Linh Đạo Fatima

 

13. ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II PHONG Á THÁNH CHO HAI THIẾU NHI FATIMA PHANXICÔ VÀ GIAXINTA

 

 

(Bài giảng bằng tiếng Bồ Đào Nha của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

trong Thánh Lễ phong Á Thánh cho hai Thiếu Nhi Fatima Phanxicô và Giaxinta

ngày 13/5/2000,

tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Mân Côi ở Đền Thánh Fatima

trước 600 ngàn người tham dự,

có cả nữ tu Lucia, một trong ba Thiếu Nhi Fatima còn sống)

 

 

CHA ĐÃ TỎ RA CHO CÁC TRẺ NHỎ BIẾT CÁC ĐIỀU ẤY

 

 

1-            “Lạy Cha,... Con chúc tụng Cha; vì những gì Cha giấu không cho kẻ thông thái và kẻ tinh khôn biết thì Cha lại tỏ cho những trẻ em nhỏ mọn hay” (Mt 11:25)

 

Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu dùng những lời này để chúc tụng Cha trên trời về các ý định của Ngài; Người biết rằng không ai có thể đến được với Người trừ khi họ được Chúa Cha lôi kéo (x Jn 6:44); bởi thế, Người chúc tụng Ngài về dự án của Ngài và Người đã ấp ủ dự án ấy như một người con: “Vâng, Lạy Cha, vì ý muốn ưu ái của Cha là như thế” (Mt 11:26). Cha đã lấy làm ưng ý tỏ vương quốc của Cha cho các trẻ em bé mọn nhất.

 

Theo dự án thần linh, “một người nữ mặc mặt trời” (Rev 12:1) từ trời xuống mặt đất này để viếng thăm các trẻ em diễm phúc của Chúa Cha. Bằng một giọng nói và con tim từ mẫu, Bà đã nói với các em rằng Bà xin các em hãy dâng mình làm vật hy sinh đền tạ, khi cho các em biết là Bà đã sẵn sàng dẫn các em đến với Thiên Chúa rồi. Thế nên, các em đã thấy một luồng ánh sáng phát ra từ bàn tay từ mẫu của Bà thấu vào nội tâm của các em, nhờ đó các em cảm thấy mình được chìm ngập trong Thiên Chúa, theo các con cho biết, như một người thấy mình trong gương soi vậy.

 

Sau đó, Phanxicô, một trong ba trẻ em diễm phúc, đã than lên rằng: “Chúng ta nóng lên trong luồng ánh sáng là Thiên Chúa đó mà chúng ta không bị thiêu rụi đi. Thiên Chúa giống như cái gì nhỉ? Không thể nào nói được. Thật vậy, chúng ta không thể nào có thể nói cho người ta biết được”. Thiên Chúa: một ánh sáng bừng cháy mà không thiêu hủy. Moisen cũng đã có cùng một cảm nghiệm khi ông thấy Thiên Chúa trong bụi cây cháy; ông đã nghe thấy Thiên Chúa nói rằng Ngài quan tâm đến việc dân Ngài phải làm nô lệ nên đã quyết định nhờ ông giải cứu họ: “Ta sẽ ở cùng ngươi” (x Ex 3:2-12). Những ai nhận được sự hiện diện này đều trở nên một nơi trú ngụ để thành một “bụi cây cháy” của Đấng Tối Cao.

2-            Điều gây ấn tượng nhất và đã hoàn toàn chiếm đoạt Chân Phước Phanxicô là việc Thiên Chúa ở trong luồng ánh sáng vô tận đã thấu nhập tận thâm tâm ba em ấy. Thế nhưng, Thiên Chúa chỉ nói với một mình Phanxicô, như em cho biết, là Ngài “buồn biết bao”. Có một đêm kia, bố của em nghe thấy em thổn thức thì hỏi em tại sao em khóc; người con của ông liền trả lời rằng: “Con đang nghĩ đến Chúa Giêsu là Đấng rất buồn phiền vì các tội lỗi đã xúc phạm đến Người”. Em đã được thúc đẩy bởi một ước vọng duy nhất đó là “an ủi Chúa Giêsu và làm cho Người được vui” – thật lạ lùng về ý nghĩ của các trẻ em.

