòng biết ơn mà nhất là bày tỏ niềm tin của họ vào Thiên Chúa, coi Ngài là Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, Đấng đã tỏ mình ra cho họ bằng việc giải phóng họ khỏi thân phận làm nô lệ ở Ai Cập. Đó là lý do Moisen đã truyền cho họ khi dâng lên Thiên Chúa của đầu mùa là của quí nhất thì, trước khi "đem đặt nó trước mặt Chúa là Thiên Chúa ngươi và sấp mình trước tôn nhan Người", phải thân thưa cùng Ngài như thể tuyên xưng đức tin của họ rằng: 

"Các người Ai-cập đã ngược đãi, hành hạ và bắt chúng con làm việc nặng nhọc. Chúng con đã kêu cầu Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, và Chúa đã nghe lời chúng con, đã nhìn thấy cảnh thống khổ, cực nhọc và khốn cùng của chúng con. Chúa đã dùng bàn tay mạnh, cánh tay hùng, dùng những biến cố khủng khiếp và những dấu lạ phi thường mà dẫn chúng con ra khỏi Ai-cập. Chúa đưa chúng con đến đây, ban cho chúng con xứ này, một xứ chảy sữa và mật. Và vì thế, lạy Chúa, giờ đây con dâng tiến Chúa những của đầu mùa, hoa màu ruộng đất mà Chúa đã ban cho con".

Bài Đọc 2 hôm nay càng rõ nét đức tin là ý tưởng chính của phụng vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật 1 Mùa Chay hơn nữa, như thể, qua Bài Đọc 2 được trích từ Thư Thánh Phaolô gửi Giáo đoàn Rôma này, Giáo Hội tự nhận thức và muốn nhắn nhủ con cái mình rằng phần rỗi của con người, ơn cứu độ của Kitô hữu là ở nơi đức tin của họ vào Chúa Kitô, chứ không phải là ở bánh ăn về thể lý là thứ dinh dưỡng chỉ có thể nuôi sống phần xác tạm thời, hay vào bánh ăn theo nghĩa bóng ám chỉ các việc con người làm như công khó của họ để chiếm hưởng ơn cứu độ

"Vì nếu miệng ngươi tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa, và lòng ngươi tin rằng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, thì ngươi sẽ được rỗi. Quả thế, tin trong lòng thì sẽ được công chính, tuyên xưng ngoài miệng sẽ được cứu rỗi. Vì Thánh Kinh đã có nói: 'Hễ ai tin vào Người sẽ không phải hổ thẹn'. Bởi lẽ không có sự phân biệt người Do-thái và Hy-lạp: Vì là cùng một Chúa của mọi người, Ngài rộng rãi đi với tất cả mọi người khẩn xin cùng Ngài. Vì mọi kẻ cầu khẩn Danh Ngài, đều được cứu độ".

Ở đây, qua đoạn thư này, Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại đã minh nhiên nhấn mạnh đến 2 điểm chính yếu: 

1- Đức tin cứu độ bao gồm toàn diện hữu thể và đời sống của con người: "tin trong lòng thì sẽ được công chính, tuyên xưng ngoài miệng sẽ được cứu rỗi". Có nghĩa là tin trong lòng mà thôi chưa đủ, còn cần phải chứng thực bằng việc làm cụ thể bề ngoài tương xứng với niềm tin ấy nữa mới trọn vẹn và đích thực, mới được cứu độ. Tuy nhiên, việc làm của con người ở chỗ này chỉ là việc làm của đức tin, việc thể hiện đức tin, hơn là việc thuần nhân bản hay việc thuần nhân tạo, những việc mà nếu không có đức tin sẽ không thể nào làm nổi, như chịu tử đạo!

2- Đức tin cứu độ có tính cách công giáo, phổ quát và đại đồng: "không có sự phân biệt người Do-thái và Hy-lạp: Vì là cùng một Chúa của mọi người, Ngài rộng rãi đi với tất cả mọi người khẩn xin cùng Ngài. Vì mọi kẻ cầu khẩn Danh Ngài, đều được cứu độ". Nghĩa là đức tin cứu độ hoàn toàn do ân sủng thần linh, chứ không lệ thuộc vào việc cắt bì của dân Do Thái, như chủ trương của một số tín hữu Do Thái giáo trở lại Kitô giáo bấy giờ chủ trương, nhưng đã bị Thánh Phaolô kịch liệt bác bỏ trong Thư Galata và Công Đồng Chung Giêrusalem dứt khoát chối bỏ.

Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật Thứ 1 Mùa Chay, dù là Chu Kỳ Phụng Niên Năm A, B hay C, bao giờ cũng là bài Phúc Âm về sự kiện Chúa Giêsu chay tịnh 40 ngày đêm trong hoang địa, như Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho Năm C hôm nay: 

"Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói"

Trước hết, qua hai câu Phúc Âm mở đầu bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Luca cho chúng ta thấy việc Chúa Giêsu "vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì" là việc do Chúa Thánh Thần tác động và thúc đẩy, chứ không phải là việc thuần nhân bản theo tự nhiên, như việc chay tịnh của các nhà tu hành ngoại giáo thời bấy giờ thuộc Phật giáo ở Ấn Độ hay Lão giáo ở Trung Hoa.

Việc chay tịnh "không ăn gì", chứ không phải chỉ kiêng cữ không ăn món này món kia mà thôi, và việc "không ăn gì" này không phải chỉ kéo dài 1 hay 2 ngày hoặc 1 tuần lễ 7 ngày liền, mà là suốt 40 ngày, một thời gian phải nói rằng quá sức tự nhiên của con người phàm nhân, mà nếu không phải là thần linh nhập thể hay không có ơn Chúa đặc biệt không ai trên trần gian này có thể làm nổi. Chính Chúa Giêsu là Vị Thiên Chúa hóa thân làm người thế mà cũng vẫn cảm thấy cái nhu cầu đòi hỏi của bản tính tự nhiên loài người: "sau thời gian đó, Người đói".

Và tên cám dỗ rất tinh khôn chỉ chờ có thế, chờ đến lúc yếu nhất của con người mới ra tay để nắm chắc phần thắng trong tay. Đó là lý do ngay sau câu "trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói", Thánh ký Luca mới cho biết thêm cái hậu quả tai hại của một việc chay tịnh liều lĩnh quá sức mình như vậy có thể gây phản tác dụng, đưa đến một cơn cám dỗ đòi hỏi bất khả tránh và có thể bất khả chống cự: "Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: 'Nếu ngươi là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi'".

Thật vậy, thực tế thường cho thấy rằng con người cố gắng kiêng cữ không ăn món này không ăn món kia hoặc không ăn nhiều, nhất là những món mình thích lại hay gây bệnh hoạn, vì đang bị bệnh cần phải kiêng hay vì đề phòng không muốn lên cân v.v., theo tự nhiên, càng kiêng lại càng thèm, và càng thèm lại càng ăn nhiều hơn nữa, chính vì thế lại càng bệnh hay càng phì ra khó có thể giữ được thân hình theo lòng mong muốn! 

Trong trường hợp của Chúa Giêsu, cho dù bản tính tự nhiên đòi hỏi phải ăn sau một thời gian 40 ngày nhịn đói, Người chẳng những không ăn nhiều để bù lại hay lấy sức, hoặc không ăn ngay cho khỏi bị kiệt sức, vì nếu Người ăn ngay sau khi tên cám dỗ mời mọc vào chính lúc rất hợp tình hợp lý như thế: đói thì ăn, đâu có tội tình gì, trái lại, còn là một trách nhiệm cần phải giữ mạng sống của mình và sức lực của mình để phục vụ nữa. 

Thế mà Chúa Giêsu vẫn không ăn! Vì nếu Người ăn ngay lúc bấy giờ có nghĩa là Người nghe theo ma quỉ mà ăn, chứ không ăn theo tác động Thánh Linh thúc đẩy Người làm như lúc ban đầu, hoàn toàn không giống với trường hợp của Kitô hữu Giáo đoàn Galata đã bị Thánh Phaolô vừa nhắc nhở vừa khiển trách là họ bắt đầu bởi Thần Linh cuối cùng lại kết thúc bởi xác thịt (Galata 3:3).

Cho dù Người là Con Thiên Chúa, có thể biến đá thành bánh mà ăn, nhưng Người vẫn không làm, vì đã là Con thì phải làm theo ý Cha của mình, hơn là làm theo ý mình, dù Người có thể làm điều ấy (biến đá thành bánh) và có lý do chính đáng (vì đói) để làm như vậy. Nghĩa là Người Con Thiên Chúa nơi nhân vật Giêsu Nazarét chay tịnh 40 ngày trong hoang địa bấy giờ bị ma quỉ cám dỗ đã không thực hiện những gì Người làm được (theo quyền năng thần linh bẩm sinh) một khi Người không được làm (vì thân phận là người ở tư cách làm Con của Người).

Sau nguyên tội, Satan đã thống trị thế gian là thế giới loài người sa đọa này. Hắn biết rõ bản tính băng hoại của loài người. Bởi thế, hắn biết trong loài người có một số những con người phi thường nổi bật, chẳng hạn, về phái nữ, có cô thôn nữ Maria ở Nazarét, một người con gái đã khấn giữ mình trọn đời đồng trinh, giữa một thế giới Do Thái nữ giới cảm thấy nhục nhã nếu không sinh con, và rất mong muốn được trở thành mẹ của Đấng Thiên Sai. Hay về phái nam có nhân vật tiền hô Gioan tẩy giả đã có đời sống hoàn toàn dị biệt và trổi vượt nơi dân Do Thái.

Thế nhưng, hắn chưa bao giờ thấy một nhân vật nào trong loài người lại có thể chay tịnh 40 ngày như nhân vật Giêsu Nazarét bấy giờ. Vẫn biết trước nhân vật Giêsu Nazarét này đã có ít là 2 nhân vật khác cũng trải qua 40 ngay chay tịnh: trước hết là Moisen ở trên Núi Sinai trong thời gian hoàn tất Hai Bia Đá Lề Luật (xem Xuất Hành 34:28), thế nhưng bấy giờ Thánh Kinh cho biết "Moisen ở với Chúa" nên Moisen no thỏa Chúa, không cần ăn uống gì hết; sau nữa là Tiên Tri Elia, vị đã hành trình 40 đêm ngày lên Núi Horeb để gặp gỡ Thiên Chúa, nhưng vị tiên tri này cũng đã được Thiên Thần tẩm bổ cho 2 bữa ăn, đủ sức trước khi lên đường (xem 1Kings 19:7-8).

Bởi thế, hắn biết rằng hắn đã đụng độ với một tay cao thủ võ lâm, vừa mới lộ diện giang hồ, bề ngoài có vẻ tầm thường như một tay hành khất bần cùng, nhưng hình như lại có một nội công thật vô cùng thâm hậu không ai có và không ai bằng. Do đó, theo sự khôn ngoan sẵn có, hắn đã theo dõi thật kỹ lưỡng và cẩn thận từng hành vi cử chỉ và lời ăn tiếng nói của nhân vật mà hắn cho là nổi bật nhất trong cả loài người từ trước đến bấy giờ. Thế rồi, vào chính lúc hắn nghĩ rằng lợi thế nhất cho hắn và cũng là lúc yếu nhược nhất của đối thủ (đói), hắn đã xuất độc chưởng đầu tiên: "Nếu ngươi là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi". 

Hắn tưởng rằng chỉ cần cái chưởng nhân tính đầu tiên ấy đã đủ đánh gục tên đối thủ vô cùng lợi hại này, vì hắn cho đối thủ của hắn chỉ là một con người tầm thường, đã đói thì phải ăn, không thể nào không ăn. Thế nhưng, hắn đã nhầm, đối thủ của hắn cao tay hơn hắn ngàn vạn lần, vẫn nhất định không đệ lộ chân tướng của mình là "Con Thiên Chúa" ra như hắn đang cố ý dò xét một con người có thể chay tịnh 40 ngày như Người chắn hẳn có một nguồn gốc thần linh nào đó chứ không phải là một con người tầm thường. 

