SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 
Mùa Chay Tuần IV 
6-12/3/2016

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL



Biệt chú: 

Phụng Vụ Lời Chúa cho 3 cuối cùng của Mùa Chay: Chúa Nhật 3, 4 và 5 Mùa Chay, Chu kỳ Phụng vụ Năm B và Năm C có thể được thay thế  toàn bộ bằng phụng vụ Lời Chúa của Chu kỳ Phụng vụ Năm A, vì các bài đọc của Chu kỳ Phụng vụ Năm A được Giáo Hội cố ý chọn đọc hợp với tiến trình dọn mình lãnh nhận Phép Rửa của anh chị em dự tòng vào Lễ Đêm Phục Sinh. Chính yếu là 3 bài Phúc Âm của Chu kỳ Phụng vụ Năm A này hoàn toàn không theo Thánh Mathêu như thường lệ mà là theo Thánh Gioan, như Bài Phúc Âm Chúa Nhật 3 về Người Đàn Bà Samaritanô tội lỗi nhận biết Đấng Thiên Sai ở đoạn 4:1-42, Bài Phúc Âm Chúa Nhật 4 về người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt ở đoạn 9:1-12, và Bài Phúc Âm Chúa Nhật 5 về Lazarô được hồi sinh ở đoạn 11:1-25. 



Chúa Nhật


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Gs 5, 9a. 10-12

"Dân Chúa tiến vào đất Chúa hứa và mừng Lễ Vượt Qua".

Trích sách Giosuê.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Giosuê rằng: "Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!" Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh đồng Giêricô. Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7

Ðáp: Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao (c. 9a).

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. - Ðáp.

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. - Ðáp.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 2 Cr 5, 17-21

"Thiên Chúa đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới. Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Lc 15, 18

Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha.

 

Phúc Âm: Lc 15, 1-3. 11-32

"Em con đã chết nay sống lại".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng; thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Người kia có hai con trai. Ðứa em thưa với cha rằng: "Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con". Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó hồi tâm lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói. Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha". Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu... Người con trai lúc đó thưa rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa". Nhưng người cha bảo đầy tớ: "Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng: vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất, nay lại tìm thấy". Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.

"Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: "Ðó là em cậu đã trở về, và cha cậu đã giết bê béo, vì thấy cậu ấy về mạnh khoẻ". Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: "Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn. Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó". Nhưng người cha bảo: "Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy".

Ðó là lời Chúa. 

 

Suy niệm

 

 

Sự Sống hứa hẹn

 

Hành trình Mùa Chay 40 ngày bắt đầu tiến tới tuần lễ Thứ Tư, với Chúa Nhật hôm nay đây. Và phụng vụ lời Chúa cho Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay hôm nay dường như có tính cách hân hoan vui vẻ hẳn lên, không còn những gì là âu sầu buồn bã theo chiều hướng của Mùa Chay nữa.

Thật vậy, ngay trong Bài Đọc 1, luồng gió tươi mát và nắng hồng của mùa xuân như thổi vào mùa đông và làm ấm áp mùa đông hẳn lên. Ở chỗ, cuộc hành trình 40 năm vô cùng cực khổ và quá dài trong sa mạc khô cằn đầy những gian nan thử thách khôn lường cho một dân tộc đông cả trên 2 triệu con người (xem Xuất Hành 12:37), sau khi ra khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ cùng Sông Jordan, dân Do Thái cuối cùng đã tiến tới đích điểm của mình là chính mảnh Đất Hứa.

Mảnh đất tiền định này đã được Thiên Chúa hứa với tổ phụ Abraham của dân Do Thái (xem Khởi Nguyên 15:18-21). Ngài còn lập lại lời hứa này với con ông là Isaac (xem Khởi Nguyên 26:3) cũng như với cháu ông là Giacóp (xem Khởi Nguyên 28:13). Đất Hứa này là nơi chính Thiên Chúa cũng đã dẫn vị tổ phụ đầu tiên này của dân Do Thái đến đó ở trước (xem Khởi Nguyên 12:7 và 15:7), cho tới khi nạn đói xẩy ra khắp vùng, khiến tổ phụ Giacóp cùng con cháu tất cả là 70 người kéo nhau sang Ai Cập (xem Khởi Nguyên đoạn 46), ở đó suốt một thời gian 430 năm (xem Xuất Hành 12:40).

Khi vào được Đất Hứa, đối với dân Do Thái, trước hết, là như vào được miền đất hoàn toàn tự do, miền đầt thuộc về họ, miền đất do chính họ làm chủ, khác hẳn với miền đất Ai Cập mà họ đã từng sống như nô lệ và thật sự là làm nô lệ trong thời điểm trước khi ra đi 40 năm trước, bởi thế, ngay đầu Bài Đọc 1: "Chúa phán cùng Giosuê rằng: 'Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!'" 

Khi dân Do Thái ra khỏi đất Ai Cập vào thời điểm làm nên chính Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ thế nào, ngày 14 Tháng Giêng theo niên lịch của dân tộc này, thì khi vào tới Đất Hứa họ cũng ở vào thời điểm Lễ Vượt Qua ban đầu như vậy, một biến cố quan trọng nhất trong lịch sử cứu độ của họ mà họ lần đầu tiên cử hành tại chính Đất Hứa, như Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại: "Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh đồng Giêricô".

Tuy đã vào được Đất Hứa, nhưng dân Do Thái chỉ bắt đầu sinh sống tự lập như một dân tộc ở địa phương mới này sau Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ mà thôi, ở chỗ họ không còn lệ thuộc vào manna từ trời xuống là lương thực hằng ngày đã nuôi dưỡng họ suốt 40 năm trường trong sa mạc, mà là nh các thổ sản của chính Đất Hứa, như các chi tiết cuối cùng của Bài Đọc 1 cho biết:

"Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan".

Đó là lý do tâm tình tri ân cảm tạ và ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa của Bài Đáp Ca hôm nay cũng chính là của dân Do Thái lúc bấy giờ, ở vào thời điểm lịch sử cứu độ tiến sang một kỷ nguyên mới, hoàn toàn mới, một kỷ nguyên cho thấy họ thật sự chẳng những là một dân tộc mà còn là một quốc gia nữa, có một quê hương xứ sở đất nước đàng hoàng làm nơi cư trú về địa dư như tất cả mọi dân tộc khác trên trái đất này:

1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. 

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.

Nếu ngay sau nguyên tội Thiên Chúa đã tự động hứa cứu chuộc loài người (xem Khởi Nguyên 3:15) thì phải chăng Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế, nơi nhân tính của Người cũng như nơi Giáo Hội Nhiệm Thể Người, là chính Đất Hứa của / cho một dân tộc mới, mảnh "đất chảy sữa và mật" (Khởi Nguyên 33:3; Xuất Hành 3:8), ám chỉ  "đầy ân sủng ("sữa") và chân lý ("mật")", xuất phát từ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, người Con duy nhất đến từ Cha..." (Gioan 1:14).

Thật vậy, nhờ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô nơi Phép Rửa (xem Roma 6:1-7), Kitô hữu đã cùng với Chúa Kitô "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), nghĩa là, đã được vào Đất Hứa của Chúa Kitô, tức đã hiệp thông nên một với Chúa Kitô, qua Nhiệm Thể Giáo Hội của Người, như Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại đã diễn tả như thế trong Bài Đọc 2 hôm nay"Nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới". 

Nh Phép Rcon người được biến đổi trong Đất Hứa của Chúa Kitô là Giáo Hội Nhiệm Thể Người thành "một thụ tạo mới" và "tất cả mọi sự đã trở thành mới" đây có thể nói đã được báo trước và ám chỉ nơi trường hợp của dân Do Thái, một dân tộc đã sống một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ trong Đất Hứa, bằng những con người mới, được sinh ra sau khi ra khỏi Ai Cập, không còn một con người cũ nào t Ai Cp, bao gồm cả Moisen, ngoại trừ 2 con người duy nhất là Calep và Giodue thay Moisen (xem Dân Số 14:21-24,30; 20:12).

Hãy tưởng tượng mà xem đoạn đường 40 năm sa mạc mà dân Do Thái hành trình từ Ai Cập, nhất là từ sau khi vượt qua Biển Đỏ về Đất Hứa đã trở thành một nghĩa trang vĩ đạo nhất thế giới, nơi đã chôn xác của cả 3 triệu người Do Thái, một vùng sa mạc có thể nói là quê hương của thế hệ Do Thái vượt qua.

Như dân Do Thái, nếu không nhờ Thiên Chúa, qua Moisen, giải thoát họ khỏi Ai Cập, họ sẽ không bao giờ có thể vượt qua tình trạng nô lệ mà vào sự sống tự do trong Đất Hứa thế nào, thì Kitô hữu cũng không thể nào được trở thành chi thể của Giáo Hội, thuộc về Giáo Hội, sống trong Đất Hứa Giáo Hội, nếu không được Thiên Chúa cứu chuộc nơi Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế Con Ngài, đúng như Thánh Phaolô đã xác tín trong Bài Đọc 2 hôm nay liên quan đến thừa tác vụ của Giáo Hội nơi thành phần thừa tác viên như ngài:

"Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Đúng thế, trong việc cứu chuộc con người, Thiên Chúa đóng vai chủ động chứ không phải là con người. Điển hình là trường hợp của dân Cựu Ước Do Thái giáo trong việc giải thoát họ khỏi thân phận làm tôi ở nước Ai Cập mà đưa họ vào miền Đất Hứa tự do. Hay trường hợp dân Tân Ước Kitô giáo, hầu hết làm nên bởi các dân ngoại, trong việc giải thoát họ khỏi tội lỗi và sự chết bằng chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai Con Ngài. 

Đó là lý do trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô đã nhận thức rất chính xác là "Thiên Chúa là Ðấng giao hòa thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô". Tại sao con người tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa đáng lẽ phải tự động đến làm hòa, đến xin lỗi Thiên Chúa mới phải, mới hợp lẽ công bằng, hợp hợp tình hợp lý theo trần gian, đằng này chính Ngài lại đến làm hòa với loài người tội nhân? Ôi, lòng thương xót Chúa... Chúng con không thể nào hiểu được ở tầm mức loài người chúng con!

Thiên Chúa giao hòa với loài người phạm nhân của Ngài, thậm chí, còn ở chỗ nếu con người mà hiểu được và cảm thấu được tất cả mầu nhiệm lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa chắc không thể nào không điên lên, không mất trí, một lòng thương xót, như Thánh Phaolô, cũng trong Bài Đọc 2, đã dám nói mà không sợ bị rối đạo và lạc đạo, đó là "Ðức Kitô... Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa đã biến thành tội - who has no sin to become sin / who did not know sin to be sin - vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Bởi thế, trước tình yêu vô cùng nhân hậu của Vị Thiên Chúa nạn nhân đã bị loài người xúc phạm song đã tự động tìm cách làm hòa với phạm nhân của mình, bằng cách biến Người Con vô cùng thánh hảo yêu quí của mình trở thành tội lỗi, một sự dữ không thể nào có nơi Thiên Chúa và  không thể nào chấp nhận đối với Thiên Chúa, nhưng Vị Thiên Chúa nạn nhân  lại muốn chồng chất tất cả  lên nhân tính được Người Con mặc lấy và vượt qua, như thể nhuộm đen cả nhân tính vô tội và thánh hảo của Người, để nhờ Người biến hình sự dữ tội lỗi của con người thành ân sủng của lòng thương xót Chúa, mà Thánh Phaolô đã tha thiết kêu gọi Kitô hữu Giáo đoàn Corinto thời ấy, cũng như mọi thời đại sau này, là "chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa".


Bài Phúc Âm hôm nay, một bài Phúc Âm đã được Giáo Hội chọn đọc cho ngày Thứ Bảy Tuần 2 Mùa Chay, Chia sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Chay Tuần 2 (21-27/2/2016), vì nội dung của bài Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn cho thấy 2 điều chính yếu: 1- Thiên Chúa quả thực là Đấng đã hòa giải với tội nhân trước, và 2- chỉ bao giờ ở trong nhà với Ngài mới được hạnh phúc như ở trong Đất Hứa vậy.

Trước hết, dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy Thiên Chúa là Đấng đã giao hòa trước. Không phải hay sao, người cha có hai người con trai trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy rõ điều ấy. 

Người cha trong dụ ngôn đã không làm hòa trước là gì với người con hoang đàng phung phá, ở chỗ, "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu", trước khi chính nó lên tiếng xin lỗi ông và xin ông tha thứ cho nó: "Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa'". 