 

Một cuộc biến đổi đã xẩy ra trong cuộc đời em, một cuộc đổi thay chúng ta có thể gọi là tận gốc rễ: một cuộc biến đổi hoàn toàn khác thường đối với trẻ nhỏ ở vào lứa tuổi của em. Em hăng say dấn mình vào cuộc sống thiêng liêng, được biểu lộ bằng việc chuyên tâm sốt sắng cầu nguyện, và đã đạt tới một thứ thần hiệp thực sự với Chúa. Cuộc sống thiêng liêng này thôi thúc em tiến đến việc thanh tẩy tâm linh bằng việc từ bỏ những thích thú riêng tư và ngay cả những trò chơi vô tội của thuở thiếu thời.

 

Phanxicô không hề than phiền khi chịu đựng các đau đớn cả thể do bệnh nạn gây ra làm cho em phải chết. Để an ủi Chúa Giêsu, tất cả hầu như là quá ít đối với em, ở chỗ, em đã chết với một nụ cười trên môi. Bé Phanxicô đã có một ước vọng cả thể trong việc đền bồi những xúc phạm của các tội nhân, bằng việc nỗ lực sống tốt lành và hiến dâng các hy sinh và lời cầu nguyện. Đời sống của Giaxinta, đứa em gái của em, nhỏ hơn em gần hai tuổi, cũng được những cảm thức này tác động.

3-            “Một điềm lạ khác xuất hiện trên trời; đó là một con rồng đỏ khổng lồ” (Rev 12:3).

 

Những lời này trích từ bài đọc thứ nhất trong Thánh Lễ khiến chúng ta nghĩ đến một cuộc đối chọi lớn lao giữa thiện và ác, làm cho chúng ta thấy được rằng, một khi con người loại trừ Thiên Chúa ra rìa, thì họ không thể nào chiếm được hạnh phúc, trái lại, họ sẽ kết liễu mình bằng việc tự hủy hoại bản thân. Đã có biết bao nhiêu là nạn nhân dọc suốt thế kỷ vừa qua của thiên niên thứ hai! Chúng ta nhớ đến những cảnh kinh hoàng của Thế Chiến Thứ Nhất và Thứ Hai, cũng như nhớ đến những cuộc chiến tranh khác ở rất nhiều phần đất trên thế giới, đến các trại tập trung và thảm sát, đến các trại lao động cải tạo, đến các cuộc thanh lọc và bách hại chủng tộc, đến nạn khủng bố, đến các cuộc bắt cóc, đến các thứ thuốc nghiện, đến các cuộc tấn công sự sống còn đang cưu mang và gia đình.

 

Sứ điệp Fatima là một lời kêu gọi cải thiện đời sống, ở chỗ cảnh tỉnh nhân loại đừng dính dáng gì tới “con rồng” có “cái đuôi quét đi một phần ba tinh tú trên trời mà hất xuống đất” (Rev 12:4). Đích điểm cuối cùng của nhân loại là thiên đàng, ngôi nhà đích thực của họ, nơi Cha trên trời chờ đợi mọi người bằng cả mối tình yêu nhân hậu của Ngài.

 

Thiên Chúa không muốn một ai bị hư đi; đó là lý do tại sao 2000 năm trước đây Ngài đã sai Con Ngài xuống thế, “để tìm kiếm và cứu vớt kẻ hư khốn” (Lk 19:10). Và Ngài đã cứu chúng ta bằng cái chết của Người trên thập giá. Chớ gì đừng có ai làm cho quyền năng của Thập Giá hóa ra hư không! Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại từ trong kẻ chết để làm “trưởng tử của nhiều anh em” (Rm 8:29).