Câu Chúa Giêsu trả lời cho hắn rằng: "Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa" càng làm cho hắn tò mò hơn nữa về nhân vật mà hắn hồ nghi "là Con Thiên Chúa" này. Nếu nhân vật bị hắn cám dỗ không thể hóa đá thành bánh như hắn thử thách thì có thể chỉ là loài người thôi. Bởi thế, sau chưởng về cảm giác khoái lạc của thân xác, hắn đã tung ra một chưởng thứ hai cũng rất thích hợp với khuynh hướng tự nhiên của nhân tính, còn mạnh hơn chưởng thứ nhất nữa, đó là chưởng đánh ngay vào lòng tham lam vô đáy của con người: "Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả những thứ đó là của tôi và tôi muốn cho ai tùy ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!"

Lần này cũng thế, cái chưởng vô cùng thâm độc của Satan đã từng làm mưa làm gió trên thế gian này từ trước đến bấy giờ của hắn cũng bị dội lại, khiến hắn bắt đầu cảm thấy choáng voáng không biết đâu mà mò, vì hắn cứ tưởng rằng cùng lắm đối thủ của hắn là loài người thuần túy chỉ chịu được hai chưởng là hết cỡ, là tối đa, hóa ra tay cao thủ này vẫn không bị hề hấn gì, vẫn "trơ như đá vững như đồng": "Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi".

Bởi thế, hắn đã phải đặt lại vấn đề "nếu người là Con Thiên Chúa" như lúc ban đầu, chứ không dám khinh thường địch thủ nữa. Lần này, hắn tung một thứ chưởng có vẻ vừa thần lực vừa thần tốc hơn hai chưởng trước để kết thúc trận đấu chưa từng có trên thế gian này, ở chỗ, hắn tấn công thẳng vào nguồn gốc thần linh của đối thủ, nghĩa là tấn công ngay vào thần tính của Chúa Giêsu, bằng cách sử dụng cả một lời thánh kinh hết sức chân thực cho chước cám dỗ bí hiểm thâm độc của hắn nữa, lời thánh kinh này cũng ở trong Bài Đáp Ca hôm nay (câu 2 và 3), vì hắn thấy rằng cả hai lần vừa rồi đối thủ của hắn luôn sử dụng vũ khí vô địch là Lời Chúa"Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: 'Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!' Và còn thêm rằng: 'Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá'".

Rất tiếc, lời thánh kinh bị hắn lạm dụng bằng cách dẫn giải sai lạc ý nghĩa của lời ấy đã đụng vào nhân vật đối thủ thần bí này của hắn, như thể đụng vào một tảng đá, đến độ lời thánh kinh ấy đã tóe cả lửa ra, nhờ đó ý nghĩa của lời thánh kinh này đã được sáng tỏ hơn bởi chính lời thánh kinh được Chúa Giêsu trích dẫn: "Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!". 

Thế là tên cám dỗ Satan đã hoàn toàn thảm bại, một thảm bại vô cùng nhục nhã chua cay chưa từng xẩy ra với một tên chúa tể trần gian như hắn nơi thế giới loài người sa đọa này. Tuy nhiên, hắn vẫn chưa chịu thua, vì hắn chưa biết được rõ ràng và chính xác nguồn gốc của nhân vật đối thủ hầu như vô địch ấy của hắn. Tên đối thủ của hắn vẫn tầm thường làm sao ấy, chẳng có gì là đầy uy quyền và rất oai phong như tính kiêu căng ngạo mạn của hắn vẫn tưởng về một Người "Con của Thiên Chúa". Bởi thế, Thánh ký Luca đã kết thúc bài Phúc Âm hôm nay rằng: "Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác". 

Đúng thế, Satan đã "làm đủ cách cám dỗ" mà vẫn bị thảm bại, ở chỗ, hắn vẫn không làm sao có thể biết được nguồn gốc bí nhiệm của nhân vật Giêsu Nazarét bề ngoài hết sức tầm thường ấy. Các "cách cám dỗ" được cho là "đủ" mà Satan vốn là "tên cám dỗ cả thế gian" (Khải Huyền 12:9) đã sử dụng để tấn công Chúa Giêsu hầu có thể biết được đích xác thân thế của Người, theo thứ tự như sau:

Trước hết, hắm tấn công vào nhân tính của Người, cả về phần xác (khoái lạc) lẫn tâm thần (tham lam) của Người, xem Người có giống như mọi phàm nhân khác hay chăng, ở chỗ đói ăn và tham lam của cải trần gian, thì như thế tất nhiên Người không phải là "Con Thiên Chúa"; sau đó hắn tấn công vào thần tính của Người (quyền năng / kiêu căng) xem Người có phải là "Con Thiên Chúa" hay chăng, ở chỗ hắn thách thức Người tỏ quyền năng thần linh của Người ra, và nếu Người tỏ quyền năng ra thì Người quả thực là "Con Thiên Chúa", và như thế là Người trúng kế của hắn, và thua hắn, để rồi cuối cùng Người cho dù quyền năng hơn Satan vẫn không phải là Con của Thiên Chúa, bởi Con Thiên Chúa không thể nào lại bị Satan đánh lừa và bị thua Satan như vậy!

Ba chước cám dỗ này của Satan để thử thách Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến 3 thù của con người, theo thứ tự của 3 chước cám dỗ trong Bài Phúc Âm hôm nay: xác thịt (khoái lạc), thế gian (tham lam) và ma quỉ (kiêu căng). Đó là lý do đời sống tu trì đã phải khấn giữ 3 lời khấn hoàn toàn ngược lại với ba khuynh hướng tự nhiên hay ba chước cám dỗ cũng là ba kẻ thù này: lời khấn khiết tịnh (phản với xu hướng / cám sỗ / kẻ thù xác thịt ham khoái lạc hưởng thụ), lời khấn thanh bần (phản với xu hướng / cám sỗ / kẻ thù là thế gian đầy những tham lam của cải giầu sang phú quí), và lời khấn vâng lời (phản lại với xu hướng / cám sỗ / kẻ thù ma quỉ là kiêu căng tự ái chỉ muốn làm theo ý riêng của mình như thể mình là chủ tể).

Phải, đó là lý do Thánh Gioan Tông Đồ, trong Thư Thứ Nhất của mình, ngài đã khuyên bảo và cảnh giác thành phần Kitô hữu con cái thân yêu của ngài phải đề phòng 3 khuynh hướng tự nhiên của thế gian được coi như ba thù của chung con người và của riêng Kitô hữu như sau:

"Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian là thèm khát của xác thịt (khoái lạc - chước cám dỗ thứ nhất), dục vọng của đôi mắt (tham lam - chước cám dỗ thứ hai) và phô trương của cuộc sống (kiêu căng - chước cám dỗ thứ ba), tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian(1Gioan 2:15-16).

Muốn thắng được các chước cám dỗ vô cùng thâm hiểm và độc hại của Satan cùng bọn tà thần của hắn, tự bản thân của mình, con người hoàn toàn bất khả, tuyệt đối không thể, nhất là trong chính bản thân của họ lại vốn đã có sẵn mầm mống sự chết do hắn gieo vào ngay từ ban đầu (xem Gioan 8:44) qua nguyên tội, thì chỉ có đức tin mới khả dĩ thắng được 3 thù này mà thôi: "Mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian. Và điều làm cho chúng ta thắng được thế gian đó là lòng tin của chúng ta. Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa?" (1Gioan 5:4-5).

Đó là nội dung của Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca chất chứa những tâm tình và tâm nguyện của những ai tin tưởng vào Thiên Chúa, những ai theo gương Chúa Giêsu không sống nguyên bởi bánh mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra, nhờ đó họ được Ngài chở che, bênh đỡ và giải thoát:

1) Bạn sống trong sự che chở của Ðấng Tối Cao, bạn cư ngụ dưới bóng của Ðấng Toàn Năng. Hãy thưa cùng Chúa: Chúa là chiến luỹ, nơi con nương náu, lạy Chúa con, con tin cậy ở Ngài. 

2) Tai nạn không đến gần được bạn, và oan ương không bén mảng tới nhà bạn ở. Vì Chúa ra lệnh cho các Thiên Thần Ngài săn sóc bạn, để chư vị đó gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường. 

3) Chư vị đó bồng bế bạn trên tay, để bạn khỏi vấp chân vào đá. Trên mình hổ mang, rắn lục bạn bước đi, bạn đạp chân trên sư tử và giao long. 

4) Vì người quý mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời, Ta sẽ ở cùng người trong lúc gian truân, Ta sẽ cứu gỡ và làm vinh dự cho người. 

 

Thánh Thi (Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều 1 và 2 cho các Chúa Nhật Mùa Chay - trích Giờ Kinh Phụng Vụ)

 

Lạy Ðấng Hoá Công xin đoái nhận

Nỗi lòng con cái khấn nguyện đây:

Lời kinh thấm lệ cùng dâng Chúa

Suốt cả Mùa Chay thánh thiện này.

 

Cõi lòng người thế Chúa lạ chi.

Biết sức phàm nhân chẳng là gì,

Xin hãy bao dung người sám hối,

Chúa nỡ lòng nào đuổi xua đi!

 

Tội lỗi ngập đầu khôn xiết kể,

Cung xưng hầu được Chúa thứ tha.

Ngàn muôn thương tích xin cứu chữa

Ðể hiển danh Ngài khắp gần xa.

 

Chỉ bảo đoàn con biết hãm mình,

Tinh thần vững mạnh bởi hy sinh,

Hồn thiêng tắm gội nguồn ân tứ

Rửa hết bùn nhơ sạch tội tình.

 

Tay chắp gối quỳ lòng tha thiết

Nài xin Chúa Cả khấng nghe lời,

Ðoàn con nhờ phúc mùa Chay tịnh

No thỏa ân tình mãi an vui.

 

 

Ngày 14: 1. Thánh Cyrillô, tu sĩ và thánh Mêthôđiô, giám mục

 

 

Cyrillô và Mêthođiô là hai anh em ruột sinh ra trong một gia đình quý phái ở thành phố Byzance.

Cyrillô được triều đình Constantinô kính nể vì tài hoa và đức hạnh. Ngài đã từng dạy triết học nhiều trường và giữ chức ngoại giao bên Ả Rập. Nhưng sau đó, ngài bỏ tất cả để hiến thân cho Chúa.

Còn Mêthođiô có một sức chịu đựng dẻo dai, kiên trì. Hai anh em được vua Michel III sai đến Moravie. Chẳng mấy chốc, hai ngài đã đưa dân tộc này về với đức tin Công Giáo (863). Danh tiếng các ngài vang đến nước Ý. Năm 868, Ðức Nicôlaô I cho gọi các ngài về Rôma và ở đây các ngài được Ðức Tân Giáo Hoàng Adrien phong chức Giám Mục. Sau đó ít lâu, Cyrillô chết tại Rôma năm 869. Mêthođiô trở lại Moravie và dẫn đưa những người Bohêmes, Pannoniens, Bulgaries về với Giáo Hội. Ngài cũng rao giảng Phúc Âm tại Ba Lan. Sau khi lập tòa giám mục tại Leopol, ngài sang Moscou (Nga) lập giáo phận Kiev. Sau đó, ngài trở về Moravie và an giấc trong Chúa với niềm vui sướng vì đã lôi kéo không biết bao nhiêu linh hồn về với Chúa (885).
Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII truyền tôn hai thánh Cyrillô và Mêthođiô trong khắp Giáo Hội. Chính dân Slaves đã mừng lễ này từ lâu (1880).