Bởi ông đã tha cho nó ngay khi nó có ý định xin ông chia gia tài cho nó và ngay cả trước khi nó bỏ ông mà đi, vì ông không bao giờ chấp nhất nó, thậm chí còn tìm dịp để tha cho nó, và thật là hớn hở khi vớ được dịp tha thứ cho nó, chỉ muốn chứng tỏ cho nó càng ngày càng thấy được ông yêu thương nó là chừng nào, một tình yêu thương vô cùng nhân hậu nó không thể nào hiểu được. Việc người con hoang đàng phung phá chỉ có thể làm hòa với cha của nó, như Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, chỉ xẩy ra sau khi Người cha đã bày tỏ cử chỉ hân hoan hớn hở được làm hòa với nó trước. 

Sau nữa, trong cùng dụ ngôn làm hòa hay hòa giải tuyệt vời này, người cha chẳng những tự động hòa giải với người con hoang đàng phung phá mà còn với cả người con không bỏ ông mà đi như đứa con hoang đàng phung phá kia nữa, người con cho rằng "đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào", thế mà cuối cùng những gì đã xẩy ra? 

Vào chính lúc mọi người đang xum vầy trong nhà cha, ăn mừng người con hoang đàng phung phá như "đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy", thì người con tự cho mình là ngoan ngoan trung thành của cha lại bỏ cha mà đi, bằng cách, nhất định không chịu vào trong nhà với cha và em của mình, trái lại, muốn tách mình ra khỏi mối hiệp thông yêu thương, hiệp thông sự sống, đến độ, "Cha anh ra xin anh vào" hiệp thông với chung gia đình. 

Cử chỉ và hành vi "Cha anh ra xin anh ta vào", không phải hay sao, là chính tác động Thiên Chúa tự đến làm hòa với loài người, tức là việc "Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Timotheu 2:4), muốn mời gọi nhất là những con người lầm lạc như người con bề ngoài ở nhà với cha mà lại chẳng hiểu cha gì hết, chẳng biết rằng "tất cả mọi sự của cha đều là của con", bởi thế nên làm gì cho cha cũng làm như một người đầy tớ "hầu hạ cha", đòi được trả công xứng đáng: "không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ", hơn là một người con chỉ làm vì cha muốn và cho cha được như ý, coi việc của cha và của cải của cha là của mình.

Trong cả hai trường hợp, của cả hai người con, một khi ở ngoài nhà của cha, sẽ không bao giờ được hạnh phúc. Trường hợp của người con hoang đàng phung phá cuối cùng phải trở về nhà cha, trở về hiệp thông với cha, mới tìm được sự sống chân thực và viên mãn. Còn người con không bỏ cha mà đi, tức còn ở nhà với cha về thể lý theo bề ngoài, một khi không vào nhà của cha mình nữa cũng thế, nghĩa là muốn hoàn toàn tách mình ra khỏi cuộc hiệp thông với cha, đã trở thành một con chiên lạc, lẻ loi cô độc một mình, rất dễ bị sói dữ ăn thịt mất xác. 

Nhà Cha đây, mà Đất Hứa của dân Do Thái là hình bóng tiên báo, trước hết và trên hết ám chỉ mối hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, sau nữa ám chỉ nhân tính Chúa Kitô nói chung và thân xác của Người nói riêng, và sau hết ám chỉ Giáo Hội Nhiệm Thể Chúa Kitô là bí tích và là dấu chỉ hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp nhất với loài người (xem Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium Ánh Sáng Muôn Dân - 1).

Chính vì Nhà Cha là đích điểm của cuộc sống trần gian của con người nói chung và của cuộc hành trình đức tin Kitô hữu nói riêng, là khát vọng build-in - bẩm sinh sẵn có trong lòng con người, mà người con hoang đàng phung phá trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, khi đã tới tận cùng khốn nạn của cuộc đời, đã thấy được tất cả sự thật không thể chối cãi và không thể rời xa: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói". Bởi thế và từ đó, người con đã dứt khoát tiến đến chỗ: "Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi".

Chẳng những quyết định trong lòng, ngưi con hoang đàng phung phá này còn thực sự tỏ ra bằng hành động cụ thể bên ngoài nữa: "Vậy nó ra đi và trở về với cha nó". Nghĩa là, nó muốn làm hòa cùng cha của nó, một hành động cho thấy nó chẳng những nhận lỗi trong lòng sau khi nó cảm thấy hối hận vì đã bỏ cha mà đi: "con đã lỗi phạm đến trời và đến cha...", mà còn xin lỗi ngoài miệng nữa sau khi nó được lại gặp mặt người cha vô cùng nhân hậu của nó: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa".

Thế nhưng, việc người con hoang đàng phung phá hòa giải với cha của nó chỉ xẩy ra sau khi cha của nó hòa giải với nó, không bao giờ chấp nhất nó, hằng tha thứ cho nó ngay cả trước khi nó xúc phạm đến ông, thậm chí còn vui vẻ tìm dịp để tha thứ cho nó, như được tỏ ra trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay: "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu". 

Cảnh cha con trọng dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay hòa giải với nhau đã xẩy ra đúng như những gì được Thánh Phaolô đã trải qua, cảm nhận và vì thế đã được ngài sử dụng để khuyên Kitô hữu Giáo đoàn Corinto trong Bài Đọc 1 hôm nay: 

1- Thiên Chúa nạn nhân hòa giải với con người phạm nhận tội lỗi trước: "Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà".

2- Loài người phạm nhân nhờ đó và từ đó mới có thể hòa giải với Vị Thiên Chúa nạn nhân của mình: "Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Thánh thi Kinh Phụng Vụ Ban Mai các Chúa Nhật Mùa Chay (bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

 

Nào phủ phục trước nhan thánh Chúa

Cho tấc lòng than thở nài van:

Chúa thương xét xử khoan nhân

Dừng cơn thịnh nộ, ân cần lắng tai.

 

Muôn lạy Chúa, này đây bao tội,

Lũ con hư phản bội ân tình

Ngửa trông lượng cả cao xanh

Thiên ân tràn xuống cho thanh thoát lòng.

 

Xin Ngài nhớ: dẫu mỏng manh phận

Ðoàn con đây cũng vẫn là con,

Nhậm lời chúng tử nỉ non

Danh Ngài nhân hậu tiếng đồn muôn năm.

 

Xin tha thứ lỗi lầm trót phạm

Giúp chúng con can đảm vững bền,

Vâng theo thánh ý ngày đêm

Bây giờ mãi mãi trọn niềm hiếu trung.

 

Muôn lạy Chúa vô song tuyệt mỹ

Là Ba Ngôi hiển trị thiên tòa,

Phúc lành tuôn đổ sớm trưa

Cho mùa trai tịnh thành mùa hồng ân.

 

 

Thứ Hai

 

 Lời Chúa

Bài Ðọc I: Is 65, 17-21

"Thiên hạ sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc và than van nữa".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Thiên Chúa phán: "Này Ta tác tạo trời mới, đất mới; người ta sẽ không còn nhớ lại dĩ vãng, và cũng sẽ không bận tâm đến dĩ vãng nữa. Nhưng các ngươi hãy hân hoan và nhảy mừng cho đến muôn đời trong các việc Ta tác tạo, vì đây Ta tác tạo một Giêrusalem hân hoan và một dân tộc vui mừng. Ta sẽ hân hoan ở Giêrusalem, sẽ vui mừng nơi dân Ta, và từ đây người ta sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc và than van nữa. Ở đó sẽ không còn trẻ nhỏ chết yểu, không còn người già chết sớm nữa, vì người chết trăm tuổi cũng còn gọi là chết trẻ, người không sống đến trăm tuổi, kể là bị chúc dữ. Họ sẽ xây cất nhà cửa và cư ngụ ở đó, sẽ trồng nho và ăn trái nho".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11e-12a và 13b

Ðáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. - Ðáp.

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con, lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con, lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Lc 15, 18

Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha.

 

Phúc Âm: Ga 4, 43-54

"Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu bỏ Samaria mà đến Galilêa. Chính Người đã nói: "Không vị tiên tri nào được kính nể nơi quê hương mình". Khi Người đến Galilêa, dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ; vì họ cũng đi dự lễ.

Người trở lại Cana xứ Galilêa, nơi Người đã biến nước thành rượu. Bấy giờ có một quan chức nhà vua ở Capharnaum có người con trai đang đau liệt. Ðược tin Chúa Giêsu đã bỏ Giuđêa đến Galilêa, ông đến tìm Người và xin Người xuống chữa con ông sắp chết. Chúa Giêsu bảo ông: "Nếu các ông không thấy những phép lạ và những việc phi thường, hẳn các ông sẽ không tin". Viên quan chức trình lại Người: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống trước khi con tôi chết". Chúa Giêsu bảo ông: "Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi". Ông tin lời Chúa Giêsu nói và trở về.

Khi xuống đến sườn đồi thì gặp gia nhân đến đón, báo tin cho ông biết con ông đã mạnh. Ông hỏi giờ con ông được khỏi. Họ thưa: "Hôm qua lúc bảy giờ cậu hết sốt". Người cha nhận ra là đúng giờ đó Chúa Giêsu bảo ông: "Con ông mạnh rồi", nên ông và toàn thể gia quyến ông đều tin. Ðó là phép lạ thứ hai Chúa Giêsu đã làm khi Người ở Giuđêa về Galilêa.

Ðó là lời Chúa.

 

Suy niệm

 

 

Sự Sống tỏ mình

 

Hôm nay, Thứ Hai trong Tuần IV Mùa Chay, phụng vụ lời Chúa bắt đầu có chiều hướng càng sát nghĩa hơn bao giờ hết với chủ đề "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17) của chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh. Bởi vì, từ hôm nay, dọc suốt 2 tuần liền của thời điểm cuối cùng của Mùa Chay, Giáo Hội cố ý chọn đọc cho các ngày thường trong tuần toàn là các bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan, không còn Phúc Âm của Thánh ký Mathêu, Marco hay Luca như ba tuần trước đây nữa. 

Tại sao? Tại vì chỉ có Phúc Âm của Thánh Gioan, cuốn Phúc Âm cuối cùng trong 4 cuốn Phúc Âm được Giáo Hội công nhận trong sổ bộ Thánh Kinh Tân Ước, cuốn Phúc Âm về thần tính của Chúa Kitô và về Giáo Hội, mới có những đoạn Chúa Giêsu tỏ thần tính của mình ra, hay nói cách khác, Người tỏ nguồn gốc thần linh của Người ra, vừa bằng phép lạ hay dấu lạ vừa bằng chính lời tự chứng của Người liên quan đến ý Cha là Đấng đã sai Người. 

Tuy nhiên, đa số dân Do Thái nói chung và thành phần lãnh đạo dân Do Thái bấy giờ nói riêng đã không thể chấp nhận chứng từ cùng chứng cớ rất chân thực bất khả chối cãi của Người, cho đến giờ của Người, tức cho đến thời điểm họ có thể thực hiện mưu đồ sát hại Người, theo đúng như dự án cứu độ của Thiên Chúa và công cuộc cứu độ của Người, Đấng đã "tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" bằng Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, một mầu nhiệm là tột đỉnh của chung phụng niên và của riêng Tuần Thánh, đặc biệt là của Tam Nhật Thánh!

Hai bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan đầu tiên cho 2 tuần cuối cùng của Mùa Chay liên quan đến 2 phép lạ Chúa Giêsu làm, phép lạ trước, trong bài Phúc Âm hôm nay, Người làm ở Galilêa, vùng đất miền bắc xa xôi, nơi có nhiều dân ngoại sinh sống, còn phép lạ sau, trong bài Phúc Âm ngày mai, Người làm ở ngay Giêrusalem xứ Giuđêa ở miền nam, một phép lạ xẩy ra ở ngay giáo đô của dân Do Thái, do đó, đã trở thành nguyên cớ dẫn đến cuộc đối đầu giữa Chúa Giêsu và dân của Người, nhất là với thành phần lãnh đạo ở đó bấy giờ. 

Phép lạ được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, "là phép lạ thứ hai Chúa Giêsu đã làm khi Người ở Giuđêa về Galilêa", tiếp theo phép lạ Người đã hóa nước thành rượu ngon ở tiệc cưới Cana trước đó để tỏ mình ra cho các môn đệ và làm cho các vị tin vào Người là phép lạ đầu tiên (xem Gioan 2:11). Nếu phép lạ thứ nhất liên quan đến hôn nhân thì phép lạ thứ hai này liên quan đến gia đình. Bởi thế mà cuối Bài Phúc Âm Thánh ký Gioan đã cho biết tác dụng xuất phát từ phép lạ Chúa Giêsu thực hiện: "nên ông và toàn thể gia quyến ông đều tin".