 

Bằng tấm lòng quan tâm từ mẫu của mình, Đức Trinh Nữ đã đến Fatima đây để xin con người nam cũng như nữ “đừng xúc phạm đến Thiên Chúa là Chúa của chúng ta, Đấng đã bị xúc phạm nhiều lắm rồi”. Chính niềm đau thương của một người mẹ đã thúc đẩy Người nói lên điều này; số phận của con cái của Người đang gặp hiểm nguy. Bởi thế mà Người đã xin các trẻ mục đồng nhỏ là: “Các con hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện nhiều và hy sinh cho các tội nhân; nhiều linh hồn sa hỏa ngục vì họ đã không được một người nào cầu nguyện và hy sinh cho họ”.

 

 

4-            Giaxinta đã cảm được và nghiệm thấy nơi bản thân mình nỗi sầu thương của Đức Mẹ, bằng việc anh hùng hiến mình như một vật hy sinh cho các tội nhân. Một ngày kia, khi em và Phanxicô bị bệnh làm cho các em phải nằm giường, Đức Maria đã đến thăm các em ở nhà, như bé gái thuật lại: “Đức Mẹ đã tới thăm chúng con và nói rằng chẳng mấy chốc nữa Người sẽ đến mang Phanxicô về trời. Và Người hỏi con có muốn hoán cải các tội nhân hơn nữa không. Con thứa Người là có”. Rồi tới lúc Phanxicô ra đi, nhỏ gái nói với anh mình rằng: “Xin anh cho em gửi lời chào Chúa và Đức Mẹ nhé, và thưa cùng các Ngài rằng em đang chịu đựng mọi sự các Ngài muốn để cầu cho các tội nhân ăn năn cải thiện đời sống”. Giaxinta đã bị kích động sâu xa bởi thị kiến hỏa ngục vào lần Đức Mẹ hiện ra 13/7, đến nỗi không một việc hy sinh hãm mình hay đền tội nào là quá sức đối với em trong việc cứu lấy các tội nhân.

 

Em có thể xứng đáng cùng với Thánh Phaolô kêu lên rằng: “Tôi hân hoan trong những nỗi đớn đau tôi phải chịu vì anh em, và trong xác thịt của mình, tôi làm trọn những gì còn thiếu nơi những khổ nạn của Chúa Kitô phải chịu vì thân thể của Người là Giáo Hội” (Col 1:24). Chúa Nhật vừa qua, tại Hí Trường Colosseum ở Rôma, chúng ta đã tưởng niệm rất nhiều chứng nhân đức tin thuộc thế kỷ 20, bằng cách nhớ lại những hoạn nạn họ đã phải chịu với những chứng từ sáng tỏ họ để lại cho chúng ta. Đám mây vô vàn các vị tử đạo đức tin can trường đã lưu lại cho chúng ta một di sản phải được tiếp tục bảo tồn trong thiên niên thứ ba. Ở Fatima đây, nơi đã báo trước cho thấy những lúc hoạn nạn này và đã được Đức Mẹ lên tiếng xin cầu nguyện cùng thống hối để rút ngắn chúng lại, hôm nay Tôi xin cám ơn trời cao về chứng từ mãnh liệt đã được tỏ ra qua tất cả những cuộc sống ấy. Một lần nữa, Tôi chúc tụng lòng lành Chúa đã thương cứu Tôi thoát chết sau khi bị trọng thương ngày 13/5/1981. Tôi cũng muốn nói lên lòng tri ân của Tôi đối với Chân Phước Giaxinta về những hy sinh và lời cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, vị mà Chân Phước đã thấy trước là phải chịu đau khổ rất nhiều.