Mừng lễ hai thánh, chúng ta cùng noi gương các ngài luôn kiên trì trong đức tin, dù gặp hiểm nguy và biết dùng đời sống mình mà đem về cho Chúa những con chiên lạc, chưa nhận biết Chúa.

 

 



Thứ Hai


Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Lv 19, 1-2. 11-18

"Hãy xét đoán công minh đối với kẻ khác".

Trích sách Lêvi.

Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy nói cho toàn thể cộng đồng con cáiIsrael: Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Ðấng Thánh, là Thiên Chúa các ngươi. Các ngươi đừng trộm cắp, đừng nói dối, đừng phỉnh gạt kẻ khác, đừng lấy danh Ta mà thề dối, và đừng xúc phạm danh Thiên Chúa các ngươi. Ta là Chúa.

Các ngươi đừng nhục mạ kẻ khác và đừng hà hiếp họ. Ðừng giam tiền công lại cho đến ngày mai. Ðừng nguyền rủa người điếc, đừng đặt trước kẻ mù vật gì có thể làm cho nó vấp ngã; nhưng các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, vì Ta là Chúa.

Ðừng làm điều bất công, cũng đừng xét đoán bất công. Ðừng thiên tư kẻ nghèo, cũng đừng nể mặt người quyền thế. Hãy cứ công minh mà xét đoán kẻ khác.Ðừng lăng mạ, cũng đừng gièm pha kẻ khác. Ðừng mưu sát ai. Ta là Chúa.

Ðừng giữ lòng thù ghét anh em, nhưng hãy răn bảo họ công khai, để khỏi mang tội vì họ. Ðừng tìm báo oán, đừng nhớ lại lời mắng nhiếc của kẻ đồng hương. Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình. Ta là Chúa".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 18, 8. 9. 10. 15

Ðáp: Lạy Chúa, lời Chúa là thần trí và là sự sống (Ga 6, 64b).

Xướng: 1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phángu kẻ dốt. - Ðáp.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. - Ðáp.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy. - Ðáp.

4) Xin Chúa nhậm những lời miệng con công bố, và sự lòng con suy gẫm trước thiên nhan, lạy Chúa là Ðá tảng, là Ðấng Cứu Chuộc con. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 50, 12a và 14a

Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch. Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ.

Phúc Âm: Mt 25, 31-46

"Những gì các ngươi làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: "Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta". Khi ấy người lành đáp lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?" Vua đáp lại: "Quả thật, Ta bảo các ngươi: Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta".

"Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: "Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!" Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?" Khi ấy Người đáp lại: "Quả thật, Ta bảo cho các ngươi biết, những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta". Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu".

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm

 

    

Sự Sống bác ái

    

Hôm nay, Thứ Hai Tuần 1 Mùa Chay, phụng vụ Lời Chúa vẫn tiếp tục đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), bằng cách "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24). 

Bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Nhật 1 Mùa Chay, Chúa Kitô đã "tự ý bỏ sự sống mình điở chỗ Người đã chay tịnh 40 ngày trong hoang địa, và Người đã "lấy nó lại" ở chỗ nhờ đó Người đã chiến thắng các chước cám dỗ vô cùng thâm độc và hiểm ác của Satan, đúng hơn đã chiến thắng thần chết là ma quỉ. 

Thế nhưng, "sự sống" mà Chúa Kitô "bỏ đi" và "lấy lại" đây là gì, nếu không phải là "sự sống" của bản tính nhân loại Người đã "bỏ đi", một bản tính của loài người đã bị băng hoại bởi nguyên tội và theo nguyên tội, nhưng lại là bản tính đã được Người mặc lấy, nhờ đó "sự sống" tự nhiên nơi nhân tính này của Người đã được Người "lấy lại", ở chỗ Người đã thăng hóa nóđã thần linh hóa nó, một dấu chỉ về Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người nói chung và về Mầu Nhiệm Phục Sinh của Người nói riêng.

"Sự sống" Chúa Kitô đã "bỏ đi" đây nơi cuộc khổ nạn và tử giá là "sự sống" thể lý, sự sống về phần xác của Người, và "sự sống" Ngưòi "lấy lại" đây nơi cuộc phục sinh của Người là "sự sống" thần linh, "sự sống" thiêng liêng, "sự sống" bất tử, "sự sốngđời đời cho nhân loại, một "sự sống" mà họ đã bị mất đi theo nguyên tội và bởi nguyên tội đã được Người phục hồi, tức là "sự sốngđược hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, "sự sống" yêu thương trọn hảo như Chúa.

Khi lãnh nhận Phép Rửa thanh tẩy tái sinh, Kitô hữu đã lãnh nhận "sự sống" đời đời này, tức là đã được tái hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, sống "sự sống" thần linh của Ngài, với Ngài và như Ngài nơi Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã "yêu cho đến cùng" (Gioan 13:1), để nhờ đó họ cũng có thể yêu thương nhau "như Thày đã yêu thương các con(Gioan 13:34, 15:12).

Chính vì "sự sống" thần linh cũng là "sự sống" đời đời này là "sự sống" đức ái trọn hảo "như Thày" mà chỉ có thành phần biết yêu thương nhau như Chúa Kitô mới xứng đáng được hưởng "sự sống" vĩnh hằng với Người mà thôi. 

Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay cho thấy tiêu chuẩn tối hậu nơi cuộc chung thẩm đối với số phận đời đời của con người sống trên trần gian này đó là yêu thương: yêu thương vì Chúa, vì Chúa ở nơi những người anh chị em hèn mọn nhất được đồng hóa với chính Chúa Kitô, nghĩa là yêu Chúa nơi hiện thân của Chúa là những người anh chị em hèn mọn như chúng ta cũng là một trong những người anh chị em hèn mọn ấy đã được Người yêu:

"Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta... Quả thật, Ta bảo các ngươi: Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta".

Thật vậy, theo nguyên tắc, loài người Kitô hữu chúng ta không thể trực tiếp đáp trả tình yêu vô cùng của Thiên Chúa đối với chúng ta qua Con của Ngài, thế nhưng, trên thực tế, chúng ta vẫn có thể gián tiếp đáp trả  tình yêu vô đối của Thiên Chúa, bằng cách yêu thương những người anh chị em hèn mọn nhất được đồng hóa với Con của Ngài, và như thế chúng ta được kể là yêu chính Thiên Chúa, sống chính "sự sống" bác ái trọn hảo của Thiên Chúa, với Thiên Chúa và nhưThiên Chúa. 

Những tình trạng của các người anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô được Người liệt kê trong Bài Phúc Âm hôm nay không phải là những nhu cầu (3 cặp) chỉ thuần về thể lý, mà bao gồm cả về luân lý và tâm linh nữa. 

Chẳng hạn cặp nhu cầu đầu tiên là đói khát, không phải chỉ đói thức ăn và khát nước uống cho thân xác, mà còn bao gồm cả nhu cầu đói khát chân lý, đói khát tin mừng cứu độ nơi nhiều anh chị em chúng ta trên thế giới hiện nay, thành phần đói khát thiêng liêng này thậm chí còn nhiều hơn và đông hơn bao nhiêu lần những anh chị em bị đói khát về thể lý nữa, mà nếu Kitô hữu chúng ta không đáp ứng nhu cầu đói khát chân lý cứu độ này cho họ, bằng chứng từ và hoạt động tông đồ khả dĩ tác hiệu của chúng ta, chúng ta cũng khó lòng phủ nhận hay trốn lánh trách nhiệm của mình trước mặt Chúa trong cuộc chung thẩm

Hay cặp nhu cầu thứ hai là nhu cầu đón tiếp và phục sức đối với những con người anh chị em là khách lạ và bị trần trụi về thể lý còn bao gồm cả nhu cầu đón tiếp về tinh thần là ở chỗ thông cảm và gắn bó với những anh chị em bị bỏ rơi, bị hất hủi, sống cô độc, sống vất vưởng ngoài lề xã hội v.v., và nhu cầu phục sức về tinh thần là ở chỗ tranh đấu để bênh vực quyền lợi cũng như phục hồi phẩm giá cho những người anh chị em yếu thế, dễ bị đàn áp, khai thác và bóc lột trong xã hội.

Hoặc cặp nhu cầu thể lý thứ ba là viếng thăm đối với những anh chị em bệnh nhân và tù nhân về thể lý còn bao gồm cả nhu cầu thăm viếng về tinh thần là quan tâm, cầu nguyện, khuyên bảo và nâng đỡ những người anh chị em yếu đuối và sa ngã phạm tội về luân lý nữa, những người anh chị em sống khô khan nguội lạnh, sống cuộc đời phản đức tin, bỏ đức tin để chạy theo thế gian, làm tôi cho xác thịt, tiền tài và danh vọng chức quyền, bị xác thịt, thế gian và ma quỉ thống trị, giam cầm, đầy ải vô cùng khốn nạn cần được giải phóng.

Theo chiều hướng của bài Phúc Âm về "sự sống" bác ái trọn hảo như thế, Bài Đọc 1 cũng thuật lại những gì Thiên Chúa đã phán dạy dân Do Thái qua trung gian Moisen liên quan đến tha nhân, ở chỗ, về phần tiêu cực, cần phải tránh tất cả những gì xúc phạm đến họ:

"Các ngươi đừng trộm cắp, đừng nói dối, đừng phỉnh gạt kẻ khác, đừng lấy danh Ta mà thề dối, và đừng xúc phạm danh Thiên Chúa các ngươi. Ta là Chúa.

"Các ngươi đừng nhục mạ kẻ khác và đừng hà hiếp họ. Ðừng giam tiền công lại cho đến ngày mai. Ðừng nguyền rủa người điếc, đừng đặt trước kẻ mù vật gì có thể làm cho nó vấp ngã; nhưng các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, vì Ta là Chúa.

"Ðừng làm điều bất công, cũng đừng xét đoán bất công. Ðừng thiên tư kẻ nghèo, cũng đừng nể mặt người quyền thế. Hãy cứ công minh mà xét đoán kẻ khác.Ðừng lăng mạ, cũng đừng gièm pha kẻ khác. Ðừng mưu sát ai. Ta là Chúa.

"Ðừng giữ lòng thù ghét anh em, nhưng hãy răn bảo họ công khai, để khỏi mang tội vì họ. Ðừng tìm báo oán, đừng nhớ lại lời mắng nhiếc của kẻ đồng hương. Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình. Ta là Chúa".

Và lý do duy nhất và trên hết khiến thành phần dân Do Thái được Thiên Chúa ưu tuyển này cần phải tránh tất cả những gì phạm đến tha nhân của họ là vì "Ta là Chúa", một điệp khúc được lập lại ở cuối mỗi lời khuyên "đừng" này "đừng" kia. Nghĩa là vì họ là dân của một Vị Thiên Chúa thánh hảo, mà họ cũng phải thánh hảo như Ngài: "Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Ðấng Thánh, là Thiên Chúa các ngươi". Ở chỗ họ cũng phải tác hành như Ngài, cũng sống "sự sống" thần linh của Ngài, cũng sống "sự sống" bác ái trọn hảo yêu thương như Ngài. 

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa những cảm nhận sâu xa về "luật pháp", "chỉ thị", "giới răn", "mệnh lệnh", "phán quyết" của Chúa "là Đá tảng, là Đấng Cứu Chuộc" của con người, những gì liên quan đến Bài Đọc 1, vì Bài Đọc 1 bao gồm những điều Chúa chỉ dạy dân riêng của Ngài để họ có thể sống hoàn thiện như Ngài:

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. 

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. 

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy.

4) Xin Chúa nhậm những lời miệng con công bố, và sự lòng con suy gẫm trước thiên nhan, lạy Chúa là Ðá tảng, là Ðấng Cứu Chuộc con. 


 

Thứ Ba


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Is 55, 10-11

"Lời Ta thực hiện điều Ta mong muốn".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán: "Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 33, 4-5. 6-7. 16-17. 18-19

Ðáp: Chúa cứu người hiền đức khỏi mọi nỗi âu lo (c. 18b).