Tuy nhiên, sở dĩ Giáo Hội chọn bài Phúc Âm về phép lạ Chúa Giêsu làm cho "một quan chức nhà vua ở Capharnaum có người con trai đang đau liệt", không phải để cho chúng ta thấy cái cân xứng giữa hai phép lạ: phép lạ thứ nhất Người làm cho các môn đệ tin Người và phép lạ thứ hai Người làm cho dân chúng tin Người, mà chính là để cho chúng ta thấy rằng thành phần dân ngoại dễ tin vào Người hơn là chính dân của Người, như phép lạ trong bài Phúc Âm ngày mai chứng thực.

Đó là lý do ở đầu bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Gioan đã ghi nhận lòng khao khát thần linh và thái độ mộ mến của dân chúng đối với Đấng Thiên Sai của chính dân Do Thái: "Khi ấy, Chúa Giêsu bỏ Samaria mà đến Galilêa. Chính Người đã nói: 'Không vị tiên tri nào được kính nể nơi quê hương mình'. Khi Người đến Galilêa, dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ; vì họ cũng đi dự lễ".

"Chính Người đã nói: 'Không vị tiên tri nào được kính nể nơi quê hương mình'" ở câu Phúc Âm này không phải ám chỉ dân chúng ở Nazarét quê quán của Người đã đối xử với Người được Thánh ký Luca thuật lại (xem 4:14-30), mà là ám chỉ chung dân Do Thái là dân tộc của Người theo huyết nhục trần gian. Tuy nhiên, thành phần dân tộc của Người ít là cũng đưc chia làm hai loại hay hai hạng, hạng bình dân cởi mở và hạng trí thức lẫn quyền lực. 

Hình như dân Do Thái ở Galilêa thuộc miền bắc xa xôi, xa giáo đô Giêrusalem và sống chung với nhiều người dân ngoại đã có được một tinh thần cởi mở và phóng khoáng hơn là những người Do Thái ở Giuđêa nói chung và ở giáo đô Giêrusalem nói riêng. Bởi thế nên, Thánh Gioan đã cho thấy dân Do Thái ở Galilêa đã cởi mở hơn với Chúa Giêsu: "Khi Người đến Galilêa, dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ; vì họ cũng đi dự lễ".

Sự kiện "dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ" đây có nghĩa là họ rất cảm phục Người, vì Người chỉ là một người Galilêa tầm thường như họ mà đã dám làm những gì không ai có thể làm và dám làm như Người. Chẳng hạn như Người đã chẳng những dám đánh đuổi đám buôn bán trong đền thờ mà còn dám thách thức những người Do Thái chính qui ở đó bấy giờ đã ngỏ ý muốn thấy dấu lạ Người làm để chứng tỏ thẩm quyền thực sự của Người trong việc Người thanh tẩy đền thờ là nhà của Cha Người như thế (xem Gioan 2:13-23).

Chính vì tấm lòng cởi mở của chung dân Do Thái ở Galilêa như vậy mà hầu như các phép lạ Người làm đều xẩy ra ở Galilêa, hơn là ở Giuđêa. Phép lạ thứ hai Người làm ở Galilêa trong Bài Phúc Âm hôm nay lại xẩy ra ở Cana là "nơi Người đã biến nước thành rượu", một phép lạ được Chúa Giêsu thực hiện cho người con trai của một viên chức triều đình (royal officer), không biết là người Do Thái hay dân ngoại, nhưng có thể nắm chắc là dân ngoại, bởi vì cuối bài Phúc Âm Thánh ký Gioan đã ghi chú thêm chi tiết: "ông và toàn thể gia quyến ông đều tin", như trường hợp của gia đình viên đại đội trưởng Roma Cornelio (xem Tông Vụ 10:1-48).

Trong Phúc Âm của Thánh Gioan, thường Chúa Giêsu tự động làm phép lạ để tỏ mình ra cho người ta tin vào Người, hơn là người ta phải có đức tin đã rồi Người mới làm phép lạ, như thường xẩy ra hầu hết ở bộ Phúc Âm Nhất Lãm. Tuy nhiên, trong bài Phúc Âm hôm nay, Người lại đề cập đến đức tin như là một điều kiện cần thiết trước khi Người làm phép lạ. 

Nhưng người đề cập đến đức tin không phải chỉ với riêng viên chức triều đình đang van xin mà là cho chung những người ở đó bấy giờ: "các ông". Như thể Người nhắc nhở hết mọi người rằng hãy tin sẽ được, như viên chức triều đình vẫn đang gắn bó tin tưởng vào Người bấy giờ: "xin Ngài xuống trước khi con tôi chết". Bởi thế, sau khi nghe "Chúa Giêsu bảo ông: 'Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi'. Ông tin lời Chúa Giêsu nói và trở về". 

Quả thật, ông đã tin sao thì được đúng như vậy, như bài Phúc Âm ở đoạn cuối cho thấy: "Khi xuống đến sườn đồi thì gặp gia nhân đến đón, báo tin cho ông biết con ông đã mạnh. Ông hỏi giờ con ông được khỏi. Họ thưa: 'Hôm qua lúc bảy giờ cậu hết sốt'. Người cha nhận ra là đúng giờ đó Chúa Giêsu bảo ông: 'Con ông mạnh rồi'". 

Ngay trong cách thức Chúa Giêsu chữa lành ở bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan hôm nay, chỉ bằng ý muốn là xong, là phép lạ xẩy ra, chứ Người không cần phải hiện diện, phải đến tận nơi, phải đụng chạm, phải tỏ cử chỉ đặc biệt nào đó..., cũng là cách Chúa Giêsu muốn tỏ thần tính của Ngưòi ra, một tỏ mình thần linh chẳng những làm tan biến đi tất cả những gì là yếu hèn bệnh hoạn mà còn mang lại sự sống sinh động nữa.

Nội dung của Bài Đọc 1 hôm nay quả thực đã phản ảnh ý nghĩa tỏ mình ra của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay qua việc Người tỏ thần tính của Người ra nơi phép lạ chữa lành bằng ý muốn toàn năng vô cùng hiệu lực của Người, một phép lạ cho thấy ý muốn cứu độ của Thiên Chúa trong việc tiêu diệt tội lỗi và sự chết mà ban cho con người sự sống và hạnh phúc:

"Này Ta tác tạo trời mới, đất mới; người ta sẽ không còn nhớ lại dĩ vãng, và cũng sẽ không bận tâm đến dĩ vãng nữa. Nhưng các ngươi hãy hân hoan và nhảy mừng cho đến muôn đời trong các việc Ta tác tạo, vì đây Ta tác tạo một Giêrusalem hân hoan và một dân tộc vui mừng. Ta sẽ hân hoan ở Giêrusalem, sẽ vui mừng nơi dân Ta, và từ đây người ta sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc và than van nữa. Ở đó sẽ không còn trẻ nhỏ chết yểu, không còn người già chết sớm nữa, vì người chết trăm tuổi cũng còn gọi là chết trẻ, người không sống đến trăm tuổi, kể là bị chúc dữ. Họ sẽ xây cất nhà cửa và cư ngụ ở đó, sẽ trồng nho và ăn trái nho".

Theo chiều hướng của Bài Phúc Âm và Bài Đọc 1 hôm nay, Bài Đáp Ca được Giáo Hội chọn đọc cùng ngày đã chất chứa tâm tình thần linh của thánh vịnh gia cũng là của những tâm hồn thực sự nhận thức được Thiên Chúa là Đấng yêu thương và cứu độ của con người nói chung và của bản thân mình nói riêng:

1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. 

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ. 

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con, lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con, lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. 

 

Ngày 07: Thánh Perpêtua và Fêlicita, tử đạo

Khi hoàng đế Sévere ra lệnh cấm đạo, thánh nữ Perpêtua và người nữ nô lệ là Fêlicita đang mang thai sắp đến ngày sinh cùng với những người bạn khác nữa là Revocatus, Saturnin và Secundulus, tất cả đều bị tống giam vì đã tin vào danh Chúa Giêsu. Trước đó, các ngài là những dự tòng nên được Rửa Tội ngay trong tù.

Thánh Perpêtua thuộc gia đình quyền quý, nên cha ngài tìm mọi cách khuyên ngài bỏ đạo để được sống. Ngài đã cương quyết chọn cái chết để trung thành với Thiên Chúa và đã trở nên lò lửa nung nấu đức tin của các bạn mình.

Còn thánh nữ Fêlicita, trong cơn đau đớn lúc sinh con, bị tên lính canh chế nhạo, ngài đã trả lời: "Bây giờ chính tôi chịu đau khổ, nhưng mai kia có Ðấng khác chịu đau khổ thay tôi, vì tôi chịu đau khổ vì Người".

Khi bị điệu ra pháp trường trước mặt mọi người, các ngài vẫn hiên ngang ca hát để chúc tụng Thiên Chúa. Các ngài bị đánh đập, hành hạ rồi sau đó cùng bị thú rừng giày xéo cho đến chết.

Các ngài được lãnh phúc tử đạo ngày 07/3/203.

 

 

Thứ Ba

 

 Lời Chúa

Bài Ðọc I: Ed 47, 1-9. 12

"Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra, và nước ấy chảy đến ai, thì tất cả đều được cứu rỗi".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Trong những ngày ấy, thiên thần dẫn tôi đến cửa nhà Chúa, và đây nước chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ, về phía nam bàn thờ. Thiên thần dẫn tôi qua cửa phía bắc, đưa đi phía ngoài, đến cửa ngoài nhìn về hướng đông, và đây nước chảy từ bên phải. Khi đó có người đàn ông đi ra về hướng đông, tay cầm sợi dây, ông đo một ngàn thước tay và dẫn tôi đi qua dưới nước tới mắt cá chân. Ông đo một ngàn thước tay nữa và dẫn tôi đi qua dưới nước đến đầu gối. Ông còn đo một ngàn thước tay và dẫn tôi đi qua dưới nước đến ngang lưng. Ông lại đo thêm một ngàn thước tay nữa, và đây là suối nước, tôi không thể đi qua được, vì nước suối dâng lên cao quá, phải lội mới đi qua được, nên người ta không thể đi qua được. Người ấy nói với tôi: "Hỡi người, hẳn ngươi đã xem thấy". Rồi ông dẫn tôi đi, rồi dẫn trở lại trên bờ suối. Khi trở lại, tôi thấy hai bên suối có nhiều cây cối. Người ấy lại nói với tôi: "Nước này chảy về phía cồn cát, phía đông, chảy xuống đồng bằng hoang địa, rồi chảy ra biển, biến mất trong biển và trở nên nước trong sạch. Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến.

Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 45, 2-3. 5-6. 8-9

Ðáp: Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, và ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ (c. 8).

Xướng: 1) Chúa là nơi ẩn náu và là sức mạnh của chúng ta, Người hằng cứu giúp khi ta sầu khổ. Dầu đất có rung chuyển, ta không sợ chi, dầu núi đổ xuống đầy lòng biển cả. - Ðáp.

2) Nước dòng sông làm cho thành Chúa vui mừng, làm hân hoan cung thánh Ðấng Tối Cao hiển ngự. Chúa ở giữa thành, nên nó không chuyển rung, lúc tinh sương, thành được Chúa cứu giúp. - Ðáp.

3) Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ. Các ngươi hãy đến mà xem mọi kỳ công Chúa làm, Người thực hiện muôn kỳ quan trên vũ trụ. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 50, 12a và 14a

Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch. Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ.

 

Phúc Âm: Ga 5, 1-3a. 5-16

"Tức khắc người ấy được lành bệnh".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Hôm đó là ngày lễ của người Do-thái, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Tại Giêrusalem, gần cửa "Chiên", có một cái hồ, tiếng Do-thái gọi là Bếtsaiđa, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này, có rất nhiều người đau yếu, mù loà, què quặt, bất toại nằm la liệt. Trong số đó, có một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm. Khi Chúa Giêsu thấy người ấy nằm đó và biết anh đã đau từ lâu, liền hỏi: "Anh muốn được lành bệnh không?" Người đó thưa: "Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động. Khi tôi lết tới, thì có người xuống trước tôi rồi". Chúa Giêsu nói: "Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về". Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi. Nhưng hôm đó lại là ngày Sabbat, nên người Do-thái bảo người vừa được khỏi bệnh rằng: "Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng". Anh ta trả lời: "Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: "Vác chõng mà đi". Họ hỏi: "Ai là người đã bảo anh "Vác chõng mà đi?" Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết Người là ai, vì Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó.

Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong đền thờ, Người nói: "Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước". Anh ta đi nói cho người Do-thái biết chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh.

Vì thế người Do-thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong ngày Sabbat.

Ðó là lời Chúa.

  

 

Suy niệm

 

 

Sự Sống tươi mát

 

 

 

Mùa Chay tiếp tục với ngày Thứ Ba trong Tuần IV Mùa Chay hôm nay, phụng vụ lời Chúa, bao gồm cả Bài Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1, đều liên quan đến hình ảnh về nước

Trước hết, nước trong Bài Phúc Âm hôm nay là một thứ nước có khả năng chữa lành, như Thánh ký Gioan thuật lại ở đầu bài Phúc Âm như sau: "Tại Giêrusalem, gần cửa 'Chiên', có một cái hồ, tiếng Do-thái gọi là Bếtsaiđa, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này, có rất nhiều người đau yếu, mù loà, què quặt, bất toại nằm la liệt".

Lý do tại sao cái hồ này lại "có rất nhiều người đau yếu, mù lòa, què quặt, bất toại nằm la liệt" như vậy, là vì mỗi khi nước hồ động lên đều có thể chữa lành cho bệnh nhân hay tật nguyền nhân nào xuống hồ đầu tiên. 

Đó là lý do, "có một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm" đã trần tình cùng "Chúa Giêsu", Đấng bấy giờ đã "thấy người ấy nằm đó và biết anh đã đau từ lâu, liền hỏi: 'Anh muốn được lành bệnh không?'", và đã than thở với Người về hoàn cảnh nuôi hy vọng trong thất vọng và tuyệt vọng của anh ta như sau: "Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động. Khi tôi lết tới, thì có người xuống trước tôi rồi".

Ở đây, trong câu trả lời của nạn nhân "đau liệt 38 năm này", một nạn nhân cô độc chẳng ai giúp đỡ ấy, như thể đã hoàn toàn bị bỏ rơi, và đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn trông mong được khỏi tật bệnh kéo dài có thể nói gần nửa đời người như thế nữa, nên khi được Chúa Giêsu hỏi "Anh muốn được lành bệnh không?", anh ta đã trả lời một cách có vẻ rất hững hờ, chẳng có chút gì là hào hứng, chỉ trình bày và than phiền về thân phận hẩm hiu bất hạnh đến vô vọng của mình thôi.

Nếu anh ta còn một chút hy vọng, còn ham sống, thì phản ứng của anh ta khi vừa được Chúa Giêsu hỏi: "Anh muốn được lành bệnh không?", anh ta như chộp được thời cơ, chụp được cơ hội ngàn vàng, cơ hội ngàn năm một thuở mà thưa ngay với Người rằng: "Thưa có chứ... Vậy thì ông có thể giúp tôi được không...". 

Thế nhưng, anh ta đâu có ngờ rằng, chính lúc anh ta đã nản lòng không còn muốn sống nữa, muốn buông xuôi theo số phận hẩm hiu bất hạnh, anh ta lại được cứu, cho dù anh ta không hội đủ điều kiện là lòng tin tưởng cần có của anh ta. Nhưng vì Chúa Giêsu, ở trong trường hợp của anh ta, không cần anh ta tin, vì anh ta đã biết Người đâu mà tin, cho bằng Người làm cho anh ta tin, bằng quyền năng của Người nơi anh ta. 

Bởi thế, Người đã tự động chữa lành cho anh ta: "Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về", sau khi đã hỏi phép anh ta đàng hoàng trước đó. Cho dù anh ta không tỏ ra tích cực và minh nhiên theo câu hỏi của Người, nhưng nội dung của câu anh ta trả lời Người đã cho thấy rằng anh ta thực s là muốn được chữa lành. Và tác dụng thần linh của lời Người truyền đã tuyệt đối công hiệu ngay bấy giờ, nơi đương sự nạn nhân đã tỏ ý muốn được chữa lành: "Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi".

Phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho "một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm" ấy đã kèm theo cả một hiện tượng phải gọi là quái lạ hay quái gở chưa hề thấyỞ chỗ, trong bài Phúc Âm không thấy nói gì đến việc nạn nhân đương sự được chữa lành sụp lạy Chúa Giêsu để tạ ơn Người về phép lạ bất ngờ anh ta không thể nào tưởng tượng được rằng phép lạ đã xẩy ra cho anh ta ở vào lúc anh ta tuyệt vọng nhất như thế. Có thể là vì trong thời khoảng anh ta đang lồm cồm bò ngồi dậy sau 38 năm không bao giờ có thể ngồi lên như lời Người truyền thì "Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó".

Cứ cho là như thế đi! Thế nhưng, sau khi anh ta bị những người khác nhắc bảo rằng: "'Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng'. Anh ta trả lời: 'Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: Vác chõng mà đi'. Họ hỏi: 'Ai là người đã bảo anh Vác chõng mà đi?' Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết Người là ai". 

Nạn nhân đương sự được chữa lành này không biết Người cũng phải và vì thế anh ta đã trả lời đúng sự thật. Tuy nhiên vấn đề ở đây là sau đó, sau khi anh ta biết được Người là ai rồi thì anh ta cũng vẫn không ngỏ lời cám ơn Người, trái lại, quái gở thay, anh ta lại đi tố cáo phản lại Người: 

"Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong đền thờ, Người nói: 'Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước'. Anh ta đi nói cho người Do-thái biết chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh. Vì thế người Do-thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong ngày Sabbat".

Trường hợp chín trong mười người phong cùi được Chúa Giêsu chữa lành cho, khi thấy mình được khỏi trên đườngđi trình diện với các vị tư tế như lời Người bảo họ, mà không trở lại tạ ơn Người như một người Samaritanô trong số họ (xem Luca 17:11-19), đằng này nạn nhân đương sự được Chúa Giêsu bất ngờ chữa lành cho khỏi tật bệnh kéo dài suốt 38 năm trường lại quay ra tố cáo người nữa thì quả là vô cùng quái gở, không thể nào tượng tưởng được.

Đó là lý do, thấy trước được con người này, Chúa Giêsu đã cảnh giác anh ta về đặc ân nhưng không anh ta vừa được hưởng về phần xác có thể sẽ trở thành tai họa về phần hồn cho anh ta rằng: "Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước". 

Vấn đề được đặt ra ở đây là thế thì tại sao Chúa Giêsu lại chữa lành cho một nạn nhân mà Người biết rằng ân phúc nạn nhân đương sự này được hưởng có thể trở thành tai họa cho phần hồn của họ như vậy? Có thể nói, lý do Chúa Giêsu chữa lành cho nạn nhân đương sự này là vì tự mình họ đáng thương và cần được cứu vớt trong lúc anh ta không được ai cứu giúp và trong lúc anh ta có vẻ như đã hoàn toàn tuyệt vọng. 

Ngoài ra, không phải vì anh ta là con người "xấu" mà anh ta không đáng được hưởng ơn lành như những người tốt hơn anh ta và xứng đáng hơn anh ta. Ơn Chúa là của Chúa, là những gì nhưng không từ Chúa, Người muốn ban cho ai tùy ý của Ngài, hay muốn ban thế nào và ban vào lúc nào cũng không ai cản được, và không ai có quyền ghen tị với người khác và đặt vấn đề với Người. 

Nhưng về phần người nhận ân huệ của Người có biết ơn Người và đáp ứng xứng đáng với ân huệ họ lãnh nhận hay chăng, hoàn toàn là do họ. Trường hợp nạn nhân đương sự trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đâu có ép anh ta phải được lành mạnh - anh ta có thể nói với Chúa khi Người hỏi anh ta "Anh muốn được lành bệnh không?" rằng: "No, thank you. I'm fine!" 

Bởi thế, chỉ sau khi anh ta ngỏ ý muốn được chữa lành Người mới ra tay thỏa đáng ước muốn đã trở thành tuyệt vọng của anh ta thôi, nhờ đó, Người có thể làm cho anh ta phấn khởi lên mà sống, và sống một cách xứng đáng với số phn lành mạnh của con người vốn đã được Thiên Chúa ngay từ ban đầu dựng nên tốt đẹp mọi bề về cả hồn lẫn xác

Sau nữa, "nướctrong Bài Đọc 1 hôm nay được Tiên Tri Êzêkiên diễn tả xuất phát từ "nhà Chúa" và "chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ (dường như ám chỉ máu và nước chảy ra từ cạnh suờn Chúa Kitô tử giá), về phía nam bàn thờ (ám chỉ chảy xuống phía dưới cạnh sườn bị đâm thâu qua của Chúa Kitô tử giá)". Nước càng ngày càng dâng cao, đầu tiên chỉ ở mức "mắt cá chân", sau đó "đến đầu gối", rồi "đến ngang lưng" và cuối cùng "vì nước suối dâng lên cao quá, phải lội mới đi qua được".

Chưa hết, Bài Đọc 1 hôm nay còn cho thấy tác dụng của giòng suối nước này, cả ở dưới suối nước lẫn trên bờ suối nước. Ở dưới suối nước: "Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến".

Còn ở trên bờ suối nước thì sao, chúng ta thấy được Tiên Tri Êzêkiên diễn tả ở phần cuối Bài Đọc 1 hôm nay như thế này: "Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống".

Hình ảnh nước và suối nước theo Bài Đọc 1 hôm nay diễn tả, càng lúc càng dâng cao và mang lại sức sống cùng phát triển cho sinh vật cả ở dưới nước lẫn trên bờ như thế khiến cho chúng ta liên tưởng đến những gì Chúa Giêsu nói về nước ám chỉ Thần Linh, một Vị Thần Linh ban sự sống, được tuôn đổ xuống trên Giáo Hội bởi Chúa Kitô phục sinh (xem Gioan 7:37-39; 20:22) trong mầu nhiệm Vượt Qua và nhờ biến cố Vượt Qua.

Tâm tình của những ai được chữa lành bởi nước, như người đau liệt 38 năm trong Bài Phúc Âm hôm nay, và những ai được no thỏa suối nước xuất phát tự nhà Chúa trong Bài Đọc 1 hôm nay, đều có một cảm nghiệm thần linh như vị thánh vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay: 

1) Chúa là nơi ẩn náu và là sức mạnh của chúng ta, Người hằng cứu giúp khi ta sầu khổ. Dầu đất có rung chuyển, ta không sợ chi, dầu núi đổ xuống đầy lòng biển cả. 

2) Nước dòng sông làm cho thành Chúa vui mừng, làm hân hoan cung thánh Ðấng Tối Cao hiển ngự. Chúa ở giữa thành, nên nó không chuyển rung, lúc tinh sương, thành được Chúa cứu giúp.

3) Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ. Các ngươi hãy đến mà xem mọi kỳ công Chúa làm, Người thực hiện muôn kỳ quan trên vũ trụ. 

 

Ngày 08: Thánh Gioan Thiên Chúa, tu sĩ lập dòng

 

Thánh Gioan Thiên Chúa sinh năm 1495 tại một làng nhỏ bên nước Bồ Ðào Nha. Ðến tuổi trưởng thành, một hôm khi nghe thánh Gioan Avila rao giảng, ngài đã rung cảm tự đáy lòng về đức từ bi bao la của Chúa. Vì thế, ngài đã bán hết tất cả gia sản để có thể vươn tới đỉnh tình yêu như Chúa dạy. Ngài đã trở nên như điên dại vì lòng kính mến Chúa và thương yêu đồng loại, đặc biệt là những người nghèo khó. Ngài kiếm nhà để dung nạp và tìm cách chữa trị những bệnh nhân tật nguyền bị xã hội ruồng bỏ. Thật vậy, chúng ta có thể nói: Tháh nhân đã yêu tha nhân hơn chính mình.

Trong mọi hoàn cảnh khó khăn. Ngài luôn đặt niềm tin cậy vào sự quan phòng của Chúa. Ðể đáp lại tấm lòng quảng đại của ngài, Chúa đã xui khiến nhiều nhà hảo tâm dâng tiền giúp đỡ ngài.

Sau những ngày tận tâm phụng sự Chúa và đồng loại, ngài đã được Chúa gọi về nhận triều thiên công phúc ngày 08/3/1550, hưởng thọ 55 tuổi. 

Tuy khuất bóng nhưng lòng nhiệt thành của thánh Gioan vẫn bừng sáng và tiếp tục giúp đỡ các bệnh nhân trên khắp thế giới qua dòng ngài đã lập.

Chúng ta hãy xin Chúa làm cho ngọn lửa đức ái trở nên thần dược hàn gắn vết thương đau của nhân loại.