 

5-            “Lạy Cha, Con chúc tụng Cha, vì những gì Cha giấu không cho kẻ thông thái và kẻ tinh khôn biết thì Cha lại tỏ cho những trẻ em nhỏ mọn hay” (Mt 11:25). Hôm nay, lời chúc tụng của Chúa Giêsu mắc một hình thức long trọng trong việc tuyên phong chân phước cho các bé mục đồng Phanxicô và Giaxinta. Với lễ nghi phong chân phước này, Giáo Hội muốn đặt lên trụ cắm nến hai cây nến Thiên Chúa đã thắp lên để soi sáng cho nhân loại trong những giờ tăm tối và lo âu của họ. Chớ gì hai cây nến này chiếu soi đường đi lối bước cho muôn vàn người hành hương đây, cũng như cho tất cả những người theo dõi chúng ta qua truyền thanh và truyền hình. Xin Phanxicô và Giaxinta là ánh sáng thân thương chiếu soi cho toàn thể Bồ Đào Nha, đặc biệt là cho Giáo Phận Leiria-Fatima này.

(Hai đoạn cuối cùng trong số 5 này ĐTC ngỏ lời cám ơn giáo quyền địa phương cũng như chính quyền)

6-            Tôi muốn nói những lời cuối cùng với các em nhỏ: các em trai em gái thân mến, Cha thấy nhiều người trong các em trang phục giống như Phanxicô và Giaxinta vậy. Các em mặc đẹp lắm! Thế nhưng, chút nữa đây hay ngày mai các em sẽ cởi những thứ y phục này ra và... những nhỏ mục đồng ấy không còn nữa. Họ không được mất đi phải không các em? Đức Mẹ cần tất cả các em trong việc an ủi Chúa Giêsu, Đấng buồn phiền vì nhiều điều xấu xa gây ra cho Người; Người cần đến những lời cầu nguyện cũng như những hy sinh cho tội nhân của các em. Các em hãy xin cha mẹ và thầy cô của mình ghi danh của các em vào “trường” của Đức Mẹ, để Đức Mẹ có thể dạy các em nên giống như các bé mục đồng này, những bé mục đồng đã cố gắng làm theo những gì Mẹ xin họ. Cha muốn nói cho các em biết là “nhờ phục tùng và lệ thuộc vào Mẹ Maria, trong một thời gian ngắn người ta sẽ tiến bộ hơn là cả bao nhiêu năm theo những sáng kiến cá nhân khi cậy dựa vào mình” (Thánh Long Mộng Phố – Louis de Montfort, Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria, đoạn số 155). Đó là lý do tại sao các bé mục đồng ấy đã nên thánh rất nhanh như vậy. Có một người đàn bà tiếp đãi Giaxinta ở Lisbon, khi nghe nhỏ gái này có những lời khuyên răn rất hay ho và khôn ngoan thì hỏi ai đã dạy em điều ấy, em trả lời rằng: “Chính là Đức Mẹ”. Bằng tất cả lòng quảng đại của mình trong việc chuyên tâm sống theo đường hướng của một Vị Thầy tốt lành như vậy, Giaxinta và Phanxicô đã sớm đạt tới đỉnh trọn lành.

7-            “Lạy Cha, Con chúc tụng Cha, vì những gì Cha giấu không cho kẻ thông thái và kẻ tinh khôn biết thì Cha lại tỏ cho những trẻ em nhỏ mọn hay” (Mt 11:25).

Lạy Cha, con xin chúc tụng Cha về tất cả mọi con trẻ nhỏ của Cha, từ Trinh Nữ Maria, Người Tôi Tớ khiêm hạ của Chúa, đến hai bé mục đồng Phanxicô và Giaxinta.

Chớ gì sứ điệp cuộc sống của các em muôn đời tồn tại để soi sáng đường đi nước bước cho nhân loại!

 

(Bài giảng này được trích dịch từ tuần san L’Osseervatore Romano, ấn bản Anh ngữ, 17/5/2000)

 

 

Tổng Kết

 

ĐƯỜNG LỐI MARIA

 

N

ếu “Fatima là Dấu Chỉ Thời Đại Thiên Chúa muốn cứu độ thế giới nhờ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria” (trang 6), thì đối với con cái Thiên Chúa, quả thực, “Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ là nơi con nương náu và là đường đưa con đến với Thiên Chúa”.