Xướng: 1) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. - Ðáp.

2) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tainạn. - Ðáp.

3) Chúa để mắt coi người hiền đức, và tai Người lắng nghe tiếng họ cầu. Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. - Ðáp.

4) Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4,17

Chúa phán: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến".

Phúc Âm: Mt 6, 7-15

"Vậy các ngươi hãy cầu nguyện như thế này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi cầu nguyện, các con đừng nhiều lời như dân ngoại: họ nghĩ là phải nói nhiều mới được chấp nhận. Ðừng làm như họ, vì Cha các con biết rõ điều các con cần, ngay cả trước khi các con xin. Vậy các con hãy cầu nguyện như thế này:

"Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ đến chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

"Vì nếu các con có tha thứ cho người ta những lầm lỗi của họ, thì Cha các con, Ðấng ngự trên trời, mới tha thứ cho các con. Nếu các con không tha thứ cho người ta, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ lỗi lầm cho các con".

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm

 

  

    Sự Sống thiên ý    


Ngày Thứ Ba trong Tuần 1 Mùa Chay hôm nay, đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), được tiếp tục ở bài Phúc Âm về lời cầu nguyện Chúa dạy "các con hãy cầu nguyện như thế này".

Thật vậy, qua nội dung của lời cầu nguyện Chúa Giêsu dạy cho "các môn đệ" trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh sống động của một Vị Thiên Sai, Đấng "từ trời xuống không phải để làm theo ý mình là là ý Đấng đã sai" (Gioan 6:38). Người quả thực đã "bỏ sự sống mình đi" ở chỗ "không làm theo ý mình", mà là "ý Đấng đã sai", nhờ đó, Người "đã lấy sự sống mình lại" ở chỗ Người đã tỏ ra sự sống thần linh thật sự ở nơi Người, sự sống của một Người Con Thiên Chúa mà Người muốn thông ban cho chung con người và riêng Giáo Hội của Người.

Đó là lý do, trong kinh nguyện Chúa dạy vẫn được gọi là Kinh Lạy Cha trong Bài Phúc Âm hôm nay đây, ý nguyện chính yếu, ý nguyện nồng cốt, ý nguyện làm nên các ý nguyện và chi phối các ý nguyện khác đó là ý nguyện: "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời". 

Trước hết, đối với hai ý nguyện đầu là "danh Cha cả sáng" và "nước Cha trị đến", cả hai ý nguyện này sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực nếu thiếu vắng ý nguyện thứ ba "ý Cha thể hiện". 

Điển hình nhất ở nơi chính bản thân và cuộc đời của Chúa Kitô, Đấng đã làm cho "danh Cha cả sáng" khi hoàn thành ý Cha, bằng cuộc khổ nạn và tử giá của Người, nhờ đó và vì thế Người đồng thời cũng đã làm cho "nước Cha trị đến" nơi tâm hồn của những ai tin vào Người, một "nước" hay một vương quốc thần linh đang hiện diện nơi Giáo Hội được Người thiết lập và xuất phát từ cạnh sườn bị đâm vào của Người (xem Hiến Chế Lumen Gentium - 3).

Sau nữa, đối với 3 ý nguyện, đúng hơn 3 ý cầu sau đó cũng thế, cũng liên kết hết sức mật thiết bất khả phân ly với ý nguyện "ý Cha thể hiện" nằm ở giữa như cốt lõi của Kinh Lạy Cha này. 

"Lương thực hằng ngày" ở đây được chúng ta có ý cầu đây là gì, nếu trước hết và trên hết không phải là của ăn phần xác mà chính là việc làm theo và chu toàn ý muốn của Thiên Chúa, như "lương thực của Thày là làm theo ý Đấng sai Thày và hoàn thành các công việc của Ngài" (Gioan 4:34), nhờ đó "ý Cha thể hiện dưới đất ('Nước Cha trị đến') cũng như trên trời ('danh Cha cả sáng')".

"Xin Cha tha nợ chúng con" là ý cầu thứ hai ở phần sau của Kinh Lạy Cha, một ý cầu gắn liền với ý cầu thứ nhất "xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày". Bởi vì, nếu "lương thực hằng ngày" của chúng ta là việc chu toàn ý muốn Thiên Chúa thì bất cứ khi nào và vì bất cứ lý do nào chúng ta không chu toàn ý muốn của Ngài là chúng ta đã làm buồn lòng Ngài, đã không làm "danh Cha cả sáng" và "nước Cha trị đến" như lòng Ngài ước mong nơi chúng ta, và vì thế chúng ta cần được Ngài tha thứ cho.

"Xin chớ đến chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" là ý cầu cuối cùng ở phần hai của Kinh Lạy Cha cũng bất khả tách lìa với ý nguyện thứ 3 "ý Cha thể hiện phần trên và ý cầu thứ 1 "xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày" ở phần dưới. Tại sao? 

Bởi vì, theo kinh nghiệm tu đức sống đạo, Kitô hữu chúng ta, với bản tính nhiễm lây nguyên tội, luôn luôn bị "cám dỗ" làm theo ý riêng của mình và đam mê nhục dục của mình hơn là ý muốn của Thiên Chúa và lề luật của ngài, hơn là tinh thần Phúc Âm của Chúa Kitô, và thường chúng ta bị "sa chước cám dỗ" nếu không có ơn đặc biệt của Thiên Chúa để có thể chẳng những nhận ra chước cám dỗ vô cùng tinh quái quỉ quyệt mà còn chống trả chước cám dỗ cho đến cùng. 

Và "sự dữ" chúng ta cầu xin cho khỏi bị rơi vào hay phạm đến đây là gì, nếu không phải là chính những gì chúng ta dám ngang nhiên và ngạo mạn làm trái với ý muốn toàn thiện và tối thượng của Thiên Chúa, là chính thái độ phạm thượng của chúng ta đối với Thiên Chúa vô cùng cao cả, ở chỗ chúng ta đã coi mình hơn Thiên Chúa, coi ý muốn của Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và toàn năng, quan phòng thần linh trên tất cả mọi sự, không bằng ý muốn thấp hèn thiển cận rất hạ cấp của chúng ta là tạo vật đã được Ngài yêu thương dựng nên và cứu chuộc.

Chính vì là loài người vô cùng thấp hèn, khốn nạn và yếu đuối mà chúng ta tự mình không thể nào không "sa chước cám dỗ", không thể nào không gây ra "sự dữ" là tội lỗi phạm đến Thiên Chúa, và vì thế mà chúng ta, trong ý cầu thứ hai ở phần sau của Kinh Lạy Cha, chúng ta đã "xin Cha tha nợ cho chúng con", ở chỗ "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con", bằng không, không tha cho người khác mà cứ muốn được Thiên Chúa thứ tha là chúng ta đã "sa (vào một) chước cám dỗ" khác đối với anh chị em chúng ta, nghĩa là chúng ta đã gây ra một "sự dữ" khác, ở chỗ chúng ta đã sống hoàn toàn phản nghịch lại với bản tính và sự sống thần linh của chúng ta là đức ái trọn hảo như Cha trên trời của chúng ta (xem Mathêu 4:48).

Bởi thế, trước khi kết thúc bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh ngay sau Kinh Lạy Cha rằng: "Nếu các con có tha thứ cho người ta những lầm lỗi của họ, thì Cha các con, Ðấng ngự trên trời, mới tha thứ cho các con. Nếu các con không tha thứ cho người ta, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ lỗi lầm cho các con".

Đúng vậy, tự mình chúng ta không thể nào trả nợ cho Thiên Chúa là Đấng vô cùng cao cả bị chúng ta xúc phạm, ngoài một cách nhẹ nhàng hơn, dễ dàng hơn và khả dĩ hơn đó là cách chúng ta tha nợ cho anh chị em của chúng ta, những người xúc phạm đến chúng ta, thành phần chỉ là một tạo vật thấp hèn đầy khốn nạn đáng bị xúc phạm hơn ai hết, vì chúng ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa tối cao không bao giờ được xúc phạm đến, bởi thế chúng ta mới đáng bị trừng phạt bằng cách bị người khác xúc phạm đến.

Một khi chúng ta không tha thứ cho anh chị em phạm nhân của chúng ta là chúng ta chứng tỏ chúng ta thực sự chưa hoàn toàn cảm nhận được Lòng Thương Xót Chúa đối với con người khốn nạn tội lỗi của chúng ta, và chưa thấu hiểu được hết tất cả giá trị vô cùng quí báu của ơn Thiên Chúa thứ tha.

Và vì chưa thực sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa và ơn tha thứ của Ngài, mà chúng ta thậm chí còn lấy lòng thù hằn báo oán của mình đối với những người anh chị em phạm nhân của chúng ta để vùi dập đi Lòng Thương Xót Chúa nơi chúng ta, không muốn chia sẻ Lòng Thương Xót Chúa nơi chúng ta qua ơn tha thứ vô cùng bao la bất tận của Ngài ra cho chung tha nhân, nhất là cho riêng thành phần phạm nhân của chúng ta, như chúng ta đã từng là phạm nhân của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, còn một "chước cám dỗ" nữa, nguy hiểm hơn, mà chúng ta cần phải cầu xin "cho khỏi sự dữ" kinh khủng này, đó là "chước cám dỗ" chán nản thất vọng bởi thấy mình tội lỗi quá sức, tội lỗi không ngừng, đến độ chúng ta tiến đến một "sự dữ" trên hết mọi "sự dữ" đó là chúng ta đặt vấn đề với ân sủng của Chúa, cho rằng ân sủng của Chúa không có tác dụng gì nơi chúng ta, nên chúng ta cứ sa ngã phạm tội mãi, không thể nào vươn lên được, không thể nào tránh phạm tội, do đó chúng ta không còn tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa nữa.

Trong khi đó, theo sự khôn ngoan vô cùng của mình, Thiên Chúa vẫn âm thầm làm việc nơi họ, thậm chí để cho họ chết đi, chết đến "xông mùi" (Gioan 11:39) Người mới chịu ra tay, để vinh quang của Ngài càng rạng ngời hơn nơi họ, như nơi trường hợp của tử thi Lazarô bước ra khỏi huyệt mộ theo lời tuyên phán đầy quyền linh tái sinh của Người (xem Gioan 11:43-44), "những lời là thần linh và là sự sống" (Gioan 6:63) có một giá trị và tác dụng thần linh vô cùng công hiệu, như chính Thiên Chúa qua miệng tiên tri Isaia đã khẳng định về Lời của Ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác".

Phải, một khi thực sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, nơi tận cùng khốn nạn của mình, con người càng tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa hơn và tri ân chúc tụng Chúa hơn ai hết và hơn bao giờ hết, như tâm tình và cảm nhận của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. 

2) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tainạn. 

3) Chúa để mắt coi người hiền đức, và tai Người lắng nghe tiếng họ cầu. Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. 

4) Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát. 

  

Thứ Tư


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Gn 3, 1-10

"Dân thành Ninivê đã bỏ đàng tội lỗi".

Trích sách Tiên tri Giona.

Lời Chúa phán cùng Giona rằng: "Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi". Giona chỗi dậy và đi đến Ninivê theo lời Chúa dạy. Ninivê là một thành phố lớn, rộng bằng ba ngày đàng. Giona tiến vào thành phố, đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: "Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá huỷ". Dân thành tin tưởng nơi Chúa; họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ.

Vua thành Ninivê nghe điều đó, liền bỏ ngai vàng, cởi áo cẩm bào, mặc áo nhặm và ngồi trên đống tro. Trong thành Ninivê, người ta rao sắc lệnh sau đây của nhà vua và các vương hầu: "Người, vật, bò, chiên, không được nếm, không được ăn uống gì hết; người và vật phải mặc áo nhặm, phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý thứ tha, nguôi giận và chúng ta khỏi chết?" Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa đổi ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 50, 3-4. 12-13. 18-19

Ðáp: Lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung (c. 19).