 

 

Thứ Tư

Lời Chúa

Bài Ðọc I: Is 49, 8-15

"Ta đã đặt ngươi nên giao ước của dân, để ngươi phục hưng xứ sở".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán: "Trong thời thuận tiện, Ta đã nghe lời ngươi; trong ngày cứu độ, Ta đã cứu giúp ngươi; Ta đã gìn giữ ngươi và đã đặt ngươi nên giao ước của dân, để ngươi phục hưng xứ sở, và thu hồi các tài sản bị phân tán, để ngươi nói với tù nhân rằng: "Các ngươi hãy ra", và nói với những kẻ ở trong tối tăm rằng: "Các ngươi hãy ra ngoài sáng". Họ được nuôi dưỡng trên các nẻo đường, và các đồi trọc sẽ trở thành đồng cỏ. Họ sẽ không còn đói khát nữa, gió nóng và mặt trời không làm khổ họ, vì Ðấng thương xót họ sẽ là người hướng dẫn họ và đưa họ đến uống ở suối nước. Ta sẽ biến đổi tất cả các núi của Ta thành đường đi, và các lối đi của Ta sẽ được bồi đắp cho cao. Này đoàn người từ xa đến. Kìa những kẻ từ hướng bắc và hướng tây lại, và những người từ miền nam lên.

Trời hãy ca ngợi, đất hãy nhảy mừng, núi đồi hãy hân hoan chúc tụng! Vì Chúa đã an ủi dân Người và sẽ xót thương những người cùng khổ.

Nhưng Sion nói: "Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi". Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 144, 8-9. 13cd-14. 17-18

Ðáp: Chúa là Ðấng nhân ái và từ bi (c. 8a).

Xướng: 1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giầu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. - Ðáp.

2) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết thảy những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng đứng thẳng lên. - Ðáp.

3) Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong việc Chúa làm. Chúa gần gũi mọi kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu cầu Ngài cách thành tâm. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: 2 Cr 6, 2

Ðây là lúc thuận tiện. Ðây là ngày cứu độ.

 

Phúc Âm: Ga 5, 17-30

"Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Người làm cho ai sống là tuỳ ý Người".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu trả lời dân Do-thái rằng: "Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng làm việc như vậy". Bởi thế, người Do-thái càng tìm cách giết Người, vì không những Người đã phạm luật nghỉ ngày Sabbat, lại còn gọi Thiên Chúa là Cha mình, coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu trả lời họ rằng:

"Quả thật, quả thật, Ta nói cho các ngươi biết: Chúa Con không thể tự mình làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy. Vì chưng, Chúa Cha yêu Chúa Con và bày tỏ cho Chúa Con biết mọi việc mình làm, và sẽ còn bày tỏ những việc lớn lao hơn thế nữa, đến nỗi các ngươi sẽ phải thán phục. Bởi vì, cũng như Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Ngài làm cho ai sống là tuỳ ý Ngài. Vì hơn nữa, Chúa Cha không xét xử ai cả, mà trao cho Chúa Con trọn quyền xét xử, để cho mọi người tôn trọng Chúa Con cũng như tôn trọng Chúa Cha: ai không tôn trọng Chúa Con thì không tôn trọng Chúa Cha, Ðấng đã sai Ngài. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, vì đến giờ và ngay bây giờ, kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai đã nghe thì sẽ được sống. Cũng như Chúa Cha có sự sống nơi chính mình thế nào, thì Người cũng cho Chúa Con có sự sống nơi mình như vậy, và Người đã ban cho Chúa Con quyền xét xử, vì Ngài là Con Người. Các ngươi đừng ngạc nhiên về điều này, vì đến giờ mọi kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa và ra khỏi mồ; kẻ đã làm việc lành thì sống lại để được sống, còn kẻ đã làm việc dữ thì sống lại để bị xét xử. Ta không thể tự mình làm điều gì. Nghe sao, Ta xét xử vậy. Và án Ta xử thì công minh, vì Ta không tìm ý riêng Ta, mà tìm ý Ðấng đã sai Ta".

Ðó là lời Chúa.

 

Suy niệm

 

 

Sự Sống thông ban

 

Hôm nay, Thứ Tư trong Tuần IV Mùa Chay, phụng vụ lời Chúa nói chung và Phúc Âm nói riêng liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, một mạc khải thần linh đã đạt đến tột đỉnh ở nơi bản thân của Chúa Giêsu Kitô, và được chính Chúa Kitô bắt đầu chứng thực cho dân do Thái biết bằng các cuộc đối đáp giữa Người và họ.   

Như đã nhận định từ hôm Thứ Hai tuần này, chiều hướng của các bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan được Giáo Hội chọn đọc cho ngày trong tuần liên tục suốt 2 tuần cuối cùng IV và V của Mùa Chay, nhất là từ hôm nay trở đi, sau hai bài về 2 phép lạ Người làm như được thuật lại ở bài Phúc Âm Thứ Hai hôm kia và Thứ Ba hôm qua. 

Phép lạ Người chữa lành cho một nạn nhân yếu liệt 38 năm vào ngày hưu lễ ở Bài Phúc Âm hôm qua đã trở thành như đầu mối cho cuộc đụng độ bắt đầu công khai hóa giữa Chúa Giêsu và dân Do Thái nói chung, nhất là thành phần biệt phái và lãnh đạo của họ.

Đó là lý do ngay sau phép lạ chữa lành cho nạn nhân yếu liệt 38 năm vào ngay ngày hưu lễ ở bài Phúc Âm hôm qua, Thánh ký Gioan đã ghi chú thêm ngay sau biến cố then chốt này như sau: "Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát". 

Chúa Giêsu đã lợi dụng chính vấn đề ngày hưu lễ cần phải nghỉ ngơi theo luật lệ và thông lệ của dân Do Thái để mạc khải cho họ thấy tất cả ý nghĩa sâu xa về việc làm đối với Đấng hiện hữu luôn sống động và năng động không bao giờ nghỉ ngơi, như chính Chúa Kitô khẳng định ở ngày đầu bài Phúc Âm hôm nay: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". 


Đó là câu trả lời của Chúa Giêsu cho việc "người Do-thái chống đối (Người) vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát". Nghĩa là sở dĩ Người "hay chữa bệnh ngày sa-bát" là vì "Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". Đúng thế, nếu căn cứ vào luật phải nghỉ ngày hưu lễ, tức là ngày thứ bảy, là vì ngày thứ bảy là ngày chính Thiên Chúa đã nghỉ, hoàn toàn không còn tiếp tục việc tạo dựng của Ngài như 6 ngày trước đó nữa, thì Chúa Giêsu đã làm điều sai trái, ở chỗ Người chẳng những phạm luật Moisen (cũng là luật Thiên Chúa ban cho dân do Thái qua ông) mà Người còn không đúng với ý nghĩa của ngày thứ bảy ban đầu nữa (xem Khởi Nguyên 2:2-3).


Tuy nhiên, nếu hiểu đúng nghĩa của ngày thứ bảy, thời điểm Thiên Chúa nghỉ việc tạo dựng, nhưng lại là thời điểm được thánh hóa: "Thiên Chúa chúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày này..." (Khởi Nguyên 2:3). Nghĩa là ngày thứ bảy là ngày thánh trong tuần, ngày để làm những việc thiêng liêng với Chúa và lành thánh với tha nhân, xa lánh những mối bận tâm trần thế, chỉ chú tâm đến phần hồn hơn là phần xác (như làm việc xác v.v.). Đó là lý do Kitô giáo đã giữ ngày Chúa Nhật, thay ngày thứ bảy, vì là ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Kitô phục sinh. Chúa Kitô đến không phải để hủy lề luật mà làm cho nó nên tọn là như thế.


Con người ta là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa dựng nên sau cùng nhưng lại là loài tạo vật được Ngài chăm chú tạo dựng một cách rất đặc biệt theo chủ ý riêng của Ngài (xem Khởi Nguyên 1:26-28). Bởi thế, sau khi tạo dựng nên họ theo hình ảnh của Ngài và tương tự như Ngài, Ngài đã tiếp tục ở với con người, tiếp tục tỏ mình ra cho họ, nghĩa là thánh hóa họ, một việc thánh hóa chỉ xẩy ra trong ngày thứ bảy là thời điểm Ngài nghỉ việc tạo dựng bề ngoài để chuyên vào việc thánh hóa bề trong, ở chỗ làm cho con người tin vào Ngài, như Chúa Giêsu đã khẳng định về công việc của Cha Người: "Công việc của Thiên Chúa đó là hãy tin vào Đấng Ngài sai" (Gioan 6:29).


Vậy Chúa Giêsu chữa lành trong ngày thứ bảy là một việc rất chính đáng, chẳng những nên làm mà còn cần phải làm nữa, vì việc chữa lành của Người hợp với mục đích của ngày thứ bảy là ngày làm việc lành thánh, ngày thánh hóa con người, để nhờ được chữa lành nạn nhân đương sự và những ai quen biết đương sự tin vào Người mà được cứu độ, đúng như bản chất việc làm của Thiên Chúa trong ngày thứ bảy là ngày thánh, ngày Ngài thánh hóa con người nơi việc tỏ mình ra của Con Ngài, Đấng Ngài muốn con người tin tưởng mà được cứu độ và thánh hóa.


Chúa Giêsu quả thực đã chí lý khi cho dân Do Thái bấy giờ biết lý do tạo sao Người hay chữa lành vào ngày thứ bảy, đó là vì "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". Trong bài Phúc Âm hôm nay, ở đoạn ngay sau đó, Người còn cho họ biết "Chúa Con không thể tự mình làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy". Chẳng hạn, như Người trưng dẫn một việc quan trọng và chính yếu nhất của ngày thứ bảy là ngày thánh hóa đó là: "Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Người làm cho ai sống là tùy ý Người", nên "Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời".



 Cho dù việc Người làm phép lạ trong ngày hưu lễ chính đáng và chí lý mấy đi nữa, đúng như mục đích và ý nghĩa của ngày thứ bảy theo ý định thần linh của Thiên Chúa, vẫn là một hành động phạm luật và sai trái, nên Người đã bị "người Do-thái chống đối", vậy mà Người lại còn như đổ thêm dầu vào lửa qua cách xưng hô của Người với Đấng đã sai Người, mà tình hình căng thăng và đụng độ càng trở nên kịch liệt hơn nữa, đến độ họ tìm cách sát hại Người, như Thánh ký Gioan ghi nhận ở ngay câu Người nói: "Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa".

Thế nhưng là "ánh sáng thật soi chiếu mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), như "ánh sáng chiếu trong tăm tối, một thứ tối tăm không át được ánh sáng" (Gioan 1:5), Chúa Giêsu đã lợi dụng cái tối tăm và lầm lạc của dân Người nơi chính tình trạng rất đạo đức tốt lành của dân mình, ở chỗ họ hết sức bảo vệ luật lệ (liên quan đến phép lạ Người làm vào ngày hưu lễ) và coi trọng phẩm vị cao cả của Thiên Chúa (liên quan đến lời Người cưng hô với Thiên Chúa), nhưng không hoàn toàn phản ảnh tất cả sự thật của mạc khải thần linh mà Người là tột đỉnh và là tất cả. 

Bởi thế, qua bài Phúc Âm hôm nay, Người đã chứng thực về Người liên quan đến mối liên hệ mật thiết với Cha của Người là Đấng đã sai Người, bằng cách Người đã nói cho họ biết rõ: Người và Cha cùng làm một việc như nhau (1); Người là hiện thân đại diện của Cha và cho Cha nơi loài người (2), và Người là thừa tác viên ban sự sống của Cha cho loài người (3).

1- Người và Cha cùng làm một việc như nhau: "Chúa Con không thể tự mình làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy. Vì chưng, Chúa Cha yêu Chúa Con và bày tỏ cho Chúa Con biết mọi việc mình làm, và sẽ còn bày tỏ những việc lớn lao hơn thế nữa, đến nỗi các ngươi sẽ phải thán phục. Bởi vì, cũng như Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Ngài làm cho ai sống là tùy ý Ngài". 

2- Người là hiện thân đại diện của Cha và cho Cha nơi loài người: "Chúa Cha không xét xử ai cả, mà trao cho Chúa Con trọn quyền xét xử, để cho mọi người tôn trọng Chúa Con cũng như tôn trọng Chúa Cha: ai không tôn trọng Chúa Con thì không tôn trọng Chúa Cha, Ðấng đã sai Ngài. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, vì đến giờ và ngay bây giờ, kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai đã nghe thì sẽ được sống". 

3- Người là thừa tác viên ban sự sống của Cha cho loài người: "Cũng như Chúa Cha có sự sống nơi chính mình thế nào, thì Người cũng cho Chúa Con có sự sống nơi mình như vậy, và Người đã ban cho Chúa Con quyền xét xử, vì Ngài là Con Người. Các ngươi đừng ngạc nhiên về điều này, vì đến giờ mọi kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa và ra khỏi mồ; kẻ đã làm việc lành thì sống lại để được sống, còn kẻ đã làm việc dữ thì sống lại để bị xét xử. Ta không thể tự mình làm điều gì. Nghe sao, Ta xét xử vậy. Và án Ta xử thì công minh, vì Ta không tìm ý riêng Ta, mà tìm ý Ðấng đã sai Ta".

Qua lời tự chứng của Chúa Kitô về bản thân Người trong bài Phúc Âm hôm nay, như vừa được thứ tự tóm gọn làm 3 đoạn trên đây, chúng ta thấy Người muốn chứng thực với dân Do Thái rằng: 

1- Người quả thực là Đấng Thiên Sai của họ, từ Cha mà đến: ""Chúa Con không thể tự mình làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy"; 

2- Nên Người chỉ làm những gì Cha là Đấng đã sai Người muốn Người làm: "Ta không thể tự mình làm điều gì. Nghe sao, Ta xét xử vậy. Và án Ta xử thì công minh, vì Ta không tìm ý riêng Ta, mà tìm ý Ðấng đã sai Ta";  

3- Mà việc Người cần phải làm trên hết theo đúng như ý muốn của Cha đó là ban sự sống của Người cũng là của Cha cho loài người: "cũng như Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Ngài làm cho ai sống là tùy ý Ngài... Cũng như Chúa Cha có sự sống nơi chính mình thế nào, thì Người cũng cho Chúa Con có sự sống nơi mình như vậy";

4- Vì con người tạo vật, bởi nguyên tội, đã bị băng hoại và sống trong chết chóc, cần được hồi sinh và tái sinh: "đến giờ và ngay bây giờ, kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai đã nghe thì sẽ được sống...  vì đến giờ mọi kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa và ra khỏi mồ; kẻ đã làm việc lành thì sống lại để được sống, còn kẻ đã làm việc dữ thì sống lại để bị xét xử". 

5- Và đường lối để được sự sống đó là nhận biết Đấng Thiên Sai và chấp nhận những gì Người mạc khải cho biết: "Chúa Cha không xét xử ai cả, mà trao cho Chúa Con trọn quyền xét xử, để cho mọi người tôn trọng Chúa Con cũng như tôn trọng Chúa Cha: ai không tôn trọng Chúa Con thì không tôn trọng Chúa Cha, Ðấng đã sai Ngài. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống".

Đúng thế, mục đích chính yếu và duy nhất Thiên Chúa dựng nên con người theo hình ảnh thần linh của Ngài và tương tự như Ngài (xem Khởi Nguyên 1:26-27) đó là cho họ được hiệp thông thần linh với Ngài, để họ được tham phần vào sự sống thần linh của Người và với Người. 

Cho dù loài người, bởi nguyên tội, đã đánh mất sự sống thần linh vô cùng cao quí này từ mối hiệp thông thần linh ngay từ ban đầu ấy, Thiên Chúa vẫn tìm cách ban lại cho họ, ở một mức độ còn dồi dào sung mãn hơn nữa, nơi "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta... đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14). 

Ở Bài Đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy được hình ảnh của một Vị Thiên Chúa vô cùng nhân hậu không bao giờ bỏ rơi nhân loại được Ngài cố ý dựng nên để làm con cái của Ngài, để yêu thương họ và cho họ thông phần vào sự sống của Ngài: "Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu".

Chính vì Thiên Chúa luôn chăm sóc cho tạo vật vô cùng thấp hèn lại tội lỗi vô cùng khốn nạn của Ngài như thế mà Ngài "đã yêu thế gian đến ban Con Một của Ngài để ai tin vào Con thì không phải chết nhưng được sự sống" (Gioan 3:16), đúng như những gì chính Chúa Kitô đã nói về Người trong Bài Phúc Âm hôm nay, một Người Con đã được báo trước trong Bài Đọc 1 cùng ngày về sứ vụ giải phóng của Người để mang lại sự sống mới cho những ai được trao phó cho Người

"Nên giao ước của dân, để người phục hưng xứ sở, và thu hồi các tài sản bị phân tán, để người nói với tù nhân rằng: 'Các ngươi hãy ra', và nói với những kẻ ở trong tối tăm rằng: 'Các ngươi hãy ra ngoài sáng'. Họ được nuôi dưỡng trên các nẻo đường, và các đồi trọc sẽ trở thành đồng cỏ. Họ sẽ không còn đói khát nữa, gió nóng và mặt trời không làm khổ họ, vì Ðấng thương xót họ sẽ là người hướng dẫn họ và đưa họ đến uống ở suối nước. Ta sẽ biến đổi tất cả các núi của Ta thành đường đi, và các lối đi của Ta sẽ được bồi đắp cho cao. Này đoàn người từ xa đến. Kìa những kẻ từ hướng bắc và hướng tây lại, và những người từ miền nam lên".

Trước một Vị Thiên Chúa yêu thương nhân hậu đối với nhân loại lầm than khốn khổ cần được cứu độ như thế, con người không thể nào không cùng với thánh vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay dâng lên Ngài những cảm nhận thần linh chí thiết sau đây:

1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giầu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. 

2) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết thảy những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng đứng thẳng lên. 

3) Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong việc Chúa làm. Chúa gần gũi mọi kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu cầu Ngài cách thành tâm. 

Ngày 09: Thánh Phanxica Rômana, quả phụ nữ tu

Thánh Phanxica sinh năm 1384 tại kinh thành La Mã trong gia đình quý tộc và đạo đức. Ngay từ buổi thiếu thời, thánh nhân đã có được nhiều đức tính như nhu mì, đơn sơ, trầm lặng, nết na, và không để cho mình bị lôi kéo theo cuộc sống thác loạn xa hoa của người đời. Ngài thường lui tới các bệnh viện và các trại tế bần để an ủi và chăm sóc các bệnh nhân, vì ngài thường nói: "Chính ở đó, Chúa dạy tôi nhiều bài học".

Khi lớn, Phanxica vâng lời cha mẹ đi kết hôn và sinh hạ được hai trai một gái. Trong cuộc sống gia đình, thánh nữ luôn tỏ ra là một người vợ đảm đang, một người mẹ dịu hiền và tận tâm.

Sau khi đã chu toàn bổn phận gia đình, thánh nữ đã dâng mình cho Chúa trong nhà dòng do chính ngài sáng lập. Ngài qua đời ngày 09/3/1440, hưởng thọ 56 tuổi. Xác người được mai táng trong nhà thờ của tu viện. Nơi đây, Chúa đã làm nhiều phép lạ do lời cầu bầu của thánh nữ. 

Ðức Giáo Hoàng Phaolô V đã tôn ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1608.

 

 

Thứ Năm

Lời Chúa

 Bài Ðọc I: Xh 32, 7-14

"Xin Chúa tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa".

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: "Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập". Chúa phán cùng Môsê: "Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại".

Môsê van xin Chúa là Thiên Chúa của ông rằng: "Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: "Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất". Xin Chúa nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac, và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: "Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi". Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 105, 19-20. 21-22. 23

Ðáp: Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài (c. 4a).

Xướng: 1) Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ. - Ðáp.

2) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ. - Ðáp.

3) Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11

Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống".

 

Phúc Âm: Ga 5, 31-47

"Có người tố cáo các ngươi, đó là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do-thái rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống.

Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môsê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin Môsê, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Môsê đã viết về Ta. Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môsê đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được?"

Ðó là lời Chúa.  

 

 

 

Suy niệm
 

Sự Sống chứng thực

 

Thứ Năm trong Tuần IV Mùa Chay hôm nay, phụng vụ lời Chúa bề ngoài có vẻ liên quan đến hiện tượng hay khuynh hướng ngẫu tượng nơi dân Do Thái, cả Cựu Ước lẫn vào thời Chúa Kitô, nhưng sâu xa liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, một mạc khải thần linh đã đạt đến tột đỉnh ở nơi bản thân của Chúa Giêsu Kitô, nhưng lại là một mạc khải thần linh bị chính dân Người chống đối và trù dập. 

Ở ngay đầu đoạn cuối của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã công khai và thẳng thắn cho chung dân Do Thái đang tụ tập lại nghe Người bấy giờ biết chính vì cái khuynh hướng trần tục của họ đã trở thành lý do tại sao họ không thể nào có thể chấp nhận được chứng từ chân thực của Người về Người: 

"Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được?"

Khi khẳng định với dân Do Thái về họ bấy giờ rằng "Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó", Chúa Giêsu đã đánh trúng tim đen của họ, đã tấn công vào ngay nhược điểm của họ. Ở chỗ, họ đang mong một đấng thiên sai về chính trị để có thể giải cứu họ khỏi quyền lực của đế quốc Roma, mà ai có thể thực hiện được việc giải phóng này thì họ sẽ tin phục, hoan hô và theo đuổi, chẳng cần biết người anh hùng dân tộc đó có thực sự được Thiên Chúa sai đến hay chăng, có thể thắng được đế quốc Roma hay chăng...

Phần Chúa Giêsu, vì "không tìm vinh quang nơi loài người" mà Người không thể nào có những hành động mị dân để được họ hoan hô ủng hộ, để thu hút lòng mộ mến của họ, trái lại, Người nói tất cả sự thật về bản thân cũng như về nguồn gốc thần linh của Người, vì như Người tuyên bố với họ chỉ có chân lý mới giải thoát được họ thôi (xem Gioan 8:32), chứ không phải quyền lực chính trị nào hết, bởi họ cần phải được giải thoát trước hết và trên hết cho khỏi tội lỗi và sự chết liên quan đến phần rỗi đời đời của họ, chứ không phải được giải thoát khỏi một thứ quyền lực thế gian chỉ là những gì tiêu biểu như hình bóng cho thứ quyền lực tối tăm chết chóc của hỏa ngục.

Đó là lý do, trong bài Phúc Âm hôm nay, chứng từ của Chúa Giêsu về bản thân của Người không phải từ chứng cớ riêng của Người: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực", mà là từ một thẩm quyền cao hơn Người: "Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực".

Và Người chỉ trưng dẫn những chứng cớ về Người mà Người thấy rằng hoàn toàn "xác thực" nơi bản thân Người, những chứng cớ được thẩm quyền cao hơn Người đã sử dụng để chứng thực về Người, hiển nhiên nhất ở trong biến cố Người biến hình trên núi cao: "Đây là Con của Ta, người Ta đã tuyển chọn; hãy lắng nghe Người" (Luca 9:35). 

Chính Người cũng đã căn cứ vào 3 chứng cớ đã được thẩm quyển sai Người sử dụng để chứng thực về Người, trước hết là chứng cớ liên quan đến loài người, sau nữa, nhất là chứng cớ liên quan đến chính Thiên Chúa cùng với mạc khải của Ngài, và sau cùng là chứng cớ liên quan đến mạc khải thần linh trong Thánh Kinh

Trước hết là chứng cớ liên quan đến loài người: "Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian".

Sau nữa là chứng cớ liên quan đến chính Thiên Chúa: "Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta". 

Sau hết là chứng cớ liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, tức liên quan đến Thánh Kinh là những gì chân thực không sai lầm mà họ cần phải tin theo: "Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống".

Cho dù Chúa Giêsu có chứng thực về mình bằng 3 nguồn chứng rõ ràng bất khả thiếu ấy, dân Do Thái nói chung vẫn không chịu chấp nhận Người, bởi khuynh hướng và tinh thần trần tục của họ, như đã đề cập đến trên đây, chẳng những vì họ "không có lòng yêu mến Thiên Chúa... không tìm vinh quang do một Thiên Chúa", trái lại, họ chỉ theo đuổi tìm kiếm "vinh quang lẫn nhau". 

Tinh thần và khuynh hướng trần tục này của họ chẳng khác gì của dân ngoại là thành phần vẫn bị họ khinh bỉ là thứ đồ nhơ nhớp tội lỗi, trong khi họ cũng chẳng hơn gì dân ngoại, thậm chí còn tệ hơn cả dân ngoại nữa, vì họ được Thiên Chúa ở cùng họ, liên lỉ tỏ mình ra cho họ, ban lề luật thánh của Ngài để dẫn dắt họ, nhờ đó họ sống xứng với phẩm vị con người và ơn gọi trở thành một dân tộc thánh hảo của Ngài giữa muôn dân nước, thế mà họ vẫn tôn thờ tà thần ngẫu tượng như dân ngoại, chứ đâu có khá hơn dân ngoại.

Không phải hay sao, lịch sử cứu độ của họ đã cho thấy dân Do Thái còn sống tệ hơn cả dân ngoại nữa, trong khi dân ngoại chẳng được diễm phúc biết đến mạc khải thần linh và cũng chẳng được ban cho lề luật thánh hảo nên tôn thờ tà thần là phải, còn dân Do Thái thì lại biến Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất từng tỏ mình ra cho họ, nhất là ở cuộc vượt qua của họ từ đất nước Ai Cập băng qua Biển Đỏ mà vào sa mạc, thành một thứ ngẫu tượng của họ, như Sách Xuất Hành thuật lại chính lời của Thiên Chúa phán cùng Moisen về họ trong Bài Đọc 1 hôm nay

"Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: 'Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập'. Chúa phán cùng Môsê: 'Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại'".