Thật vậy, theo dự án cứu độ của mình, Thiên Chúa muốn Maria là đường lối để Ngài đến với nhân loại cũng như để nhân loại đến với Ngài. Do đó, để đến với Ngài, con người không thể nào không qua Đường Lối Maria. Nói tu đức hơn: tôn sùng Mẹ Maria chính là “trở nên như trẻ nhỏ” (Mt 18:3), và “trở nên như trẻ nhỏ” chính là nhờ Mẹ đến với Chúa.

 

Tôn sùng Mẹ Maria là “trở nên như trẻ nhỏ” (Mt 18:3)

 

Đúng thế, ngay từ ban đầu, Satan và ngụy thần của hắn đã không chấp nhận Đường Lối Maria này của Thiên Chúa. Ở chỗ, như Sách Khải Huyền đã tiết lộ cho biết: “Bấy giờ con rồng đứng trước người nữ sắp sinh con, rình nuốt đứa trẻ sẽ được sinh ra” (Rev 12:4).

Dĩ nhiên, thái độ “rình nuốt con trẻ sẽ được sinh ra” đây của “con khổng long, tức con cựu xà là ma quỉ hay Satan, tên cám dỗ cả thế gian” (Rev 12:9) là thái độ trực tiếp chống lại dự án nhập thể của Thiên Chúa, tức chống lại “Đức Giêsu Kitô đến trong xác thịt” (3Jn 7; x 1Jn 4:3), nhưng cũng là thái độ gián tiếp chống lại mẹ của đứa trẻ, với cử chỉ ngang nhiên “đứng trước người nữ sắp sinh con”.

Đó là lý do tại sao các thánh đã dám cả quyết ai có lòng “thành thực sùng kính Mẹ Maria” (nhan đề cuốn sách của Thánh Long Mộng Phố – Louis Montfort) là dấu chắc chắn sẽ được cứu độ. Chính trong cuốn Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria này, Thánh Long Mộng Phố đã cho thấy hình ảnh của thành phần được cứu độ cũng như thành phần bị hư đi, nơi hai anh em Esau và Giacóp (xem các số 184-200). Sở dĩ Giacóp, em của Esau, được cha là Isaac chúc phúc lành cho, bởi vì Giacóp lúc nào cũng gần gũi và quyến luyến bà Rebecca mẹ mình, hơn là Esau luôn luôn xa cách mẹ và lạnh lùng với mẹ, cho dù không khinh thường mẹ và vô lễ với mẹ.

Như thế, nếu Thiên Chúa vô cùng toàn thiện, khôn ngoan và toàn năng còn trở nên con cái của loài người nơi Mẹ Maria, thì cũng chỉ có kẻ nào biết khiêm nhượng hạ mình xuống, “hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ”, ở chỗ “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11:29), giống như Đấng “tuy thân phận là Thiên Chúa, song không tự cho mình cứ phải ngang hàng với Thiên Chúa mới được. Trái lại, Người đã tự hủy ra như không, mặc lấy thân phận tôi đòi, sinh ra theo hình ảnh con người” (Phil 2:6-7), mới có thể đến với Thiên Chúa, gặp được Thiên Chúa và nên giống Ngài mà thôi.

 

“Trở nên như trẻ nhỏ” (Mt 18:3) là nhờ Mẹ đến với Chúa.

 

Nếu, theo nguyên tắc, tôn sùng Mẹ Maria là “trở nên như trẻ nhỏ” thì, trên thực hành, “trở nên như trẻ nhỏ” chính là nhờ Mẹ đến với Chúa.