Xướng: 1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. - Ðáp.

2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. - Ðáp.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b

Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống".

Phúc Âm: Lc 11, 29-32

"Không ban cho dòng giống này điềm lạ nào ngoài điềm lạ của tiên tri Giona".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại, Chúa Giêsu phán rằng: "Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Ðó là lời Chúa.

 



Suy niệm

 


 Sự Sống dấu lạ    


Hôm nay, Thứ Tư trong Tuần 1 Mùa Chay, đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), được phản ảnh nơi "điềm lạ về tiên tri Giona" trong bài Phúc Âm trong ngày này.

Thật vậy, "điềm lạ về tiên tri Giona" được Chúa Giêsu nói đến khi Người "thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" đây ám chỉ cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc "vượt qua từ sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), từ tử giá đến phục sinh cho phần rỗi các linh hồn. Chính Chúa Giêsu cũng đã công nhận "điềm lạ về tiên tri Giona" này ám chỉ về Người trong Bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Và Bài Đọc 1 được trích từ chính Sách Tiên Tri Giona đã thuật lại "điềm lạ về tiên tri Giona" thứ tự như thế này. 

Trước hết, vị tiên tri đây được lệnh Thiên Chúa sai đến Thành Ninivê để rao giảng thống hối cho thành này"Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi". Vậy điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo "sẽ nói cho người biết" đây là gì, xin đọc tiếp...

Sau nữa, vị tiên tri này đã làm theo đúng như lệnh truyền của Thiên Chúa: "Giona chỗi dậy và đi đến Ninivê theo lời Chúa dạy. Ninivê là một thành phố lớn, rộng bằng ba ngày đàng. Giona tiến vào thành phố, đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: 'Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá hủy'". 

Đó, điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo đó là cảnh báo cho dân thành này về hình phạt họ sẽ phải chịu trong vòng 40 ngày nữa nếu họ không biết ăn năn thống hối? Vậy trước lời cảnh báo nghiêm trọng đầy nguy biến ấy họ có đáp ứng hay chăng? Xin hãy theo dõi tiếp...

Sau hết, toàn thể thành Ninive, từ vua tới dân đều mau mắn tích cực đáp ứng một cách chân thành không thể nào ngờ được lại có thể xẩy ra như thế nơi thành phần dân ngoại, ở chỗ, họ chẳng hề biết đến vị tiên tri này là ai, có đáng tin hay chăng, trong khi đó vấn đề từ bỏ con đường tội lỗi rất ư là khó khăn, đâu phải là chuyện dễ, một sớm một chiều, hay overnight là xong, nhất là hiện tượng từ bỏ tội lỗi một cách tập thể và đồng lòng với nhau như họ đã thực hiện, lại càng không thể nào xẩy ra được như chuyện lạ bốn phương, không tin cũng phải tin, một chuyện hoàn toàn thần tiên đã thật sự xẩy ra theo trình thuật của Bài Đọc 1 hôm nay:

"Vua thành Ninivê nghe điều đó, liền bỏ ngai vàng, cởi áo cẩm bào, mặc áo nhặm và ngồi trên đống tro. Trong thành Ninivê, người ta rao sắc lệnh sau đây của nhà vua và các vương hầu: 'Người, vật, bò, chiên, không được nếm, không được ăn uống gì hết; người và vật phải mặc áo nhặm, phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý thứ tha, nguôi giận và chúng ta khỏi chết?'" 

Phải, cái lạ là ở chỗ đó, ở chỗ vị tiên tri "Giona" hoàn toàn là một con người xa lạ đối với dân thành Ninive ấy, nhưng lại "đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê", như chính Chúa Giêsu khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nayỞ chỗ, qua lời cảnh báo của vị tiên tri này, "dân thành tin tưởng nơi Chúa; họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ", nhờ thế mà "Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa đổi ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó".

"Điềm lạ về tiên tri Giona" là ở chỗ đấy, chứ không phải ở chỗ vị tiên tri đây ban đầu bất tuân lệnh Chúa, tìm hết cách trốn tránh sứ vụ rao giảng cho dân mà ông được Thiên Chúa sai đến, nhưng ông vẫn không thể nào thoát được lưới trời lồng lộng, vẫn bị Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan quan phòng hết mọi sự theo ý định bất biến của Ngài chặn bắt bằng một cơn bão tố, để rồi sau đó ông bị đám thủy thủy trên tầu với ông bất đắc dĩ vứt xuống biển, nơi ông bị cá mập nuốt vào bụng 3 ngày 3 đêm mới nhả ông ra trên bờ biển (xem Giona đoạn 1 và 2).

Sở dĩ trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nhắc đến Tiên Tri Giona là vì dân Do Thái nói chung và thành phần "dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" chung quanh Người bấy giờ nói riêng, cứ đòi phải thấy một điềm lạ nào đó từ Người mới tin vào Người, nhưng Người đã vừa trách móc họ thiếu lòng tin lại đồng thời cũng hứa chiều lòng họ như sau: "Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona". 

Điều Chúa Giêsu hứa với chung dân Do Thái qua thành phần đám đông đang ở với Người bấy giờ đó là lời hứa liên quan đến chính bản thân Người, ở chỗ, như Người đã cho họ biết rõ thêm như sau: "Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy". 

Có nghĩa là cho dù dân thành Ninive vẫn tỏ ra ăn năn thống hối sau khi nghe lời cảnh báo của một nhân vật lạ hoắc là tiên tri Giona, không cần phải cứ thấy điềm lạ mới chịu tin như dân Do Thái, một dân tộc có một bản chất cố hữu bất khả thiếu và bất khả thay đổi của họ đó là thích điềm lạ và cái gì cũng căn cứ vào điềm lạ, hoàn toàn ngược với dân Hy Lạp thiên về lý trí và triết học, vì điềm lạ đối với dân Do Thái như là dấu chỉ thần linh, dấu chỉ thần hiển của Thiên Chúa, dấu chỉ chắc chắn nhất và bảo đảm nhất cho niềm tin tưởng siêu nhiên của họ.

Tuy nhiên, Vị Thiên Chúa hóa thân làm người còn tiếp tục hội nhập văn hóa với loài người, với từng dân tộc, để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó giúp cho họ có thể dễ dàng tin tưởng vào Người mà được cứu độ. Bằng không, họ sẽ bị trừng phạt xứng với tội lỗi của họ bởi họ không tin tưởng vào một Đấng còn cao trọng hơn cả Giona nữa, như Người cảnh báo họ trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Đúng thế, "Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy". Ở chỗ nào? Ở chỗ, cho dù họ không chịu tin vào Người cho đến khi thấy được một điềm lạ nào đó từ Người, mà Người vẫn có thể làm cho họ tin vào Người, khi chính Người trở nên điềm lạ cho họ. 

Điềm lạ về Chúa Giêsu Kitô cho giòng dõi gian ác này đây phải chăng là như thế này: cho dù Người có thể xuống khỏi thập giá nhưng Người vẫn không làm, trái lại, "tuy là con, nhưng Người đã biết tuân phục nơi những gì phải chịu để khi hoàn thành Người trở nên căn nguyên cứu độ cho tất cả những ai tín phục Người" (Do Thái 5:8-9).

Bởi vì, theo Người, chỉ còn một cách duy nhất đó thôi mới chứng thực Người là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, Đấng được Cha là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ sai đến để giải thoát họ, không phải khỏi quyền lực chính trị mà khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Đó là lý do Người đã khẳng định về bản thân Người là điềm lạ cho dân của Người như sau: "Khi nào quí vị treo Con Người lên, quí vị sẽ nhận ra Tôi là ai và biết rằng Tôi không tự ý làm gì hết" (Gioan 8:28).

Nếu lời giảng tiên khởi của Chúa Giêsu khi Người mới bắt đầu xuất thân tỏ mình ra là "Triều đại Thiên Chúa đã đến. Hãy hoán cải và tin vào phúc âm" (Marco 1:15), thì việc Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân Do Thái như là "Triều đại Thiên Chúa đã đến", đến như một điềm lạ trên thập tự giá, nhờ đó họ "hoán cải và tin vào Người", hay tin vào Người mà hoán cải cũng thế. 

Bởi vậy, tác dụng đầu tiên của việc tỏ mình ra của Chúa Kitô cho dân Do Thái như một điềm lạ đó là làm cho họ thống hối ăn năn như dân Thánh Ninive về tội lỗi của họ bằng tất cả tâm hồn của họ. Và việc tỏ mình ra của Chúa Kitô như một điềm lạ trên thập tự giá là tác động Người "tự bỏ sự sống mình đi" nhưng Người đã "lấy nó lại" ở chỗ đã làm cho sự sống đó phát sinh nơi những ai "tín phục" Người, như tâm tình của Bài Đáp Ca sau đây bày tỏ:

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. 

2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. 

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. 

 

Ngày 17: Bảy thánh lập dòng tôi tớ Ðức mẹ

Bảy vị thánh là bảy thương gia tên tuổi xứ Florence thuộc dòng tộc Toscane sống vào thế kỷ XIII. Sau khi được ơn soi sáng nhân ngày lễ Ðức Mẹ lên trời, bảy anh em đều có cùng một chí hướng tận hiến làm tôi Chúa và mở nước Ðức Mẹ, đã bán hết của cải phân phát cho người nghèo rồi lui về đồng quê ở trong một căn nhà tồi tàn để ngày đêm suy niệm sự thương khó Chúa Giêsu cùng những sự khổ đau của Mẹ Thánh Người. Mục đích của các ngài là rao giảng Chúa Giêsu chịu đóng đinh và những thống khổ của Ðức Mẹ. Dù gặp khó khăn, nhưng dòng đã bành trướng mạnh mẽ. Ðến thế kỷ XIV, nhà dòng đã đảm nhận việc truyền giáo ở Ấn Ðộ cũng như nhiều cơ sở được thiết lập ở Anh và Mỹ Châu. Sau đây là một vài nét về mỗi vị thánh:

- Cha Morandi sinh năm 1198 ở Florence, cao niên nhất và làm Bề Trên dòng trong 16 năm đầu và được Chúa gọi về ngày 01/01/1262.

- Cha Bonandi Untêmati chào đời năm 1206, tính hiền hòa và có nhiều tài. Ngài rất ưa thích đời sống thinh lặng suy niệm sự thương khó Chúa Giêsu và Ðức Mẹ. Người từ trần ngày 31/8/1257.

- Cha Monetto Antelara với trí thông minh hiếm có, ngài đã trau dồi văn chương và thần học. Ngày 20/8/1268, ngài được Chúa cất về trời.

- Cha Amideo sinh năm 1024, gia đình ngài bị tản mác vì chiến tranh. Tính tình luôn vui vẻ trẻ trung trong một tâm hồn quảng đại và trong trắng. Ngài mất ngày 18/4/1266.

- Cha Sottinêo và cha Ugucxio là hai người bạn thân thiết từ hồi thơ ấu. Sottinêo thích đời sống tĩnh mịch và suy niệm. Ugucxio yêu thích hoạt động bác ái giúp đỡ người nghèo và bệnh nhân. Cả hai là cánh tay phải của dòng và đều được Chúa cất về ngày 03/5/1282.

- Thầy Alêxu Phacônêri sinh năm 1200, trẻ tuổi nhất và sống lâu nhất trong dòng. Mặc dù được trí thông minh đặc biệt, nhưng luôn sống khiêm tốn, chân thành và trọng đức khiết tịnh. Ngài được Chúa gọi về khi đầy 110 tuổi.

Mộ các ngài được xây cất cùng một nơi và Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phong các ngài lên bậc Hiển Thánh của Giáo Hội.