Thế nhưng, mạc khải thần linh của Thiên Chúa không phải chỉ như là ánh sáng chiếu giữa ban ngày mà là chiếu vào bóng tối để xua tan tối tăm. Bởi thế, dân Do Thái càng mù tối càng cần đến ánh sáng, nhờ đó mạc khải thần linh của Thiên Chúa mới ngày càng trở nên sáng tỏ hơn nơi họ. Ở chỗ, dân Do Thái càng phản bội Thiên Chúa của mình, càng muốn biến Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ thành ngẫu tượng của họ thì Thiên Chúa lại càng phải tỏ ra thủy chung với họ, để họ càng thấy được quả thực ngoài Ngài ra không có một vị Thiên Chúa nào khác dưới tầng trời này. 

Trong lời khẩn cầu chống đỡ của mình để ngăn cản ý định tru diệt dân Do Thái của Thiên Chúa, vị trung gian môi giới Moisen đã căn cứ vào chính Thiên Chúa, vào lời hứa của Ngài, vào mục đích giải thoát dân Do Thái của Ngài, vào tình yêu nhân hậu của Ngài, vào mối liên hệ của Ngài với các vị tổ phụ của họ để xin Ngài tha cho dân Do Thái, một lời khẩn cầu không thể nào lại không đẹp lòng Thiên Chúa vì nó đã thực sự chạm đến chính cõi lòng của Thiên Chúa và khuấy động lên lòng thương của Ngài:

"Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: 'Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất'. Xin Chúa nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac, và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: 'Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi'. Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người".

Hành động tôn thờ ngẫu tượng của dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay, được Bài Đáp Ca cùng ngày chẳng những thuật lại mà còn được thánh vịnh gia cảm nhận về tính cách của việc dân Do Thái ấy như là việc "Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ":

1) Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ.

2) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ. 

3) Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ. 




Thứ Sáu


Lời Chúa

Bài Ðọc I: Kn 2, 1a. 12-22

"Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã".

Trích sách Khôn Ngoan.

Những kẻ gian ác suy nghĩ chín chắn, đã nói rằng: "Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Nó tự hào mình biết Thiên Chúa và tự xưng là con Thiên Chúa. Chính nó là sự tố cáo những tư tưởng của chúng ta. Vì nguyên việc thấy nó, chúng ta cũng cáu, thấy bực mình, vì nếp sống của nó không giống như kẻ khác, và đường lối của nó thì lập dị. Nó kể chúng ta như rơm rác, nó xa lánh đường lối chúng ta như xa lánh những gì dơ nhớp, nó thích hạnh phúc cuối cùng của người công chính, nó tự hào có Thiên Chúa là Cha. Vậy chúng ta hãy xem coi điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!" Chúng nghĩ như vậy, nhưng chúng lầm, vì tội ác của chúng đã làm cho chúng mù quáng. Và chúng không biết ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa, nên cũng chẳng hy vọng phần thưởng công chính, và chúng cũng không ưa thích vinh dự của những tâm hồn thánh thiện.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33, 17-18. 19-20. 21 và 23

Ðáp: Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường (c. 19a).

Xướng: 1) Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Ngài cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. - Ðáp.

2) Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát. Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân, nhưng Chúa luôn luôn giải thoát. - Ðáp.

3) Ngài gìn giữ họ xương cốt vẹn toàn, không để cho một cái nào bị gãy. Chúa cứu chữa linh hồn tôi tớ của Ngài, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Ngài, người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 94, 8ab

Hôm nay, các ngươi đừng cứng lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa phán.

 

Phúc Âm: Ga 7, 1-2. 10. 25-30

"Chúng tìm cách bắt Người, nhưng chưa tới giờ Người".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi lại trong xứ Galilêa; Người không muốn đi lại trong xứ Giuđêa, vì người Do-thái đang tìm giết Người. Lúc đó gần đến lễ Trại của người Do-thái. Nhưng khi anh em của Người lên dự lễ rồi, thì Người cũng đi, nhưng không đi cách công khai, mà lại đi cách kín đáo.

Có một số người ở Giêrusalem nói: "Ðây không phải là người họ đang tìm giết sao? Kìa ông ta đang nói công khai mà không ai nói gì cả. Phải chăng các nhà chức trách đã nhận ra ông ta là Ðấng Kitô? Tuy nhiên, ông này thì chúng ta biết rõ đã xuất thân từ đâu. Còn khi Ðấng Kitô tới, thì chẳng có ai biết Người bởi đâu".

Vậy lúc bấy giờ Chúa Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, Người lớn tiếng nói rằng: "Phải, các ngươi biết Ta, và biết Ta xuất thân từ đâu; Ta không tự Ta mà đến, nhưng thực ra, có Ðấng đã sai Ta mà các ngươi không biết Ngài. Riêng Ta, Ta biết Ngài, vì Ta bởi Ngài, và chính Ngài đã sai Ta". Bởi thế họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, vì chưa tới giờ Người.

Ðó là lời Chúa.


Suy niệm


  Sự Sống tương phản


Mùa Chay cho tới hôm nay đã ở vào ngày Thứ Sáu trong Tuần thứ IV, phụng vụ lời Chúa nói chung và Phúc Âm nói riêng cho thấy phản ứng tiêu cực của bóng tối lòng người bị chói lòa trước ánh sáng mạc khải thần linh.

Thật vậy, ngay trong bài Phúc Âm hôm nay, ở đoạn đầu tiên trong ba đoạn, Thánh ký Gioan đã ghi nhận tình hình căng thẳng đến nghẹt thở giữa bóng tối và ánh sáng như sau: 

"Khi ấy, Chúa Giêsu đi lại trong xứ Galilêa; Người không muốn đi lại trong xứ Giuđêa, vì người Do-thái đang tìm giết Người. Lúc đó gần đến lễ Trại của người Do-thái. Nhưng khi anh em của Người lên dự lễ rồi, thì Người cũng đi, nhưng không đi cách công khai, mà lại đi cách kín đáo".

Hai bài Phúc Âm hôm qua, Thứ Năm, và hôm kia, Thứ Tư, Thánh ký Gioan ở cùng đoạn 5 cho chúng ta thấy chứng từ của Chúa Giêsu chứng thực về bản thân Người và nguồn gốc của Người ở giáo đô Giêrusalem. Sau đó, ở đoạn 6 của cùng Phúc Âm, Người về Galilêa và đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để từ đó mạc khải về Người là Bánh Sự Sống. 

Câu đầu tiên mở đầu đoạn 7 của bài Phúc Âm hôm nay là câu chuyển tiếp cho việc Người đang ở Galilêa và lý do Người không muốn xuất hiện ở Giuđêa: "Khi ấy, Chúa Giêsu đi lại trong xứ Galilêa; Người không muốn đi lại trong xứ Giuđêa, vì người Do-thái đang tìm giết Người". 

Thật ra, không phải là Người sợ chết cho bằng chưa tới giờ của Người. Nguyên sự kiện Người tạm lánh mặt đi như thế này thôi cũng đủ cho thấy Người quả thực là Đấng Thiên Sai như Người đã nói và làm bao giờ cũng chỉ theo ý Cha là Đấng đã sai Người mà thôi.

Nếu Người không phải là Đấng Thiên Sai đích thực, mà chỉ tìm vinh quang trần thế, như Người cảnh báo dân Do Thái trong bài Phúc Âm hôm qua, chắc chắn Người sẽ làm theo ý của Người, ở chỗ, một khi thấy rằng mình đã được bao nhiêu là người hậu thuẫn, thậm chí muốn tôn Người lên làm vua (xem Gioan 6:15) sau phép lạ Người hóa bánh ra nhiều để nuôi cả năm ngàn người đàn ông không kể đàn bà con nít, Người sẽ hô hào họ theo Người và cùng Người kéo xuống Giuđea để tiến về Giêrusalem hầu cho cả giáo quyền Do Thái lẫn chính quyền Roma thấy được quyền lực cùng thanh thế hùng mạnh đáng sợ của Người. 

Thế nhưng, vì là chính Đấng Thiên Sai, Đấng Thiên sai đích thực, mà Thánh ký Gioan đã thuật lại về Người trong Bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Lúc đó gần đến lễ Trại của người Do-thái. Nhưng khi anh em của Người lên dự lễ rồi, thì Người cũng đi, nhưng không đi cách công khai, mà lại đi cách kín đáo".

Tuy nhiên, cho dù lên Giêrusalem một cách kín đáo, ở tại giáo đô này, trong khu vực đền thờ, Người vẫn công khai tỏ mình ra bằng chứng từ của Người, không sợ, vì đó là giờ của Người, là lúc và là nơi Cha của Người là Đấng đã sai Người đến, bằng thúc động của Thánh Linh hằng ngự nơi Người và là Đấng luôn tác động mọi lời nói và việc làm của Người theo đúng ý muốn của Cha. Việc công khai xuất hiện của Người tuy làm cho đám đông ngạc nhiên nhưng họ vẫn không chấp nhận Người:

"Có một số người ở Giêrusalem nói: 'Ðây không phải là người họ đang tìm giết sao? Kìa ông ta đang nói công khai mà không ai nói gì cả. Phải chăng các nhà chức trách đã nhận ra ông ta là Ðấng Kitô? Tuy nhiên, ông này thì chúng ta biết rõ đã xuất thân từ đâu. Còn khi Ðấng Kitô tới, thì chẳng có ai biết Người bởi đâu'".

Đúng thế, cho dù Chúa Kitô có làm chứng về Người thế nào chăng nữa, dân chúng vẫn không thể nào tin tưởng được Người là Đấng Thiên Sai của họ, bởi vì, căn cứ vào nguồn gốc trần gian của Người, một tên Giêsu xuất thân từ Nazarét xứ Galilêa: "ông này thì chúng ta biết rõ đã xuất thân từ đâu", nghĩa là ông ta chắc chắn không phải là Đấng Thiên Sai, bởi theo suy luận của họ thì nếu họ biết rõ về thân thế và xuất xứ của Người tất nhiên những gì cần phải xẩy ra đó là Đấng Thiên Sai phải là một nhân vật hoàn toàn bí mật: "khi Ðấng Kitô tới, thì chẳng có ai biết Người bởi đâu".

Trước những nhận định của dân chúng không sai về xuất xứ ở trần gian này của Người: "Phải, các ngươi biết Ta, và biết Ta xuất thân từ đâu"; Chúa Giêsu lại tiếp tục tỏ mình ra cho họ một cách chính xác hơn nữa, để nhờ đó họ có thể thấy được tất cả sự thật về Người mà được sự sống, khi Người cho họ biết rằng: "Ta không tự Ta mà đến, nhưng thực ra, có Ðấng đã sai Ta mà các ngươi không biết Ngài. Riêng Ta, Ta biết Ngài, vì Ta bởi Ngài, và chính Ngài đã sai Ta".

Nếu trong Bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Kitô chỉ mới đi vòng vòng ở ngoài khi nói đến các việc Người làm được Cha Người trao phó để chứng thực về Người: "công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta", thì trong bài Phúc Âm hôm nay, Người đã bắt đầu tiến vào vòng trong, khi tuyên bố rõ hơn và mạnh hơn về vai trò Thiên Sai của Người: "Ta không tự Ta mà đến, nhưng thực ra, có Ðấng đã sai Ta mà các ngươi không biết Ngài. Riêng Ta, Ta biết Ngài, vì Ta bởi Ngài, và chính Ngài đã sai Ta".

Ánh sáng càng sáng tỏ càng chói lòa bóng tối và càng xua tan bóng tối, tuy nhiên, thành phần "chuộng tối tăm hơn ánh sáng... sợ bị phơi bày ra ánh sáng" (Gioan 3:19-20), sợ chính ánh sáng, nên chỉ muốn tìm hết cách để dập tắt ánh sáng. Thánh ký Gioan đã cho thấy phản ứng của dân chúng trước mạc khải thần linh tràn đầy sự thật càng ngày càng rạng ngời hơn về Chúa Giêsu như sau: "Bởi thế họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, vì chưa tới giờ Người". 

Hành động và phản ứng đầy tính chất tối tăm của dân Do Thái trong Bài Phúc Âm hôm nay, trước mạc khải thần linh của Chúa Kitô về bản thân Người, là những hành động và phản ứng theo tâm lý tự nhiên của con người ở mọi thời đại, như đã được Sách Khôn Ngoan ở Bài Đọc 1 hôm nay vạch trần cho thấy tất cả những âm mưu gian ác của họ như sau: 

"Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Nó tự hào mình biết Thiên Chúa và tự xưng là con Thiên Chúa. Chính nó là sự tố cáo những tư tưởng của chúng ta. Vì nguyên việc thấy nó, chúng ta cũng cáu, thấy bực mình, vì nếp sống của nó không giống như kẻ khác, và đường lối của nó thì lập dị. Nó kể chúng ta như rơm rác, nó xa lánh đường lối chúng ta như xa lánh những gì dơ nhớp, nó thích hạnh phúc cuối cùng của người công chính, nó tự hào có Thiên Chúa là Cha. Vậy chúng ta hãy xem coi điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!" 

Tuy nhiên, lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử cứu độ của dân Do Thái nói riêng đã cho thấy, như nơi trường hợp Giuse bị 10 người anh thay vì sát hại đã bán Giuse sang Ai Cập để phá hủy mộng mị của đứa em Giuse đáng ghét của họ không ngờ lại làm trọn những gì bị họ cho mà mộng mị ấy (xem Khởi Nguyên 37:20; 50:19-20), vì họ chỉ là loài người thiển cận, như cóc ngồi đáy giếng, đúng như Bài Đọc 1 hôm nay cho biết: "nhưng chúng lầm, vì tội ác của chúng đã làm cho chúng mù quáng. Và chúng không biết ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa".

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa những nhận thức hoàn toàn phản lại với tâm tưởng đen tối của thành phần gian ác trong Bài Đọc 1 cùng ngày, những nhận thức hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng làm chủ mọi sự và quan phòng mọi sự theo ý định vô cùng khôn ngoan và toàn năng của Ngài:

1) Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Ngài cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. 

2) Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát. Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân, nhưng Chúa luôn luôn giải thoát. 

3) Ngài gìn giữ họ xương cốt vẹn toàn, không để cho một cái nào bị gãy. Chúa cứu chữa linh hồn tôi tớ của Ngài, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Ngài, người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi. 




Thứ Bảy


Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Gr 11, 18-20

"Con như chiên con hiền lành bị đem đi giết".

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Lạy Chúa, Chúa đã tỏ cho con và con đã biết; vì Chúa đã chỉ cho con những mưu toan của chúng. Còn con, con như chiên con hiền lành bị đem đi giết. Con đã không biết chúng mưu toan hại con khi chúng nói: "Chúng ta hãy bỏ cây vào bánh của nó, chúng ta hãy diệt trừ nó khỏi đất kẻ sống, và người ta không còn nhớ đến tên nó nữa".

Nhưng lạy Chúa các đạo binh, Chúa xét xử công minh, và dò xét tâm can. Chớ gì con sẽ thấy Chúa báo thù chúng, vì con đã phó thác việc con cho Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 7, 2-3. 9bc-10. 11-12

Ðáp: Lạy Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài (c. 2a).

Xướng: 1) Lạy Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài, xin cứu con khỏi mọi người đang lùng bắt, và xin giải thoát thân con, kẻo có người như sư tử chộp bắt hồn con, xé nát ra mà không ai cứu gỡ. - Ðáp.

2) Xin minh xét cho con, thân lạy Chúa, theo sự công chính và vô tội ở nơi con. Nguyện cho chấm dứt sự độc dữ kẻ ác nhân, và xin Ngài củng cố người hiền đức, khi Ngài lục soát tâm can, ôi Chúa công minh. - Ðáp.

3) Thuẫn che thân con là Thiên Chúa, Ðấng cứu độ những kẻ lòng ngay. Thiên Chúa là vị công minh thẩm phán, và Thiên Chúa hăm doạ hằng ngày. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

 

Phúc Âm: Ga 7, 40-53

"Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: "Ông này thật là tiên tri". Kẻ khác nói: "Ông này thật là Ðấng Kitô". Người khác nữa lại nói: "Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?" Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người. Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người. Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ rằng: "Tại sao các ngươi không điệu nó tới?" Các người thừa hành thưa rằng: "Chẳng hề có ai nói như người ấy". Các người biệt phái trả lời rằng: "Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì lề luật". Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với họ rằng: "Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?" Nhưng họ trả lời rằng: "Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa". Sau đó ai về nhà nấy.

Ðó là lời Chúa.


Suy niệm


 

   Sự Sống Ẩn Hiện  


Hôm nay, Thứ Bảy, ngày cuối cùng của Tuần IV Mùa Chay, bài Phúc Âm hôm nay không hề có sự hiện diện chính thức của Chúa Giêsu một tí nào. Thế nhưng dù không có lời nào Người phán hay việc nào Người làm, mà Người lại nổi bật hơn bao giờ hết, giữa tình trạng chia rẽ trầm trọng nơi cả dân chúng cũng như thành phần lãnh đạo, và giữa thành phần lãnh đạo với thành phần thừa hành. Đó là chứng cớ cho thấy tầm ảnh hưởng quá ấn tượng của Người.

 

Trước hết, thành phần dân chúng đã chia rẽ nhau về Người như sau: "Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: 'Ông này thật là tiên tri'. Kẻ khác nói: 'Ông này thật là Ðấng Kitô'. Người khác nữa lại nói: 'Đấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?' Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người".

 

Sau nữa, giữa thành phần lãnh đạo với thành phần thừa hành: "Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người. Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ rằng: 'Tại sao các ngươi không điệu nó tới?' Các người thừa hành thưa rằng: 'Chẳng hề có ai nói như người ấy'. Các người biệt phái trả lời rằng: 'Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì lề luật'".

 

Sau hết, giữa chính nội bộ lãnh đạo với nhau: "Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với họ rằng: 'Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?' Nhưng họ trả lời rằng: 'Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa' Sau đó ai về nhà nấy".

 

Tình trạng chia rẽ này, cho dù giữa dân chúng với nhau hay giữa nội bộ lãnh đạo với nhau, đều giống nhau và qui tụ lại ở chỗ cả hai thành phần này cùng căn cứ vào xuất xứ của nhân vật Giêsu Nazarét là từ Galilêa chứ không phải từ Giuđêa để suy diễn và quyết đoán về Người có thực sự là tiên tri hay chăng, hoặc là đấng thiên sai hay chăng?

 

Dân chúng: "Đấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?"; Lãnh đạo: "Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa".

 

Đó là về phía thành phần không chấp nhận Người. Còn về thành phần chấp nhận Người thì họ lại căn cứ vào cảm nhận tự nhiên của họ, đúng hơn, căn cứ vào chính những gì Người nói mà họ cảm nhận được Người là ai, đúng như Người chứng thực về Người, rất đáng khả tín, rất đáng chấp nhận. 

 

Trong khi chung dân chúng: "sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: 'Ông này thật là tiên tri'. Kẻ khác nói: 'Ông này thật là Ðấng Kitô'", thì thành phần thừa hành của các vị trong giáo quyền cũng cảm thấy có một cái gì đó đặc biệt nơi Người: "Chẳng hề có ai nói như người ấy".

 

Đến đây và ở trong trường hợp của bài Phúc Âm hôm nay chúng ta mới thấy thật sự và hoàn toàn ứng nghiệm lời tiên tri của tư tế Simeon là vị đã ẵm hài nhi Giêsu trên tay lúc bé mới được 40 ngày mà nói: "Con Trẻ này sẽ trở thành cớ cho nhiều người trong Israel vấp ngã hay chỗi dậy, trở thành một dấu hiệu đối chọi" (Luca 2:34). 

 

Chính Chúa Kitô cũng cho dân Do Thái biết bản thân Người là cả một mầu nhiệm vô cùng cao cả và thần linh, tự mình họ không thể nào thấu biết, cho dù Người không giấu diếm họ một chút nào, trái lại đã nhiều lần và nhiều cách tỏ mình ra cho họ biết tất cả sự thật về Người, theo kiểu cách loài người, đến độ, cả thành phần môn đệ thân tín của Người cũng thế, cũng không hơn gì dân chúng và thành phần lãnh đạo dân chúng, như chính Người đã quả quyết với các vị như đã quả quyết với chung dân Do Thái rằng: 

 

"Các con ơi, Thày không còn ở với các con bao lâu nữa. Các con sẽ tìm kiếm Thày, nhưng này Thày nói với các con những gì Thày đã từng nói với người Do Thái đó là 'nơi Tôi đi quí vị không thể nào đến được'" (Gioan 13:33; 7:33-34). 

 

Thậm chí, Người còn báo trước cho chung dân Do Thái và riêng thành phần lãnh đạo của họ biết rằng: "Quí vị sẽ tìm Tôi nhưng quí vị sẽ chết trong tội lỗi của quí vị" (Gioan 8:21), và quả thực đã xẩy ra hoàn toàn đúng như vậy, trong Tuần Thánh. Ở chỗ, chẳng những cả một Hội Đồng Đầu Mục Do Thái đã đồng thanh lên án tử cho Người ngay khi Người chân nhận mình là Đấng Thiên Sai như họ nhân danh Thiên Chúa hỏi Người, mà còn cả một tông đồ đoàn bỏ chạy, một tông đồ Giuđa phản nộp Thày mình và nhất là một lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô chối bỏ Thày mình ... 

 

Tuy nhiên, không phải vì thế, không phải thấy trước một tương lai đen tối như thế mà Người, Đấng Thiên Sai đích thực của Thiên Chúa cảm thấy sợ hãi và toan tính bỏ chạy. Trái lại, biết vai trò chủ chiên của mình, một "chủ chiên nhân lành thí mạng sống mình vì chiên... cho chiên được sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:11,10) mà Người đã tuyên bố và tiên báo: "Tôi tự ý bỏ mạng sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17).

 

Qua miệng tiên tri Giêrêmia ở Bài Đọc 1 hôm nay, chính Người đã chấp nhận thân phận thiên sai cứu thế đầy bất hạnh và vô cùng khốn nạn của mình một cách ngoan ngoãn như con chiên bị đem đi giết như sau:

 

"Lạy Chúa, Chúa đã tỏ cho con và con đã biết; vì Chúa đã chỉ cho con những mưu toan của chúng. Còn con, con như chiên con hiền lành bị đem đi giết. Con đã không biết chúng mưu toan hại con khi chúng nói: 'Chúng ta hãy bỏ cây vào bánh của nó, chúng ta hãy diệt trừ nó khỏi đất kẻ sống, và người ta không còn nhớ đến tên nó nữa'".

 

Thế nhưng, mục đích Người "tự ý bỏ sự sống mình đi" là "để lấy lại", chứ không phải để bị hủy diệt đời đời. Bởi thế, cũng qua miệng tiên tri Giêrêmia trong Bài Đọc 1 hôm nay, Người đã an tâm chấp nhận mọi sự theo ý Đấng đã sai Người: "Nhưng lạy Chúa các đạo binh, Chúa xét xử công minh, và dò xét tâm can. Chớ gì con sẽ thấy Chúa báo thù chúng, vì con đã phó thác việc con cho Chúa", Đấng đã có cách để "báo thù" một cách kỳ diệu ngoài sức tưởng tưởng của họ. 

  

Đúng thế, cách "báo thù" của Thiên Chúa bao giờ cũng là lấy lành mà thắng dữ, lấy thiện mà báo ác, hay đúng hơn biến ác thành lành, một đường lối siêu việt đến độ thế gian không thể nào hiểu được, chứ đừng nói làm được, mà chỉ bàng hoàng ngỡ ngàng khi thấy chính mưu đồ đầy gian ác, hết sức khôn ngoan và hoàn toàn tự do của mình lại trở thành phương tiện và cơ hội để Thiên Chúa thực hiện tất cả những gì Ngài muốn, theo đúng dự án thần linh của Ngài: "Viên đá bị thợ xây loại bỏ đã trở thành viên đá gốc" (Thánh Vịnh 118:22; Mathêu 21:42; Tông Vụ 4:11).

 

Bài Đáp Ca hôm nay hoàn toàn phản ảnh nội dung của Bài Đọc 1 cùng ngày, chất chứa tâm tình của một con người hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Vị Thiên Chúa của mình, để Ngài muốn làm gì thì làm nơi mình cho ý muốn tối thượng của Ngài được nên trọn:

 

1) Lạy Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài, xin cứu con khỏi mọi người đang lùng bắt, và xin giải thoát thân con, kẻo có người như sư tử chộp bắt hồn con, xé nát ra mà không ai cứu gỡ. 

 

2) Xin minh xét cho con, thân lạy Chúa, theo sự công chính và vô tội ở nơi con. Nguyện cho chấm dứt sự độc dữ kẻ ác nhân, và xin Ngài củng cố người hiền đức, khi Ngài lục soát tâm can, ôi Chúa công minh. 

 

3) Thuẫn che thân con là Thiên Chúa, Ðấng cứu độ những kẻ lòng ngay. Thiên Chúa là vị công minh thẩm phán, và Thiên Chúa hăm doạ hằng ngày.