Thật vậy, theo Phúc Âm Thánh Mathêu, “có lần, các trẻ nhỏ được đem đến cho Chúa Giêsu để Người đặt tay trên chúng mà cầu nguyện” (Mt 19:13). Sự kiện các trẻ nhỏ “được đem đến cho Chúa Giêsu” đây đã không chứng thực là các em không thể tự mình đến với Chúa được hay sao, nếu không có người lớn? Một là vì các em, về thể lý, có thể chưa biết bò hay biết đi, hai là, về tâm lý, các em chẳng biết Chúa Giêsu là ai, có thấy Chúa và biết bò hay biết đi chăng nữa, các em cũng chỉ ngây thơ ngước mắt nhìn vào Chúa vậy thôi, cho đến khi có người thực sự nhận biết Chúa là ai để dẫn các em đến với Người, nhờ đó các em lĩnh được phép lành của Người.

Về phương diện thiêng liêng cũng vậy. Cho dù Thiên Chúa có tỏ mình ra cho chúng ta đi nữa, qua Thánh Kinh, qua Giáo Hội và môi sinh cuộc đời, tự mình Kitô hữu chúng ta cũng không thể nào hay khó có thể dễ dàng nhận biết Chúa và đến được với Chúa, nếu không có Mẹ Maria “đầy ơn phúc” (Lk 1:28), tức không có Đấng “diễm phúc vì đã tin những lời Chúa phán sẽ được thực hiện” (Lk 1:45). Bởi vì, trong tất cả loài thuần nhân, không có ai “được ơn nghĩa Chúa” (Lk 1:30) như Mẹ, tức không có ai được đẹp lòng Chúa như Mẹ, không hề làm mất lòng Chúa bao giờ và một tí nào, ở chỗ, Mẹ luôn luôn biết Chúa muốn gì và khôn ngoan “xin vâng” (Lk 1:38) theo ý của Ngài trong mọi hoàn cảnh (x Lk 2:19, 51).

Phần Kitô hữu chúng ta, nhờ Bí Tích Rửa Tội, chúng ta đã trở nên “đền thờ của Thiên Chúa” (1Cor 3:16), tức trở nên nơi Chúa ngự, nên nhà của Chúa. Thế mà, thực tế cho thấy, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn nhận ra Ngài, nếu không muốn nói có những trường hợp không hề nhận biết Ngài, ở chỗ, chúng ta nhiều khi còn vô tình hay thậm chí cố ý xúc phạm đến Ngài bằng đủ mọi thứ tội lỗi nữa. Tuy nhiên, chính vì “có một Đấng đang ở giữa các người mà các người không biết” (Jn 1:26) như thế mới cần có sự hiện diện của một người lớn là Mẹ Maria. Thật ra, tự mình Thiên Chúa cũng có thể tỏ mình ra cho các môn đệ của Người và nhờ Thần Linh của mình sau khi phục sinh để làm cho họ nhận biết Người. Thế nhưng, tại tiệc cưới Cana, Người thực sự đã muốn có vai trò trung gian của Mẹ Maria trong việc “tỏ vinh quang của Người ra cho các môn đệ nhận biết Người” (Jn 2:11).

Phần đôi tân hôn, đám phục vụ bữa tiệc và các khách dự tiệc không hề biết tình trạng thiếu rượu của mình, có biết chăng nữa cũng không biết phải giải quyết cách nào cho nhanh chóng và êm đẹp, vì họ không nhận ra “có một Đấng ở giữa các người mà các người không biết”, Đấng có thể cấp thời cứu giúp họ. Chỉ có một mình Mẹ Maria, vị chẳng những biết Chúa Giêsu mà còn biết được cả tình trạng nguy ngập của bữa tiệc cưới nữa. Do đó, không cần phải ai cầu khẩn Mẹ, (vì bấy giờ cũng đâu có ai nhận ra thế lực và quyền phép vô biên của Mẹ trước nhan Con Mẹ như thế nào đâu), Mẹ cũng tự động đến xin với Chúa Giêsu can thiệp, và Người đã thực sự làm việc của Người, bằng cách hóa nước lã thành rượu hảo hạng, rượu ngon hơn trước nữa.