Thứ Năm


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Et 14, 1. 3-5. 12-14

"Lạy Chúa, con không có sự trợ giúp nào khác ngoài Chúa".

Trích sách Esther.

Trong những ngày ấy, nữ hoàng Esther kinh hoàng vì lâm nguy, nên tìm nương tựa nơi Chúa. Bà nài xin Chúa là Thiên Chúa Israel rằng: "Lạy Chúa con, chỉ mình Chúa là Vua chúng con, xin cứu giúp con đang sống cô độc, ngoài Chúa không có ai khác giúp đỡ con. Con đang lâm cơn nguy biến. Lạy Chúa, con nghe cha con nói rằng Chúa ưu đãi Israel hơn mọi dân tộc, ưu đãi cha ông chúng con hơn bậc tiền bối của các ngài, đã nhận các ngài làm phần cơ nghiệp muôn đời và đã thực thi lời hứa với các ngài.

"Lạy Chúa, xin hãy nhớ (đến chúng con) và hãy tỏ mình ra cho chúng con trong cơn gian truân của chúng con. Lạy Chúa là Vua các thần minh và mọi bậc quyền bính, xin ban cho con lòng tin tưởng. Xin đặt trong miệng con những lời khôn khéo trước mặt sư tử, xin Chúa đổi lòng sư tử để nó ghét kẻ thù của chúng con, để kẻ thù ấy và những ai đồng loã với hắn sẽ phải chết. Nhưng phần chúng con, thì xin Chúa ra tay giải thoát chúng con và phù trợ con, vì lạy Chúa, ngoài Chúa là Ðấng thông suốt mọi sự, không ai giúp đỡ con".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 137, 1-2a. 2bc-3. 7c-8

Ðáp: Lạy Chúa, khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con (c. 3a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, vì Chúa đã nghe lời miệng con xin; trước mặt các Thiên Thần, con đàn ca mừng Chúa, con sấp mình thờ lạy bên thánh điện Ngài. - Ðáp.

2) Và con sẽ ca tụng uy danh Chúa, vì lòng nhân hậu và trung thành của Chúa. Khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con, Chúa đã ban cho tâm hồn con nhiều sức mạnh. - Ðáp.

3) Tay hữu Chúa khiến con được sống an lành. Chúa sẽ hoàn tất cho con những điều đã khởi sự, lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

Phúc Âm: Mt 7, 7-12

"Ai xin thì sẽ nhận được".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho. Nào ai trong các con thấy con mình xin bánh, mà lại đưa cho nó hòn đá ư? Hay là nó xin con cá mà lại trao cho nó con rắn ư? Vậy nếu các con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!

"Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế: Ðấy là điều mà Lề luật và các tiên tri dạy".

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm


  

Sự Sống nguyện cầu    


Ngày Thứ Năm trong Tuần 1 Mùa Chay hôm nay, cũng như các ngày khác trong Mùa Chay, dù vấn đề gì thì vấn đề, có khác nhau chăng nữa, như vấn đề bác ái, cầu nguyện và chay tịnh (thống hối) là bộ ba tu đức Mùa Chay, như bài Phúc Âm mở đầu Mùa Chay hôm Thứ Tư Lễ Tro cho thấy, và còn là các vấn đề được lập đi lập lại ở các bài Phúc Âm trong tuần thứ nhất Mùa Chay này, nhưng điểm chung vẫn là đức tin, tin vào Đấng "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17) cho phần rỗi của chung nhân loại và của riêng những ai tin vào Người.

Phụng vụ Lời Chúa cho Thứ Năm Tuần 1 Mùa Chay hôm nay, bao gồm cả Bài Đọc 1 lẫn Bài Phúc Âm, đều liên quan đến việc cầu nguyện, đúng hơn và sát nghĩa hơn, liên quan đến việc cầu xin. Cầu xin là một trong những tác động chính yếu của việc cầu nguyện: chúc tụng, cảm tạ, đền tạ và van xin. Cầu xin là tác động cầu nguyện liên quan đến nhu cầu của bản thân chủ thể cầu xin.

Đó là lý do Chúa Giêsu đã không nói đến vấn đề cầu nguyện, như Người đã nói tới trong Bài Phúc Âm Thứ Ba tuần này về Kinh Lạy Cha, mà là vấn đề cầu xin "cùng các môn đệ" của Người như sau: "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho". Chẳng những thế, Người còn bảo đảm về thành quả mỹ mãn của việc cầu xin nữa: "Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho". 

Thậm chí Người như thể sợ chúng ta không tin vào lời cam đoan bảo đảm bất khả sai lầm và lừa dối của mình, Người đã nêu lên một chứng cớ đầy thuyết phục bất khả chối cãi theo lập luận trần gian đó là: 

"Nào ai trong các con thấy con mình xin bánh, mà lại đưa cho nó hòn đá ư? Hay là nó xin con cá mà lại trao cho nó con rắn ư? Vậy nếu các con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!"

Nghĩa là Người cố ý phấn khích lòng tin tưởng của chúng ta khi chúng ta kêu xin hay cầu xin cùng Thiên Chúa là Cha của chúng ta ở trên trời, Đấng thấu biết chúng ta còn hơn chúng ta biết mình và yêu thương chăm sóc cho chúng ta còn hơn chúng ta tự lo cho mình, nên cũng chỉ có Ngài mới biết cái gì có lợi cho chúng ta nhất, chẳng những cho chúng ta mà còn cho cả anh chị em chúng ta nữa, cho chung xã hội và Giáo Hội, Ngài sẽ ban cho chúng ta, cho dù chúng ta không xin hay không biết mà xin.

Thậm chí kể cả những lúc chúng ta cầu xin mà không được như ý, thì ở một nghĩa nào đó Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời cũng đã nhận lời chúng ta xin Ngài rồiở chỗ không ban cho chúng ta được đúng như ý chúng ta cầu xin, nhưng thay vào đó Ngài ban cho chúng ta những ơn quan trọng hơn, cần thiết hơn, quí báu hơn, miễn là làm sao mang lại lợi ích tối đa cho cả chúng ta lẫn cộng đồng của chúng ta (gia đình, hội đoàn, giáo xứ, giáo phận, quốc gia, Giáo Hội, thế giới).

Phải chăng đó là lý do, kèm theo lời hứa: "bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho", Chúa Giêsu còn nhắc nhở cho thành phần cầu xin cùng Thiên Chúa rằng Thiên Chúa là Cha phải biết lo cho con cái của mình những gì có lợi cho chúng chứ không phải cho chúng những cái tai hại, cho dù chúng có xin mình: "nếu các con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!".

Bởi thế, mỗi lần chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời mà không được như ý thì chúng ta đừng cho rằng lời Chúa Giêsu phán "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho... Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho" là lời hứa hão huyền, lừa đảo, kẻo chúng ta phải trả lẽ trước mặt Chúa về những ý nghĩ lộng ngôn phạm thượng này. 

Còn ai giầu sang phú quí và viên mãn bằng Thiên Chúa, và còn ai muốn thông mình ra, muốn ban phát bằng Ngài, đến độ Ngài đã ban cho thế gian chúng ta chỉ là loài tạo vật vô cùng thấp hèn và bất xứng chính Con Một Mình là Bản Thân của Ngài cho chúng ta thì Ngài còn tiếc gì với chúng ta nữa (xem Gioan 3:16; Roma 8:32). 

Có những lúc chúng ta chẳng xin mà cũng được Ngài tự động ban cho chúng ta những gì ngoài lòng mong muốn của chúng ta. Chẳng hạn Ngài ban ơn cứu độ cho chúng ta khi chúng ta vừa mới chào đời chưa biết gì cả, cho chúng ta được trở thành con cái Thiên Chúa vô cùng cao cả, hay tuyển chọn chúng ta làm linh mục, giám mục v.v. trong khi chúng ta chẳng có công gì và hoàn toàn bất xứng v.v., hoặc cho chúng ta tài khéo hơn người, xinh đẹp hơn người, thành đạt hơn người, dù họ cũng có tài và hoàn cảnh như chúng ta hoặc hơn chúng ta...

Nếu Thiên Chúa đã tự động ban cho chúng ta biết bao nhiêu là ơn lành mà chúng ta không xin, ngoài lòng mong ước của chúng ta, thì khi chúng ta ngỏ lời xin cùng Ngài, chẳng nhẽ Ngài lại không đáp ứng chúng ta hay sao? Nếu Ngài không ban cho chúng ta ơn chúng ta xin thì cũng chắc chắn ban cho chúng ta ơn khác thay thế, có lợi cho chúng ta hơn, cần cho chúng ta hơn, mang lại ích lợi chung nữa, theo thượng trí vô cùng khôn ngoan và lòng yêu thương nhưng không vô hạn của Ngài đối với từng người con cái của Ngài và chung con cái của Ngài

Chưa hết, ngoài niềm tin là điều kiện bất khả thiếu để xin gì được nấy, ở cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu còn nhắc đến một điều kiện nữa, không kém phần quan trọng và bất khả tách rời với đức tin đó là bác ái yêu thương, nghĩa là "tất cả những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế: Ðấy là điều mà Lề luật và các tiên tri dạy".

Qua câu nhắc nhở này, Chúa Giêsu dường như muốn bảo chúng ta rằng chúng ta mong muốn Cha trên trời đáp ứng những gì chúng ta cầu xin thế nào thì chúng ta cũng cần phải đáp ứng nhu cầu cần thiết của anh chị em chúng ta như vậy, hay còn có nghĩa là chúng ta nhận được những gì Thiên Chúa ban chúng ta cũng phải mang ra san sẻ với những người khác như thế, nhất là những anh chị em thiếu thốn khốn khổ hơn chúng ta về bất cứ phương diện nào trong đời sống mà chúng ta gặp thấy, hay được Chúa quan phòng gửi đến cho chúng ta.

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Esther, chúng ta thấy hội tụ đầy đủ hai yếu tố tin tưởng và bác ái nơi lời cầu xin của hoàng hậu Esther người Do Thái trong cuộc khủng hoảng của dân tộc bà nơi chốn lưu đầy ở chỗ họ sắp sửa bị tru diệt bởi quyền lực ngoại bang mà chỉ còn duy có một mình bà là người duy nhất có thể cứu vãn tình thế. Đức tin của hoàng hậu Esther được bày tỏ trong lời cầu xin của bà như sau:

"Trong những ngày ấy, nữ hoàng Esther kinh hoàng vì lâm nguy, nên tìm nương tựa nơi Chúa. Bà nài xin Chúa là Thiên Chúa Israel rằng: 'Lạy Chúa con, chỉ mình Chúa là Vua chúng con, xin cứu giúp con đang sống cô độc, ngoài Chúa không có ai khác giúp đỡ con. Con đang lâm cơn nguy biến. Lạy Chúa, con nghe cha con nói rằng Chúa ưu đãi Israel hơn mọi dân tộc, ưu đãi cha ông chúng con hơn bậc tiền bối của các ngài, đã nhận các ngài làm phần cơ nghiệp muôn đời và đã thực thi lời hứa với các ngài".

Bà cầu xin không phải cho riêng bản thân bà cho bằng cho chung dân tộc của bà đang lầm cơn nguy biến hết sức kinh hoàng và khủng khiếp nơi đất khách quê người:

"Lạy Chúa, xin hãy nhớ (đến chúng con) và hãy tỏ mình ra cho chúng con trong cơn gian truân của chúng con. Lạy Chúa là Vua các thần minh và mọi bậc quyền bính, xin ban cho con lòng tin tưởng. Xin đặt trong miệng con những lời khôn khéo trước mặt sư tử, xin Chúa đổi lòng sư tử để nó ghét kẻ thù của chúng con, để kẻ thù ấy và những ai đồng loã với hắn sẽ phải chết. Nhưng phần chúng con, thì xin Chúa ra tay giải thoát chúng con và phù trợ con, vì lạy Chúa, ngoài Chúa là Ðấng thông suốt mọi sự, không ai giúp đỡ con".

Thành quả của lời hoàng hậu Esther cầu xin với đầy đủ hai yếu tố chính yếu là đức tin và bác ái này đã được Thiên Chúa hoàn toàn đáp ứng, ở chỗ dân tộc của bà đã thoát nạn. Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa tâm tình tri ân cảm tạ Thiên Chúa là Đấng luôn để ý đến con cái mình và đáp ứng nhu cầu của chúng khi chúng cầu xin cùng Ngài bằng tất cả lòng tin tưởng đầy yêu thương như Ngài mong muốn:

1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, vì Chúa đã nghe lời miệng con xin; trước mặt các Thiên Thần, con đàn ca mừng Chúa, con sấp mình thờ lạy bên thánh điện Ngài. 

2) Và con sẽ ca tụng uy danh Chúa, vì lòng nhân hậu và trung thành của Chúa. Khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con, Chúa đã ban cho tâm hồn con nhiều sức mạnh. 

3) Tay hữu Chúa khiến con được sống an lành. Chúa sẽ hoàn tất cho con những điều đã khởi sự, lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa.


 

Thứ Sáu


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Ed 18, 21-28

"Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?"

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: "Nếu kẻ gian ác ăn năn sám hối mọi tội nó đã phạm, tuân giữ mọi giới răn của Ta, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ sống chớ không phải chết. Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành! Chúa là Thiên Chúa phán: "Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?

Còn nếu kẻ công chính bỏ đàng công chính, và phạm tội ác cách ghê tởm như người gian ác quen phạm, có phải nó được sống ư? Chẳng ai còn nhớ đến mọi việc công chính nó đã thực hiện, vì sự bất trung nó đã làm và tội lỗi nó đã phạm, nó sẽ phải chết.

Các ngươi nói rằng: "Ðường lối của Chúa không chính trực". Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Có phải đường lối của Ta không chính trực ư? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 129, 1-2. 3-4ab. 4c-6. 7-8

Ðáp: Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? (c. 3)

Xướng: 1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. - Ðáp.

2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. - Ðáp.

3) Tôi hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn tôi trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn tôi mong đợi Chúa tôi, hơn người lính gác mong trời rạng đông. - Ðáp.

4) Hơn lính gác mong hừng đông dậy, Israel đang mong đợi Chúa tôi: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israelcho khỏi mọi điều gian ác. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

Phúc Âm: Mt 5, 20-26

"Hãy đi làm hoà với người anh em ngươi trước đã".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu. Các con đã nghe dạy người xưa rằng: Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là "ngốc", thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là "khùng", thì sẽ bị vạ lửa địa ngục. Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ. Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho con biết: Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"

Ðó là lời Chúa.

 


Suy niệm


Sự Sống hòa giải   


Hôm nay, Thứ Sáu trong Tuần 1 Mùa Chay, vấn đề chính yếu của Phụng Vụ Lời Chúa cho ngày này đó là vấn đề hòa giải, hòa giải với nhau giữa loài người, (nội dung của Bài Phúc Âm), và hòa giải với Thiên Chúa, (nội dung của Bài Đọc 1), một vấn đề hòa giải vẫn phản ảnh chủ đề chung cho Mùa Chay về một Chúa Kitô "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17) để mang lại sự hòa giải giữa con người với Thiên Chúa và với nhau.

Trước hết, trong Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ của Người là thành phần mà Người muốn họ phải "công chính hơn các luật sĩ và biệt phái" thực hiện một hành động hòa giải thật là khó khăn, hoàn toàn trái với tự nhiên và đầy tính cách nhu nhược theo lập luận loài người, như sau: 

"Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ". 

Căn cứ vào lời khuyên dạy trên đây của Chúa Giêsu thì nạn nhân cần phải đi làm hòa cùng phạm nhân, chứ không phải ai có lỗi thì người ấy phải xin lỗi mới đúng, mới hợp tình hợp lý và mới hợp với phép công bình. 

Đó là ý nghĩa sống trọn lành hơn, sống không theo tự nhiên như dân ngoại, không theo lập luận bình thường của trần gian, mà Chúa Giêsu mong muốn nơi các môn đ của Người, thành phần muốn theo Người, Đấng đã tự động đến làm hòa với con người thụ tạo là thành phần đã phạm đến Cha của Người cũng như đến chính Người là Thiên Chúa của họ.

Ở đây Chúa Giêsu đề cao đức bác ái hơn là lễ vật hiến dâng trên bàn thờ, đúng hơn, Người dạy chúng ta là thành phần môn đệ sống trọn lành hơn của Người là hãy dâng lễ vật bằng cả một tấm lòng yêu thương, chứ không phải với một tấm lòng còn đầy những hận thù và ghen ghét. 

Bởi vì, có yêu thương họ mới xứng đáng dâng lễ vật lên chính Đấng đã "yêu thương thế gian đến ban Con Một của mình", đã "không dung tha cho Con Một của mình một đã phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), và mới xứng đáng dâng lễ vật với Đấng "đã hiến mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mathêu 20:28), Đấng chỉ "cần lòng nhân lành hơn là lễ vật" (Mathêu 9:13).

Và hành động "hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễđây không phải là, chẳng hạn, như vào lúc mở đầu Thánh Lễ, bắt đầu phần thống hối, chúng ta thấy chúng ta đang bất mãn và bực bội với một người anh chị em nào của chúng ta, vì họ đã xúc phạm đến chúng ta một cách nào đó, vô tình hay cố ý, bằng lời nói hay việc làm v.v., thì chúng ta cần phải ra khỏi nhà thờ, lái xe về gặp họ để làm hòa với họ, để gọi là "xin lỗi" họ, đúng như lời Chúa dạy theo nghĩa đen.

Hành động "hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễđây là ở chỗ chỉ cần ngay giây phút cộng đồng phụng vụ bấy giờ đang cử hành nghi thức thống hối đầu lễ, chúng ta hãy tự động bỏ qua cho phạm nhân của chúng ta, thế là đủ, thế là xong, thế là xứng đáng tham dự Thánh Lễ, xứng đáng dâng Thánh Lễ và xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể là bí tích yêu thương và hiệp thông

Nếu chúng ta là nạn nhân của thành phần phạm nhân của chúng ta không tự động làm hòa với họ, bằng cách tự động bỏ qua tha thứ cho họ, như chúng ta đã được Thiên Chúa giầu lòng thương xót liên lỉ thứ tha, không bao giờ cùng, chúng ta sẽ trở thành nạn nhân gấp đôi, nghĩa là chúng ta vừa là nạn nhân của họ vừa là nạn nhân của chính chúng ta nữa. Mà là nạn nhân của chính mình mới càng khổ hơn là nạn nhân của phạm nhân. Tại sao? 

Tại vì chúng ta lúc nào cũng cảm thấy nặng lòng, cũng cảm thấy sợ ma ban ngày, không dám đến gần họ, thấy bóng họ ở chỗ này thì chúng ta tránh ngay đi chỗ khác, có họ thì không có chúng ta v.v. Họ có trong hội đoàn này thì chúng ta bỏ hội đoàn đó hay không tham gia vào cùng một hội đoàn với họ. 

Họ làm được gì hay ho hoặc được khen tặng chúng ta cảm thấy ghen tương và tìm cách hạ họ xuống, vì họ là phạm nhân xấu xa của chúng ta làm sao xứng đáng như thế được v.v. Cho đến khi chúng ta thật lòng tha cho họ, chẳng cần họ phải đến xin lỗi chúng ta, và chẳng cần biết họ vô tình hay cố ý phạm đến chúng ta, bấy giờ chúng ta mới cảm thấy thật sự là nhẹ nhàng, như được giải phóng vậy.

Đó là lý do Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta hết sức chí lý trong Bài Phúc Âm hôm nay, để nhờ đó chúng ta thoát được tình trạng trở thành nạn nhân gấp đôi, sống một cách hết sức khốn khổ, bất an, bất hạnh, chẳng khác gì như một tù nhân mất hết tự do, trong đời sống đạo, trong cuộc hành trình đức tin của mình với họ và như họ: 

"Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho con biết: Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"

"Hãy liệu làm hoà với kẻ thù": Chúng ta là nạn nhân phải đi "làm hòa với kẻ thù" của chúng ta, chứ không ngược lại, nghĩa là bỏ qua tha thứ cho "kẻ thù" của mình.

"Ngay lúc còn đi dọc đường với nó": Nghĩa là, trước hết, là "lúc" chúng ta với họ còn sống, chứ đừng chờ tới khi họ chết rồi mới chịu tha thứ một cách bất đắc dĩ, và sau nữa còn là "lúc" chúng ta và họ vẫn còn liên hệ với nhau, trong một gia đình, trong một hội đoàn, trong một giáo xứ, trong một trường học, trong một văn phòng v.v. 

"Kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà", ở chỗ chính phạm nhân của chúng ta trở thành những gì làm cho chúng ta là nạn nhân của họ bị nhức nhối trong lương tâm, một lương tâm đóng vai "quan tòa" của chúng ta bấy giờ.

"Quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục", ở chỗ nếu chúng ta không tự động bỏ qua tha thứ cho phạm nhân của chúng ta, thì "tên lính" tiêu biểu cho thái độ chấp nhấp nơi chúng ta sẽ "tống" chúng ta vào "ngục" thất hẹp hòi là chính cõi lòng vị kỷ bất vị tha của chúng ta. 

"Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!", nghĩa là cho tới khi nào chúng ta là nạn nhân tự động tha thứ cho phạm nhân của mình thì bấy giờ, và chính vào lúc bấy giờ, chúng ta mới được thật sự tự do, mới thanh thoát mà bình an vui sống vươn lên, đúng như kinh nghiệm thực tế cho thấy đúng là như vậy!

Sau nữa, trong Bài Đọc 1 hôm nay, qua miệng Tiên Tri Êzêkiên, vấn đề hòa giải với Thiên Chúa là ở chỗ con người tỏ ra hoán cải trở về với Ngài, Đấng thật ra đã hòa giải với loài người tội nhân trước, ở chỗ, đã tự động hứa ban Đấng Cứu Thế cho loài người ngay sau nguyên tội của họ (xem Khởi Nguyên 3:15), vì Thiên Chúa dựng nên con người là để họ được hạnh phúc chân thực và vĩnh viễn, chứ không bao giờ lại mong muốn họ bị hư đi hay sống một cách khốn khổ: "Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?"

Thế nhưng, ơn cứu độ của Ngài và hạnh phúc trường sinh của Thiên Chúa chỉ giành cho những ai xứng đáng lãnh nhận mà thôi, ở chỗ, cho dù tự bản chất con người vốn yếu hèn và tội lỗi, miễn là họ biết hoán cải bằng việc từ bỏ tội lỗi và sống công chính, như dân thành Ninive trong Bài Đọc 1 hôm kia, và như chính Ngài đã minh định trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Nếu kẻ gian ác ăn năn sám hối mọi tội nó đã phạm, tuân giữ mọi giới răn của Ta, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ sống chớ không phải chết. Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành!"

Tuy nhiên, sự sống đây là sự sống thần linh, sự sống công chính, sự sống chân thật, nên không thể nào nay còn mai mất, mà phải kéo dài và tồn tại mãi mãi nơi những ai sống công chính, bằng không, họ vẫn có thể gặp nguy hiểm vì họ còn đang làm chủ sự công chính chứ không phải sự công chính làm chủ họ. Và vì sự công chính chưa làm chủ họ mà họ vẫn có thể bị chết nếu họ bất trung vì tự họ đã làm mất đi sự công chính của họ: 

"Còn nếu kẻ công chính bỏ đàng công chính, và phạm tội ác cách ghê tởm như người gian ác quen phạm, có phải nó được sống ư? Chẳng ai còn nhớ đến mọi việc công chính nó đã thực hiện, vì sự bất trung nó đã làm và tội lỗi nó đã phạm, nó sẽ phải chết".

Tuy nhiên, tự bản chất vừa mù quáng vừa yếu nhược của mình, con người không thể nào tự mình có thể nên công chính và tự mình có thể sống công chính mãi mãi đúng như ý muốn của Thiên Chúa, ngoại trừ tin tưởng cậy trông vào Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu độ họ, là Đấng sẵn sàng tha thứ cho họ và tìm hết cách để thánh hóa họ, để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó, nhờ nhận biết Ngài mà họ được hiệp thông thần linh với Ngài, đúng như mục đích Ngài đã tạo dựng nên họ và cứu chuộc họ.

Bởi thế mà Bài Đáp Ca hôm nay mới chất chứa những cảm thức thần linh và tâm tình gắn bó đầy cậy trông tin tưởng của con người biết mình với Vị Thiên Chúa "rộng lượng từ bi, và rất giàu ơn cứu độ": 

1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. 

2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. 

3) Tôi hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn tôi trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn tôi mong đợi Chúa tôi, hơn người lính gác mong trời rạng đông. 

4) Hơn lính gác mong hừng đông dậy, Israel đang mong đợi Chúa tôi: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israelcho khỏi mọi điều gian ác. 


Thứ Bảy


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Ðnl 26, 16-19

"Ðể ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi".

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Môsê đã nói với dân chúng rằng: "Hôm nay Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho ngươi phải thi hành các lề luật và các huấn lệnh này; ngươi phải tuân giữ và thực thi các điều đó hết lòng và hết tâm hồn. Hôm nay ngươi đã chọn Chúa làm Thiên Chúa, thì hãy bước đi trong đường lối Người, tuân giữ các lề luật, giới răn và huấn lệnh của Người; hãy vâng lệnh Người. Hôm nay Chúa đã chọn ngươi làm dân riêng Chúa, như Người đã phán với ngươi, thì ngươi hãy tuân giữ mọi giới răn của Người. Người sẽ làm cho ngươi được vinh quang, thanh danh và huy hoàng hơn mọi dân tộc Người đã tạo dựng, để ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi, như Người đã phán".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 118, 1-2. 4-5. 7-8

Ðáp: Phúc cho những ai tiến thân trong Luật pháp của Chúa (x. c. 1b).

Xướng: 1) Phúc cho những ai theo đường lối tinh toàn, họ tiến thân trong Luật pháp của Chúa. Phúc cho những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm kiếm tìm Ngài. - Ðáp.

2) Phần Chúa, Ngài ban bố những huấn lệnh, cốt để người ta tuân giữ hết sức âncần. Nguyện cho đường lối của con vững chắc, để tuân giữ các thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

3) Con ca tụng Chúa với lòng đoan chính, khi học hỏi những thánh dụ của Ngài. Thánh chỉ của Chúa, con tuân giữ, xin Chúa đừng triệt để bỏ rơi con! - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Am 5, 14

Các ngươi hãy tìm điều lành, chớ đừng tìm điều dữ, để các ngươi được sống và Chúa sẽ ở cùng các ngươi.

Phúc Âm: Mt 5, 43-48

"Các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa phán cùng các môn đệ rằng: "Các con đã nghe dạy: Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù. Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con; hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con, để như vậy các con nên con cái của Cha các con, Ðấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương những ai mến trọng các con, thì các con được công phúc gì? Các người thu thuế không làm như thế ư? Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các con đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm thế ư? Vậy các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Ðấng hoàn hảo".

Ðó là lời Chúa.


Suy niệm


   

Sự Sống trọn lành


Ngày Thứ Bảy cuối cùng của Tuần 1 Mùa Chay hôm nay vấn đề chính của chung Phụng Vụ Lời Chúa là vấn đề về thánh hóa, vấn đề nên trọn lành, một vấn đề không thể tách rời với Chúa Kitô là Đấng "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay, nhờ đó "chiên (của Người) được sự sống (tái sinh) và là sự sống viên mãn hơn (trọn lành thánh thiện như Người và như Cha trên trời)" (Gioan 10:10). 

Chính Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay đã kêu gọi "các môn đệ" của Người, thành phần Người đã đặc biệt nhắc bảo các vị trong bài Phúc Âm hôm qua là phải "công chính hơn các luật sĩ và biệt phái", rằng: "Các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Ðấng hoàn hảo". Nhưng làm sao có thể "nên hoàn hảo như Cha", và "nên hoàn hảo như Cha" ở chỗ nào hay như thế nào?

Thật sự con người tạo vật chúng ta không thể nào và không bao giờ có thể "nên hoàn hảo như Cha", trước hết, về khả năng, vì chúng ta chỉ là loại tạo vật vô cùng bất toàn và bất lực không thể nào tự mình có thể nên giống Thiên Chúa vô cùng hoàn hảo tốt lành. 

Sau nữa, về đối tượng, con người hoàn toàn mù tịt không biết gì về Thiên Chúa, Đấng họ chỉ có thể dùng lý trí tự nhiên để nhận biết rằng Ngài thực sự hiện hữu, cùng lắm chỉ đến thế thôi, nhưng là Đấng như thế nào và ra sao liên quan đến bản tính thần linh và sự sống thần linh nơi Ngài và của Ngài như một thực tại thần linh vô cùng siêu việt thì họ không thể nào biết được, do đó họ làm sao có thể nên giống Ngài đây

Sau hết, về tư cách, con người lấy tư cách nào để dám cho rằng mình có được một mối liên hệ với Thiên Chúa, thân tình đến độ có thể hiệp nhất nên một với Ngài để nên giống như Ngài và tác hành như Ngài chứ?

Thế nhưng, ở đây, ơn gọi nên trọn lành này chỉ giành riêng cho thành phần môn đệ của Chúa Giêsu, Đấng "vì họ đã tự hiến để họ được thánh hóa trong chân lý" (Gioan 17:19), nhờ đó "để tất cả được hiệp nhất nên một như Cha ở trong Con và như Cha ở trong Con" (Gioan 17:21). 

Đúng thế, chính vì thành phần các môn đệ của Chúa Kitô, từ các vị tông đồ trở đi cho tới tận thế, đều đã được thánh hóa bởi Chúa Kitô, Đấng "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17), mà họ cần phải sống và buôc phải sống đúng với bản tính thần linh thánh thiện trọn hảo là những người con Thiên Chúa của họ, một bản tính thần linh họ đã được tham phần khi lãnh nhận Phép Rửa thánh tẩy tái sinh. 

Cũng nhờ Phép Rửa, Kitô hữu chẳng những được tham dự vào bản tính thần linh của Thiên Chúa và với Thiên Chúa mà còn được phú bẩm cho khả năng thần linh để nhờ đó họ có thể sống sự sống thần linh trọn lành thánh thiện như Thiên Chúa nữa, và ba khả năng thần linh được phú bẩm cho họ cùng với Thánh Sủng khi họ lãnh nhận Phép Rửa đó là ba thần đức: Tin - Cậy - Mến. 

Đức Tin là thần đức hay thần năng nhờ đó con người Kitô hữu có thể nhận biết Thiên Chúa là Đấng tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô Con của Ngài là tất cả mạc khải thần linh của Ngài; Đức Cậy là thần đức hay thần năng nhờ đó con người Kitô hữu có thể đáp ứng tất cả mọi tác động thần linh của Thánh Thần là Đấng được ban cho họ và ở trong họ; Đức Mến là thần đức hay thần năng nhờ đó con người Kitô hữu có thể thực hiện được các tác hành thần linh "trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành".

Các tác hành thần linh "trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" đây, ở trong đời sống của thành phần Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô, được thể hiện qua việc họ giao tiếp và đối xử với tha nhân của họ nói chung, nhất là với riêng những ai mà bản thân họ coi là "kẻ thù" của họ. Chúa Giêsu đã khuyên dạy họ ở Bài Giảng Trên Núi trong Bài Phúc Âm hôm nay để họ có thể tỏ ra trọn lành theo bản tính thần linh thánh hảo mà họ đã được tham phần, hơn là "nên trọn lành" hay thay vì "nên trọn lành", "như Cha trên trời là Đấng trọn lành" như sau: 

"Các con đã nghe dạy: Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù. Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con; hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con, để như vậy các con nên con cái của Cha các con, Ðấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương những ai mến trọng các con, thì các con được công phúc gì? Các người thu thuế không làm như thế ư? Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các con đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm thế ư? Vậy các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Ðấng hoàn hảo".

Có hai vấn đề cốt lõi trong lời khuyên dạy trọn lành này của Chúa Kitô: 1- sống trọn lành, trước hết là ở chỗ không sống theo tự nhiên, không sống như người đời, chẳng hạn không sống như "các người thu thuế" hay không sống ở tầm mức như của "những người ngoại giáo"; 2- trái lại và hơn thể nữa, sống trọn lành, trên hết, là sống theo gương mẫu của chính Cha "trên trời", Đấng ở bên trên, ở trên cao, hơn hẳn thế gian phàm tục, hơn hẳn mặt đất thấp hèn, Đấng "khiến mặt trời mọc lên cho cả người lành lẫn kẻ dữ, và cho mưa xuống trên cả người liêm khiết lẫn kẻ bất lương". 

Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Đệ Nhị Luật, vị trung gian Moisen đại diện Thiên Chúa trước toàn dân Do Thái cũng đã kêu gọi dân Chúa là dân được "Chúa đã chọn làm dân riêng Chúa" "để (họ) trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa (họ)", và ngược lại họ cũng "đã chọn Chúa làm Thiên Chúa" của họ mà vì thế, họ phải sống xứng đáng với tư cách là "dân thánh của Chúa", trong tư tưởng, lời nói, việc làm và phản ứng, nghĩa là họ phải làm sao để có thể tác hành như Chúa là và như Chúa muốn, những gì đã được Ngài tỏ ra qua "các lề luật và các huấn lệnh" của Ngài, những gì được vị trung gian của họ gói ghém trong Bài Đọc 1 hôm nay như thế này:

"Hôm nay Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho ngươi phải thi hành các lề luật và các huấn lệnh này; ngươi phải tuân giữ và thực thi các điều đó hết lòng và hết tâm hồn. Hôm nay ngươi đã chọn Chúa làm Thiên Chúa, thì hãy bước đi trong đường lối Người, tuân giữ các lề luật, giới răn và huấn lệnh của Người; hãy vâng lệnh Người. Hôm nay Chúa đã chọn ngươi làm dân riêng Chúa, như Người đã phán với ngươi, thì ngươi hãy tuân giữ mọi giới răn của Người. Người sẽ làm cho ngươi được vinh quang, thanh danh và huy hoàng hơn mọi dân tộc Người đã tạo dựng, để ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi, như Người đã phán".

Và chỉ có những ai sống ơn gọi là dân riêng ưu tuyển của Thiên Chúa, như dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay, cũng như ơn gọi làm con cái của "Cha trên trời", như các môn đệ của Chúa Kitô trong Bài Phúc Âm hôm nay, mới có thể cùng với Thánh Vịnh gia vang lên những cảm thức thần linh chân thực trong Bài Đáp Ca hôm nay như thế này:

1) Phúc cho những ai theo đường lối tinh toàn, họ tiến thân trong Luật pháp của Chúa. Phúc cho những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm kiếm tìm Ngài. 

2) Phần Chúa, Ngài ban bố những huấn lệnh, cốt để người ta tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường lối của con vững chắc, để tuân giữ các thánh chỉ của Ngài. 

3) Con ca tụng Chúa với lòng đoan chính, khi học hỏi những thánh dụ của Ngài. Thánh chỉ của Chúa, con tuân giữ, xin Chúa đừng triệt để bỏ rơi con!