Thế nhưng, chắc chắn “giờ” (Jn 2:4) của Chúa tỏ mình ra cho các môn đệ ở môi trường hôn nhân gia đình tại tiệc cưới Cana ấy mãi mãi sẽ không bao giờ đến, nếu đám gia nhân không đơn sơ nghe theo lời căn dặn của một người phụ nữ tầm thường trong số khách dự tiệc: “Ngài bảo làm gì các anh cứ làm như vậy” (Jn 2:5).

Đúng vậy, chính vì Kitô hữu chúng ta chỉ là những trẻ nhỏ hoàn toàn không biết Chúa là ai hay chưa biết Chúa thực sự để có thể đến với Chúa, mà Mẹ Maria cảm thấy Mẹ có phận sự phải dẫn chúng ta đến với Chúa, phải tìm cách để Chúa tỏ mình ra cho chúng ta, tức làm cho chúng ta nhận ra Chúa và nhận biết Chúa. Đó là lý do tại sao, trước khi tắt thở trên thập giá, Chúa Giêsu đã trăn trối Thánh Gioan cho Mẹ Maria trước, rồi mới trao trối Mẹ Maria cho Thánh Gioan sau (x Jn 19:26-27).

Mẹ Maria chắc chắn lúc nào cũng tìm cách giúp Kitô hữu chúng ta nhận ra Chúa và đến với Chúa, như Mẹ vẫn tiếp tục thực hiện qua những lần hiện ra trong Thời Điểm Maria của Mẹ từ đầu thế kỷ 19, với Biến Cố Thánh mẫu ở Paris năm 1830, qua Biến Cố Thánh Mẫu ở Lộ Đức năm 1858, đến Biến Cố Thánh Mẫu ở Fatima năm 1917 đầu thế kỷ 20. Nhưng chúng ta, như đám gia nhân phục vụ ở tiệc cưới Cana có luôn luôn nghe lời Mẹ căn dặn: “Hãy làm theo điều Người bảo” hay chăng, đó mới là điều quan trọng. Có thực hiện lời khuyên của Mẹ mới chứng tỏ chúng ta thực sự “đem Mẹ về nhà mình” (Jn 19:27), tức thực sự tôn sùng Mẹ, một lòng thành thực sùng kính được thể hiện qua việc hoàn toàn tin cậy nơi Mẹ, phó mình cho Mẹ và nhờ Mẹ dâng việc làm lên Chúa, như Chúa Giêsu ngỏ ý muốn trong Thông Điệp Tình yêu Nhân hậu gửi Các Hồn Nhỏ qua nữ sứ giả Margarita:

·         Hãy tin cậy nơi Mẹ. Cha sẽ không ghen tị đâu”;

·         Hãy kính mến Mẹ, hãy hiến mình cho Mẹ. Cha càng hài lòng hơn khi nhận lấy các con từ đôi tay của Mẹ”;

·         Những hành động của con người đáng giá khi chúng được thực hiện với Mẹ và nhờ Mẹ. Khi Mẹ dâng lên cho Cha những tặng vật của các con, bằng đôi bàn tay hiền mẫu của Mẹ, Trái Tim Cha hân hoan vui sướng”.

(ba câu trên cùng ngày 3/12/1966)

Bởi vì:

·         Hãy biết rằng, ai yêu mến Mẹ Maria thì cũng yêu mến Cha nữa... Không gì làm hài lòng Cha hơn là lòng tôn kính trái tim từ mẫu của Mẹ”. (ngày 10-10-1967)

(Bài viết trên đây đã được chia sẻ với Đạo Binh Hồn Nhỏ tại Cộng Đồng Công Giáo Giáo Phận Orange, Chúa Nhật 27/8/2000, dịp mừng lễ kính  Mẹ Maria Nữ Vương)

 

Cùng Mẹ Ngợi Khen Chúa,
Kết bút tại TGP/LA 8/9/2000, Sinh Nhật Mẹ
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL