4.- Chứng Từ Liên Tôn

 

 

(Chứng Từ và Tuyên Ngôn về Hòa Bình sau Biến Cố Khủng Bố Tấn Công Hoa Kỳ 11/9/2001, được các vị Đại Diện Chư Tôn Giáo phát biểu tại Ngày Hội Ngộ Liên Tôn Nguyện Cầu Cho Hòa Bình Thế Giới do Tòa Thánh Vatican tổ chức theo ý Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tại Assisi ngày 24/1/2002)

 

  

Phật Giáo 

 

“Chớ gì… lúc nào tôi cũng trở thành một bảo vệ nhân cho những ai không được bảo vệ”

 

Chứng Từ Hòa Bình Liên Tôn - bằng tiếng Anh –

của Vị Đại Diện Đức Dalai Lama, Geshe Tashi Tsering, Hiệp Vương Quốc

Chớ gì, hiện tại và muôn đời, lúc nào tôi cũng trở thành một bảo vệ nhân cho những ai không được bảo vệ, một hướng đạo viên cho những ai lầm đường lạc lối, một con tầu cho những ai vượt qua qua đại dương, một cây cầu cho những ai đi ngang qua sông, một cung thánh cho những ai gặp hiểm nguy, một cây đèn cho những ai cần ánh sáng, một chốn ẩn náu cho những ai cần trú trọ, và là tôi tớ cho tất cả những ai cần giúp đỡ.

 

Bao lâu không gian còn tồn tại, bao lâu còn những vật biết cảm thức, chớ gì cho tới bấy giờ tôi vẫn tồn tại và đánh tan những khốn cùng của thế giới này.

 

(A Guide to the Bodhisattva’s Way of Life, Shantideva)

 

 

 

Ấn Giáo

 

 

“Hòa bình là tình trạng bảo tồn mức quân bình và hòa hợp cả trong lẫn ngoài”

 

(Chứng Từ Hòa Bình Liên Tôn - bằng tiếng Anh –

của Vị Đại Diện Didi Talwalker)

 

Xin cho tôi được bắt đầu bằng việc cám ơn Hội Đồng Tòa Thánh về Đối Thoại Liên Tôn đã mời tôi chia sẻ về hòa bình thế giới. Tôi thực sự cảm thấy rất vinh dự và phúc hạnh trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng.

 

Ấn Giáo là một nguồn mạnh sâu xa tác động nơi tôi, thế nhưng, tôi không thể nào nói gì hơn vì tôi chỉ là một môn sinh của một truyền thống tôn giáo cả mấy thiên kỷ trước đây. Tôi xin Đức Giáo Hoàng và anh chị em đạo hữu hội họp nơi đây ân xá cho.

 

Những ý nghĩa liên quan đến quan niệm hòa bình thì khác nhau. Đối với các nhà tư tưởng đời thì hòa bình là vắng bóng bạo lực và là việc giải quyết xung khắc phi bạo lực. Tuy nhiên, nó dường như là một thứ hiểu biết rất hạn hẹp về hòa bình. Dĩ nhiên tình trạng vắng bóng bạo lực là đáng đón nhận và ước mong. Những cơ quan khác nhau ở tất cả mọi cấp độ, như các cơ cấu chính trị, nhiều nhóm tôn giáo và xã hội dân sự v.v., đã từng thực hiện và còn đang thực hiện công việc đáng khen trong vấn đề hành sử ôn hòa tình trạng xung khắc trong các cộng đồng và giữa các cộng động. Tuy nhiên, một thứ hòa bình như vậy vẫn cứ bị ngắc ngứ. Cho đến nay, cái căn bản vững chắc về hòa bình vẫn không ở trong tầm tay của chúng ta. Đối với tôi, hòa bình là tình trạng bảo tồn mức quân bình và hòa hợp cả trong lẫn ngoài. Vì không hiểu được như thế, chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến thấy tình trạng bất dung nhượng, khổ sở, khai thác, phân rẽ và bất công.

 

Tôn giáo, nếu hiểu đúng đắn, là một lực đẩy có thể phục hồi tình trạng hòa hợp và tính cách thánh hảo giữa thế giới bên trong và bên ngoài. Mặc dù các đạo giáo cho rằng và được mong là một thứ lực phối hợp, lịch sử vẫn cho thấy những trường hợp các vị tự xưng mình là cứu tinh tôn giáo đã lạm dụng tôn giáo để phục vụ cho quyền lực và những lực lượng phân tranh. Chúng ta đã thấy dân chúng đang tìm kiếm một thứ chiều hướng tôn giáo thường có tính cách băng hoại hơn bao giờ hết ra sao. Sứ điệp thực sự của tôn giáo không phải và không thể là một thứ chủ trương thiện cận.

 

Tôi xuất thân từ một nền văn hóa có những cái hết sức giống với tôn giáo được chúng tôi gọi là dharma. Nó là một truyền thống phổ quát liên quan đến một thứ trật tự về luân lý để nói lên mối liên hệ giữa “bản ngã” với “tha ngã” cũng như với năng lực thần linh. Mối liên hệ này bao gồm “một trật tự” giúp cho tâm thức của con người vươn mình ra từ cuộc sống vị kỷ đến tình trạng giao tiếp với thần linh.

 

Việc thần linh hóa con người như thế hiến cho chúng ta một cảm quan về giá trị của sự sống. Không phải chỉ có một mình tôi là thần linh theo yếu tính mà hết mọi người khác theo yếu tính cũng là thần linh nữa, và đó là những gì liên kết chúng ta lại với nhau trong Tình Nghĩa Phụ Thân của Thiên Chúa (vasudhaiva kutumbhakam). Nếu chúng ta có một sự hiểu biết như thế thì tình trạng xung khắc không còn phát xuất từ vô vàn những cái thuộc hữu nữa. Những gì được Hội Đồng Tòa Thánh này đề ra hôm nay đây là một kiểu mẫu của mối giao hệ liên đức tin. Nó là vấn đề dấn thân mang lại việc trao đổi cởi mở giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau hướng đến chỗ phát triển sự hiểu biết về chiều hướng nhân bản linh thiêng kia.

 

Đối với tôi, tình nghĩa huynh đệ đại đồng này, một yếu tố của parivar (gia đình) Swadhyaya, do Đức Pandurang Shastri Athawale dạy, là những gì tự nhiên mà có, vì ngài đã từ từ đưa chúng ta đến tư tưởng biết chấp nhận tất cả mọi truyền thống tôn giáo (sarva dharma sweekaar). Các thứ truyền thống tôn giáo không loại trừ nhau. Nền tảng của Swadhyaya là tư tưởng về việc Thiên Chúa ngự nơi tất cả mọi người và chúng ta đều là con cái của cùng một Thiên Chúa. Tiến sâu vào gia sản cổ kính của Ấn Độ ngài đã tìm thấy những trở ngại hạ cấp giữa con người với con người, và đã giải thoát tư tưởng về tôn giáo khỏi xu hướng tín điều, tách biệt và lệnh truyền. Đối với chúng tôi thì việc dấn thân vào lãnh vực xã hội, vào việc tái tạo và chữa lành cộng đồng không phải là những hành động cải cách xã hội mà là các hành động tỏ lòng tri ân cảm tạ Hữu Thể Tối Cao. Chúng tôi gọi đó là bhakti hay việc sùng bái Thiên Chúa. Chúng tôi gọi đó là là một lực xã hội, vì nó khiến cho cá nhân có thể biến đổi cái ti tiểu, giận hờn và tham lam (kshudrata, krodh và lobha). Chính việc biến đổi này nơi con người là những gì giúp cho họ có thể biến những gì họ theo đuổi hằng ngày trở thành những lực lượng giải phóng cho khỏi đủ mọi thứ nô lệ và thắng vượt được các thứ căng thẳng, phiền tạp, cùng với cảm quan cô lập, bất an và bất xứng. Nó giúp cho chúng ta có thể tiến từ chỗ chỉ biết bảo toàn các thứ nhân quyền đến mức độ cao hơn  của việc bảo toàn phẩm giá con người và nhiệm vụ của con người.

 

Anh chị em thần linh thân mến, từ những gì tôi cảm nghiệm thấy trên đây, tôi dám kêu gọi nhân loại, qua buổi diễn đàn uy nghi trang trọng này, trước sự hiện diện phúc đức của Đức Giáo Hoàng đây, hãy vươn mình lên trên những gì là tách biệt, hãy triển nở một tình yêu vị kỷ và vô vị lợi đối với Thiên Chúa cũng như đối với tạo vật của Ngài trong việc thắng vượt những cuộc khủng hoảng thường tình. Nó không phải là vấn đề kiến tạo theo lý thuyết. Bằng đường lối nhỏ bé của mình, chúng ta đã chứng tỏ là trật tự xã hội có thể đạt được. Vì hòa bình, chớ gì chúng ta đừng để cho các nguồn mạch nội tại của chúng ta bị thất thoát đi. Việc chúng ta đối thoại với nhau, việc cử hành mối hiệp nhất của các truyền thống khác nhau, một ngày trước đây chưa được xẩy ra. Từ nơi đây, chúng ta có thể tiến đến chỗ trở thành một khối liên minh tôn giáo thế giới để bảo toàn một tương lai chung đầy phúc lành của Thiên Chúa.

 

 

 

Cổ Giáo Phi Châu

 

 

“Hòa bình là tặng ân Thiên Chúa …

là một trách nhiệm chung

liên quan đến tất cả tạo sinh”

 

(Chứng Từ Hòa Bình Liên Tôn - bằng tiếng Pháp –

của Đạo Trưởng Ainadou Gasseto)

 

Sáng kiến của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cổ võ hòa bình đã làm cho tôi rất vui mừng và hy vọng cho thế giới của chúng ta vẫn thường bị xâu xé bởi bạo lực và các cuộc chiến tranh. Việc Ngài mời tới tham dự vào Cuộc Cầu Nguyện Cho Hòa Bình ở Assissi đây là một vinh dự lớn lao cho tôi cũng là một vinh dự cho tất cả mọi tín đồ Avelekete Vodou mà tôi là vị thượng tế của họ. Trong việc nhận lời đến tham dự vào buổi cầu nguyện này, tôi cũng chấp nhận việc dấn thân cổ võ tinh thần hòa bình và hành vi cử chỉ ôn hòa có khả năng gây ảnh hưởng thuận lợi ở xã hội Benin.

 

Thế nhưng, trước hết, tôi nhìn nhận hòa bình là tặng ân Thiên Chúa ban cho chúng ta. Tuy nhiên, tặng ân này được trao cho trách nhiệm của con người là thành phần được Đấng Hóa Công kêu gọi để góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới này. Đây là một trách nhiệm chung liên quan đến tất cả tạo sinh.

 

Là một vị lãnh đạo của đạo cổ truyền Vodou, tôi tin rằng hòa bình không thể nào có được bao lâu còn xẩy ra những xâu xé, chia rẽ và hận thù giữa dân chúng. Chúng ta cần phải bắt đầu bằng việc làm chủ mình, chẳng hạn không nói những lời lẽ gây ra những cảm xúc đối chọi, tẩy chay hay bạo động. Chúng ta cần phải có trách nhiệm đối với tinh thần phát xuất bởi những lời lẽ của chúng ta. Đó phải là tinh thần làm phát sinh sự hòa hợp, thân hữu và huynh đệ. Hòa bình bấy giờ mới tìm được chỗ đứng thuận lợi để phát triển nơi dân chúng.

 

Tôi thâm tín về một điều duy nhất, đó là hòa bình trên thế giới lệ thuộc vào hòa bình nơi dân chúng. Trách nhiệm của con người trên thế giới này chẳng những ảnh hưởng tới xã hội còn ảnh hưởng cả đến toàn thể tạo sinh nữa. Khi không có hòa bình nơi dân chúng, cũng sẽ không có hòa bình giữa tạo sinh và con người. Thế nhưng, khi dân chúng hoạt động cho hòa bình nơi quốc gia dân tộc thì đất đai của quốc gia họ trở nên phi nhiêu và súc vật sinh sôi nẩy nở cho con người hưởng thêm nhiều thiện ích. Đây là lề luật chính của thiên nhiên phát xuất từ Đấng Hóa Công, Đấng đã liên kết số mệnh của tạo vật với trách nhiệm của con người. Đó là lý do tại sao cần phải mời gọi dân chúng hằng năm hoán cải tâm hồn từ bỏ hận thù, bạo lực và bất công. Những vị lãnh đạo tôn giáo trên thế giới đừng quên và cũng đừng bỏ bê việc thực hành này. Nó là vấn đề bù đắp lại những gì con người gây tổn hại cho tạo vật, là vấn đề xin  được thứ tha từ những vị thần bảo vệ các miền đất bị lũng đoạn bởi bạo lực và sự dữ do con người gây ra, cũng là vấn đề xin được tha thứ bằng cách hiến dâng những hy tế đền bù và thanh tẩy để nhờ đó có thể phục hồi lại bình an. Tôi khẳng định là việc thanh tẩy thiên nhiên tạo vật này cần thiết để phục hồi hòa bình nơi dân chúng cũng như với tất cả mọi tạo sinh. Trong các thời xa xưa, thời của các vua chúa, Benin rất lưu ý đến việc tuân giữ điều này nên xứ sở này đã được hoan hưởng thái bình cùng với những lợi lộc nơi thiên nhiên tạo vật. Các vị lãnh đạo thời nay cũng phải quan tâm đến vấn đề ấy. Chúng tôi sẽ nhắc nhở họ điều này khi chúng tôi từ Assisi về, như cách thức làm phát sinh ở Benin những gì chúng tôi cảm nghiệm được ở cấp độ quốc tế nơi Ý Quốc này.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh đến một điều thiết yếu nữa, đó là việc tôn trọng các hồn thiêng của kẻ chết. Chúng ta phải nhớ rằng các vị tổ tiên đã ra đi trước chúng ta ở một thế giới các vị đã sống trong mối liên hệ kính tôn Thiên Chúa cũng như thiên nhiên tạo vật, nhờ đó để lại cho chúng ta một thế giới vẫn còn khả dung và hữu ích cho con người. Thế giới mà các vị tổ chức ở thời của các vị không được hoàn hảo ở mọi phương diện, nhưng nó vẫn giữ được cái hay của một tình trạng hòa hợp giữa dân chúng và thiên nhiên. Những thứ cấm đoán đã bảo trì suối nguồn, rừng cây và những khu vực cho thú vật và hoa lá tự mình sinh sôi nẩy nở. Những thứ cấm đoán đã ấn định cho các mối liên hệ gia đình và xã hội. Việc bảo trì môi sinh cùng với tình trạng hết sức thăng bằng trong xã hội đã góp phần hữu hiệu vào việc bảo trì tình trạng hòa hợp giữa dân chúng và thiên nhiên tạo vật ấy. Chúng ta không thể nói đến hòa bình hôm nay đây mà lại không tôn trọng cái thế giới được các vị tiền bối để lại cho chúng ta đây, những vị đã từng tìm cách cải tiến nó vì lợi ích của dân chúng thuộc thời đại của chúng ta.

 

Trong số những thực hành về xã hội được các vị tiền bối của chúng tôi để lại cho chúng tôi ở mảnh đất Phi Châu của Benin đó là nghệ thuật bàn luận để giải quyết những xung khắc liên cá nhân và xã hội. Chúng tôi đã học được nơi nghệ thuật nàycách thức tôn trọng đối phương của nhau, chấp nhận những khác biệt và hiểu được những xác tín của nhau. Việc thực hành này phải phấn khích những ai lãnh trách nhiệm đối với hòa bình trên thế giới này, để họ làm sao có thể đem đối phương của mình đến chỗ đối thoại là điều duy nhất có thể phục hồi hòa bình trong tâm hồn cũng như nơi các quốc gia. Không gì quí hơn là việc đối thoại là việc giúp cho chúng ta có thể đi đến chỗ hiểu biết nhau. Nhờ đó chúng ta đi từ chỗ hận thù đến chỗ cảm nhận nhau. Vai trò quan trọng của việc bàn luận cần phải được bảo toàn nơi các cơ cấu quốc tế là những nơi quyết định về hòa bình giữa các quốc gia, và trong những quốc gia khi những con người cá nhân cần phải có những quyết định. Việc bàn luận phải giúp cho chúng ta hôm nay đây điều hành thế giới của thời chúng ta với tất cả mọi khó khăn của nó là những vấn đề bao giờ cũng thuộc trách nhiệm giải quyết của con người.

 

Qua những gì vừa được trình bày, tôi đã nói lên những niềm xác tín của tôn giáo mình, liên quan đến việc tôi dấn thân cổ võ hòa bình ở xứ sở của tôi cũng như trên thế giới. Và tôi sẽ không thể nào kết thúc ở đây mà không khẳng định một cách cương quyết là công lý và tình yêu huynh đệ là hai cột trụ bất khả thiếu cho hòa bình thực sự nơi dân chúng. Mảnh đất Ý quốc này, nơi tôi đang có mặt tham dự vào cuộc họp thiêng liêng ở Assisi đây là một mảnh đất có những truyền thống tôn giáo cao quí. Thành phần lãnh đạo tôn giáo chúng ta phải nhấn mạnh ở xứ sở của mình về việc tôn trọng các quốc gia khác cũng như về tình đoàn kết giữa các dân tộc. Vấn đề phát triển các nước nghèo khổ, kể cả nước của tôi, chắc chắn là một mối đe dọa lớn nhất cho hòa bình thế giới. Mối liên kết giữa các dân tộc phải dẫn đến chỗ chia sẻ cân bằng hơn nữa những nguồn phong phú trên thế giới. Các nước phát triển phải nâng đỡ những nước kém phát triển trong việc họ cố gắng phát triển. Vấn đề thương vụ quốc tế không được chỉ thiên về phía những ai mạnh về kinh tế mà phải tôn trọng hoạt động cùng việc sản xuất thực sự của mỗi người. Thế kỷ 21 chúng ta đang tiến vào đây phải là một thế kỷ xây dựng một xã hội công chính và huynh đệ hơn. Các giá trị chúng ta cần phải cổ võ với tư cách là những vị lãnh đạo tôn giáo đó là những giá trị về yêu thương cũng như về việc giao tiếp xã hội trong một thế giới mà thực sự tất cả chúng ta đều là anh chị em của nhau. Có thực hiện như thế chúng ta mới xây dựng hòa bình trên thế giới của chúng ta.

 

Xin Thiên Chúa chúc lành cho cuộc hội ngộ Assisi và ban hòa bình cho thế giới.

 

 

 

 

Hồi Giáo

 

 

“Tất cả mọi tôn giáo độc thần đều dạy rằng con người phải bênh vực lề luật và công lý”

 

(Chứng Từ Hòa Bình Liên Tôn - bằng tiếng Pháp –

của Vị Đại Diện Sheik Al-Azhar Mohammed Tantwai)

 

 

Nhân danh Thiên Chúa, Đấng Toàn Từ Ái, Đấng Rất Xót Thương.

 

Trước hết, tôi muốn cám ơn Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị mà hôm nay đây đã qui tụ các đại diện truyền thống tôn giáo khác nhau, tất cả đều được tác động bởi cùng một nhiệt tình muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Để soi dẫn cho chúng ta trong cuộc hành trình của chúng ta tiến đến hòa bình, niềm tin của người Hồi Giáo cống hiến cho chúng ta những dấu hiệu mà tôi sẽ vắn tắt trình bày cho quí vị:

 

Thứ nhất,

 

Thiên Chúa đã dựng nên tất cả mọi con người từ một người cha và một người mẹ duy nhất. Như Thiên Chúa đã phán trong Sách Thánh: “Ôi con người! Hãy kính sợ Chúa của các người, Đấng đã dựng nên các người từ một hữu thể duy nhất và rồi từ hữu thể được tạo dựng này Ngài đã tạo dựng nên đồng bạn của nó và làm cho hai con người này truyền lan ra nhiều con người nam nữ. Hãy kính sợ Thiên Chúa! Các người đòi hỏi các thứ quyền lợi hỗ tương và hãy nhớ đến lòng dạ đã cưu mang các người. Thiên Chúa luôn canh chừng các người” (Surah 4, Women, 1).

 

Thứ hai,

 

Tất cả mọi tôn giáo độc thần được Thiên Chúa mạc khải cho các vị tiên tri khả kính của Ngài đều giống nhau ở hai điểm chính yếu, đó là

 

·        Thành tâm tôn thờ Đấng Độc Nhất và là Đấng Duy Nhất, như Thiên Chúa đã phán: “Cũng một thứ tôn giáo mà Ngài đã thiết lập cho các người như tôn giáo Ngài đã truyền cho Noe, thứ tôn giáo chúng ta đã mạc khải cho ngươi (Mohammed), và là thứ tôn giáo chúng ta đã truyền cho Abraham, Moisen và Giêsu, tức là các người phải kiên tâm giữ đạo và đừng phân rẽ nơi đạo giáo: với những kẻ tôn thờ những thứ không phải là Thiên Chúa thì con đường mà các người kêu gọi họ tới kể là khó khăn. Thiên Chúa tuyển chọn và kêu gọi theo thứ tôn giáo này những ai Ngài muốn và dẫn về với Ngài những ai hướng về Ngài mà thôi” (Surah 42, Consultation, 13).

 

·        Tôn trọng các giá trị: Allah đã vì hạnh phúc của nhân loại mà mạc khải tôn giáo độc thần. Tất cả mọi tôn giáo đều dạy các giá trị về luân thường đạo lý như thành thật, công lý, hòa bình và thịnh vượng, cùng với việc trao đổi tất cả những việc làm thiện lợi do Allah truyền khiến, việc cộng tác nơi tất cả mọi dân nước trong vấn đề bồi dưỡng dịch vụ thiện nguyện và lòng đạo hạnh, không vi phạm và hung hăng.

 

Thứ ba,

 

Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta ở đời này để chúng ta biết nhau, như Ngài đã phán: “Ôi nhân loại! Chúng ta đã dựng nên các người từ một người nam và một người nữ, và đã làm cho các người trở thành các dân tộc và bộ lạc, để các người biết nhau. Người cao trọng nhất trong các người trước nhan Thiên Chúa là kẻ trong các người chú trọng hết sức đến nhiệm vụ của mình. Thiên Chúa là Đấng thông biết và thừa hiểu biết” (Surah 49, The Inner Apartments, 13).

 

Thứ bốn,

 

Tất cả mọi tôn giáo độc thần đều dạy rằng con người phải bênh vực lề luật và công lý, bằng cách phục hồi cho các sở chủ những thứ quyền lợi của họ. Về trường hợp này, al-Azhar al-Sharif muốn tỏ lòng ngưỡng mộ Tòa Thánh Vatican về việc Tòa Thánh thành tâm nâng đỡ nhân dân Palestine.

 

Thứ năm,

 

Ở Ai Cập, qua 14 thế kỷ, các người Hồi Giáo và Kitô Giáo đã từng sống với nhau như anh chị em dưới cùng một bầu trời, trên cùng một mảnh đất, bình đẳng trước pháp luật và về trách nhiệm. Hết mọi người hành đạo của mình như Sách Thánh Qur’an dạy: “Không có vấn đề bắt ép nơi tôn giáo. Con đường ngay chính khác hẳn lầm lạc. Ai không tin vào các thứ ngẫu tượng mà tin vào Thiên Chúa thì hết sức vững vàng không bao giờ bị đổ vỡ. Thiên Chúa là Đấng nghe biết và hiểu biết hết mọi sự” (Surah 2, The Cow, 256).

 

Al-Azhar và các vị chuyên gia Hồi Giáo trong ngày nguyện cầu này đây cùng nhau ý thức kêu gọi một thứ hòa bình trực tiếp gắn liền với công lý.

 

 

 

Do Thái Giáo

 

 

“Chiến tranh không phải là văn hóa … là hoạt động của chúng tôi … là sứ mệnh của người Do Thái chúng tôi”

(Chứng Từ Hòa Bình Liên Tôn - bằng tiếng Anh –

của Vị Đại Diện, Tôn Sư Israel Singer)

 

Chỉ có một mình ngài, Gioan Phaolô II, mới có thể qui tụ chúng tôi lại đây thôi. Chỉ có một mình Ngài mới có thể làm cho điều này xẩy ra, chúng tôi có thể giúp ngài làm điều ấy.

 

“Hòa bình thì cao cả, như tên của Thiên Chúa được gọi là Hòa Bình”.

 

Lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng trong khi các vị lãnh đạo tôn giáo trên thế giới luôn luôn nói về hòa bình, cũng như trong khi thành phần giảng thuyết của họ đã thuyết không biết bao nhiêu là bài giảng về hòa bình là mục đích tối hậu của họ, thì thực tế cụ thể là các tôn giáo đã trở thành những lý do gây ra những cuộc chiến tranh tàn khốc và đẫm máu. Rất nhiều cuộc chiến tranh xẩy ra ở Âu Châu và Á Châu giữa những tôn giáo lớn, những trận chiến nổi lên suốt giòng lịch sử giữa những giáo phái khác nhau trong cùng những tôn giáo, đã được tất cả các học sinh về sử ký và tôn giáo thấu đáo. Cho tới ngày hôm nay đây, con người tiếp tục đánh nhau ở Bắc Ái Nhĩ Lan, đánh nhau ở Kashmir và Pakistan, và sát hại nhau ở Trung Đông.

 

Dĩ nhiên tất cả chúng ta quá rõ về cách thức mà vào ngày 11 tháng 9 năm ngoái những kẻ điên khùng đã tác hành nhân danh tôn giáo để lao 3 chiếc máy bay vào hai tòa nhà Trung Tâm Thương Vụ Quốc Tế và Ngũ Giác Đài, sát hại hàng ngàn người trong vòng mấy phút, do đó gây ra cuộc xung đột quân sự quốc tế đầu tiên của thế kỷ 21.

 

Người Do Thái chúng tôi nói thẳng là các truyền thống tôn giáo của chúng tôi không bao gồm vai trò chính yếu đối với quan niệm về một thứ chiến tranh tôn giáo. Thế nhưng, chúng tôi cũng không ngu dại gì, ở vào những thời điểm khác nhau trong quá khứ đẫm máu và thê thảm khủng khiếp của mình, chúng tôi đã tự vệ và chiến đấu chống lại kẻ thù khi cần thiết. Và khi chiến đấu, chúng tôi cẩn thận đọc những lời Thánh Kinh của mình không phải để biện minh cho chiến tranh mà là tìm nền tảng tôn giáo cho hành động của mình. Thánh Kinh đầy những mệnh lệnh của Thiên Chúa ban bố cho dân Do Thái trong việc chiến đấu chống lại kẻ thù của họ khi cần thiết. Truyền thống của chúng tôi có quan niệm “lo tehayyun kol neshamah” về những cuộc chiến tranh chống lại những nhóm đặc biệt cần phải chiến đấu một cách tàn bạo không nương tay. Đề tài này được âm dội mãnh liệt nhất theo cái mệnh lệnh hiện hành của tôn giáo “mah eni meheh et zakar ‘amalek’”, mệnh lệnh gây ra một cuộc chiến tranh tối hậu chống lại một sự dữ tối hậu được tiêu biểu nơi dân Amalek, một chiến tranh không được bắt một tù nhân nào, mà phải giết chết hết tất cả.

Tuy nhiên, chiến tranh về quân sự không phải là cốt lõi của Do Thái Giáo. Thánh Kinh Do Thái, Luật Truyền Khẩu của chúng tôi, Bộ Tổng Luận Lề Luật và Giáo Huấn của chúng tôi, bộ tôn sư dẫn giải của chúng tôi và các bản văn tôn sư của chúng tôi, tất cả đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hòa bình, cả nơi giữa chúng tôi với nhau cũng như với các cận nhân của chúng tôi. Những người Do Thái chúng tôi dấn thân cho một thứ ý hệ, cho một thứ tôn giáo và cho một thứ triết lý qui về những tư tưởng hòa bình, nhân ái và huynh đệ, là những gì quen thuộc với các tôn giáo trên thế giới, nhất là với Kitô Giáo, một tôn giáo đã chấp nhận và thích ứng với rất nhiều tư tưởng về tôn giáo của người Do Thái. Chúng tôi đã được các sách thánh Do Thái dạy bảo, cũng như các người Kitô hữu được Tân Ước dạy bảo, trong việc cầm hãm  các thứ bất mãn đối với những ai làm tổn thương đến chúng tôi, cũng như luôn luôn tìm cách hòa giải và tình yêu thương huynh đệ. Ngay cả khi chúng tôi được sai đi gây chiến chống lại quân thù của mình, chúng tôi , chúng tôi được lệnh Thiên Chúa trước hết cống hiến cho họ cơ hội đầu hàng một cách ôn hòa, chỉ khi nào cái cống hiến đó không được chấp nhận chúng tôi mới được phép cấm khí giới lên chống lại họ. Ngoài ra, các vị tiên tri của chúng tôi đã nêu lên nhiều lần cho chúng tôi thấy một thị kiến về ngày cùng tháng tận khi mà gươm giáo được đúc thành cầy và tất cả mọi dân tộc sẽ sống trong an bình.

 

Thế nên chiến tranh không phải là văn hóa của chúng tôi, nó không phải là hoạt động của chúng tôi, nó không phải là sứ mệnh của chúng tôi là những người Do Thái. Nó thật sự không phải là công việc của các tôn giáo khác trên thế giới nữa. Không được làm phân tán đi cuộc nói chuyện về hòa bình nhân danh tôn giáo – nó được căn cứ vào thực tại của tất cả mọi lý tưởng của tôn giáo chúng ta, và nó là mục đích tối hậu mà tất cả chúng ta đều khát vọng. Chúng ta phải loại trừ đi những thứ méo mó về giáo huấn tôn giáo đã được sử dụng trong quá khứ, tôn giáo truyền khiến không được sử dụng bạo lực chống lại các phần tử thuộc tôn giáo khác hay thuộc các giáo phái khác.

 

Chúng ta phải nhớ rằng không có một tôn giáo nào khuyên dạy chúng ta sát hại một cách bất phân, và những ai được dạy khác đi đã thực hiện như thế, bằng việc cướp đoạt tôn giáo và bóp méo các tôn giáo được họ nhân danh nói. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã sửa lại những lạm dụng mà theo lịch sử đã được dùng để biện minh cho bạo lực hầu tấn công những người không phải là Kitô hữu.

 

Chỉ bằng việc nghiêm cẩn đối thoại và chân thành dấn thân cụ thể hoạt động cho hòa bình nơi những nhà lãnh đạo các tôn giáo chính, bằng những hy sinh cho hòa bình, hơn là chỉ bằng những lời ban bố, chúng ta mới bắt đầu thay đổi được tình trạng của nhân loại hiện nay. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bản thân đã đóng một vai trò theo kiểu cách này bằng những việc Ngài nỗ lực hòa giải với Do Thái Giáo, và đã làm thay đổi lịch sử giữa những người Kitô hữu và Do Thái Giáo. Đây thực sự có thể là một mẫu gương cho tất cả chúng ta theo, con đường của những người lữ hành đi tìm kiếm hòa bình.

 

Về vấn đề cầu nguyện Cuốn Midrash đã nói: những lời chúc tụng vẫn chưa đủ, trừ phi chúng chất chứa chữ HÒA BÌNH” (Bamidbar Raba).

 

(Tuần San L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày 30/1/2002, trang 8 và 9)

 

 

Bản Tuyên Ngôn Hòa Bình Liên Tôn

 

 

Tại Ngày Liên Tôn Cầu Nguyện Cho Hòa Bình Thế Giới ở Assisi Ý quốc 24/1/2002, 13 Vị đại diện tôn giáo đã lần lượt đọc một đoạn của Bản Tuyên Ngôn Hòa Bình Liên Tôn thứ tự như sau:

 

Đức Thượng Phụ Bartholomew I, Giáo Chủ Contantinopoli:

 

Mở:     “Qui tụ lại tại Assisi đây, chúng tôi cùng nhau suy nghĩ về hòa bình, một tặng ân của Thiên Chúa và là một công ích của toàn thể nhân loại. Cho dù có thuộc về những truyền thống tôn giáo khác nhau đi nữa, chúng tôi cũng xác nhận rằng hòa bình đòi chúng tôi phải biết yêu thương tha nhân của nhau, hợp với Khuôn Vàng Thước Ngọc là hãy làm những gì anh em muốn người khác làm cho mình. Với niềm xác tín này, chúng tôi sẽ không ngừng hoạt động lãnh nhận trọng trách xây dựng hòa bình. Bởi thế:

 

Mục Sư Konrad Raiser, Tổng Thư Ký của Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới, đại diện Giáo Hội Cải Cách Tây Phương:

 

1.         “Chúng tôi quyết tâm lên tiếng công bố niềm xác tín mạnh mẽ của chúng ta là bạo lực và khủng bố không hợp với Tinh Thần đích thực của tôn giáo, và khi chúng tôi lên án mọi phương sách gây bạo lực và chiến tranh vì danh Thiên Chúa hay tôn giáo, chúng tôi cũng quyết tâm thực hiện mọi sự có thể để nhổ tận gốc những căn rễ gây ra khủng bố.

 

Vị đại diện đạo Sikh, Bhai Sahioài Mohinder Singh

 

2.         “Chúng tôi quyết tâm giáo dục cho dân chúng biết tôn trọng và quí mến lẫn nhau, để góp phần vào việc mang lại một cuộc sống chung an bình và huynh đệ giữa những con người thuộc về các nhóm chủng tộc, văn hóa và tôn giáo khác nhau.

 

Đức Tổng Giám Mục Chính Thống Pitirim ở Moscow

 

3.         “Chúng tôi quyết tâm bồi dưỡng một thứ văn hóa đối thoại, để làm tăng thêm việc hiểu biết và tin tưởng nhau hơn giữa cá nhân với nhau cũng như nơi các dân tộc, vì những việc này là những điều kiện tiên quyết cho hoà bình chân thực.

 

Đức Tổng Giám Mục Chính Thống Jovan ở Serbia

 

4.         “Chúng tôi quyết tâm bảo vệ quyền mọi người được sống một đời sống xứng đáng với bản chất văn hóa riêng của họ cũng như được tự ý lập gia đình riêng của mình

 

Vị đại diện Hồi Giáo, Sheikh Abdel Salam Abushukhadaem

 

5.         “Chúng tôi quyết tâm thực hiện việc đối thoại thẳng thắn và nhẫn nại, không coi những khác biệt của chúng tôi như là chướng ngại bất khả thắng vượt, trái lại, chúng tôi nhìn nhận rằng việc tiếp cận khác biệt của nhau có thể trở thành cơ hội để hiểu biết nhau hơn.

 

Đức Giám Mục Chính Thống Vasilios ở Cypriot

 

6.         “Chúng tôi quyết tâm tha thứ cho nhau những lỗi lầm và tổn thương nơi quá khứ cũng như hiện tại, và nâng đỡ nhau trong nỗ lực chung để chế ngự vị kỷ và tự đắc, hận thù và bạo lực, cũng như để học lấy kinh nghiệm đã qua là hòa bình mà thiếu công lý không phải là hòa bình đích thực.

 

Vị đại diện Khổng Giáo người Đại Hàn, Chang-Gyou Choi

 

7.         “Chúng tôi quyết tâm đứng về phía thành phần nghèo khổ và vô dụng, lên tiếng bênh vực những ai không có tiếng nói và khôn ngoan hoạt động để thay đổi những tình trạng này, với niềm xác tín là không ai có thể một mình hạnh phúc được.

Vị đại diện Hồi Giáo, Hojjatoleslam Ghomi

 

8.         “Chúng tôi quyết tâm lấn át tiếng kêu gào của những ai không chịu từ bỏ bạo lực và sự dữ, và chúng tôi muốn vận dụng mọi nỗ lực để cống hiến cho con người nam nữ của thời đại chúng ta một niềm hy vọng thực sự về công lý và hòa bình

Vị đại diện Phật Giáo người Nhật, Thượng Tọa Nichiko Niwano

 

9.         “Chúng tôi quyết tâm khuyến khích tất cả mọi nỗ lực trong việc phát triển mối thân hữu giữa các dân tộc, vì chúng tôi xác tín rằng nếu các dân tộc không biết đoàn kết và thông cảm với nhau thì tình trạng tiến bộ về kỹ thuật chỉ làm cho thế giới càng có nguy cơ bị hủy hoại và diệt vong mà thôi.

 

Vị đại diện Do Thái Giáo, Tôn Sư Rabbi Samuel-René Sirat

 

10.       “Chúng tôi quyết tâm thôi thúc các vị lãnh đạo quốc gia phải vận dụng mọi nỗ lực để kiến tạo và củng cố một thế giới hợp đoàn và bình an trong công lý, ở bình diện quốc gia cũng như quốc tế.

 

Tiến Sĩ Mesach Krisetya thuộc Hội Nghị Quốc Tế Mennonite

 

Kết      “Chúng tôi, những con người thuộc các truyền thống đạo giáo khác nhau, sẽ không ngừng công bố là hòa bình và công lý bất khả tách biệt, và hòa bình trong công lý là con đường duy nhất cho loài người tiến về một tương lai hy vọng. Trong một thế giới, nhờ hệ thống bao rộng của các phương tiện truyền thông xã hội, đang mở rộng các biên giới, đang thu lại cách quãng, và đang liên hệ với nhau hơn bao giờ hết này, chúng tôi xác tín rằng, tình trạng an sinh, tự do và hòa bình không bao giờ được bảo đảm bởi võ lực mà là bằng lòng tin tưởng nhau. Xin Thiên Chúa chúc lành cho những quyết tâm này của chúng ta và ban công lý cùng hòa bình cho thế giới.

 

ĐTC Gioan Phaolô II, đại diện cho Giáo Hội Công Giáo Rôma:

 

“Không bao giờ còn bạo lực nữa! Không bao giờ còn chiến tranh nữa! Không bao giờ còn khủng bố nữa! Chớ gì hết mọi tôn giáo hãy nhân danh Thiên Chúa để mang lại công lý và hòa bình, thứ tha và sự sống cùng yêu thương đến cho thế giới này!”

 

 

 

 

 

 Hòa Bình Không Thể Thiếu Công Lý,

Công Lý Không Thể Thiếu Thứ Tha

 

(Sứ Điệp của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho

Ngày Hòa Bình Thế Giới Năm Thứ 34, 1/1/2002)

 

1.-        Ngày Hòa Bình Thế Giới năm nay được cử hành trong cái ám ảnh thê thảm của biến cố 11/9 vừa qua. Ngày hôm ấy đã xẩy ra một tội ác khủng khiếp, đó là, trong một vài giờ khắc ngắn ngủi đã có cả mấy ngàn người vô tội thuộc nhiều chủng tộc khác nhau bị thảm sát. Từ đó, dân chúng trên khắp thế giới đã cảm thấy mình có thể bị tổn thương một cách sâu xa cũng như cảm thấy một mối phập phồng lo sợ mới trong tương lai. Đối với tâm trạng này, Giáo Hội chứng tỏ cho thấy niềm hy vọng của mình với một xác tín là sự dữ, mầu nhiệm bất chính “mysterium iniquitatis“, không phải là phán quyết tối hậu nơi sinh hoạt trần thế.

 

Đó là niềm hy vọng nâng đỡ Giáo Hội bước vào năm 2002, ở chỗ, với ơn Chúa, cái thế giới mà, một lần nữa, quyền lực sự dữ như đang làm chủ tình thế, thực sự sẽ được biến thành một thế giới được chủ trì bởi những khát vọng cao cả nhất của con tim nhân loại, một thế giới được sống trong hòa bình đích thực.

 

Hòa Bình Là Công Cuộc Của Công Lý Và Yêu Thương

 

2.-        Những biến cố mới đây, kể cả những cuộc giết hại khủng khiếp vừa được đề cập tới, đã đưa Tôi trở về với đề tài thường khuấy động tận đáy lòng Tôi, khi Tôi nhớ lại những biến cố lịch sử đã ghi dấu vết vào cuộc đời của Tôi, nhất là hồi Tôi còn trẻ.

 

Nỗi khổ đau vĩ đại của các dân tộc cũng như của những con người, ngay cả của những người trong số bạn bè và quen biết của Tôi, do chế độ độc tài Nazi và Cộng Sản gây ra, Tôi không bao giờ quên được và cũng không thôi nguyện cầu. Tôi thường ngẫm nghĩ đến một vấn đề dai dẳng này là chúng ta làm thế nào để phục hồi lại trật tự về luân lý và xã hội, một trật tự bị lọt vào bàn tay của tình trạng bạo loạn khiếp đảm như thế?… Những cột trụ của nền hòa bình chân thực là công lý và là một mẫu yêu thương biết thứ tha.

 

3.-        Thế nhưng, trong những hoàn cảnh hiện nay, chúng ta làm sao có thể nói đến công lý và thứ tha như là nguồn gốc và là điều kiện để tạo lập hòa bình đây? Cho dù có khó khăn đến mấy đi nữa, chúng ta cũng có thể nói và phải nói đến những vấn đề này… Thứ tha phản ngược lại với uất hận và trả thù, chứ không phải với công lý. Thật vậy, hòa bình thực sự là “việc của công lý” (Is 32:17).

 

Bởi thế hòa bình đích thực là hoa trái của công lý, một nhân đức luân lý và là một bảo toàn về pháp lý đưa đến chỗ biết hoàn toàn tôn trọng quyền lợi và nghĩa vụ của con người, cũng như đưa đến việc phân phối công bằng cả về những thiện ích lẫn gánh nặng. Thế nhưng, vì công lý của loài người luôn mỏng dòn và bất hảo, lệ thuộc hẳn vào những giới hạn và cái tôi của con người cũng như của phái nhóm, mà nó phải cần đến lòng thứ tha và cần phải thực hiện bằng một tấm lòng thứ tha, một lòng thứ tha hàn gắn chữa lành và tái thiết những mối liên hệ trần thế bị trục trặc tận căn gốc của chúng. Điều này đúng là như thế, ở những hoàn cảnh lớn nhỏ, ở tầm mức riêng tư hay bao rộng, ở cả ngay lãnh vực quốc tế nữa. Thứ tha không thể nào phản ngược lại với công lý, như thể thứ tha là bỏ qua nhu cầu cần phải sửa lại những gì sai quấy. Trái lại, nó là tầm mức trọn vẹn của công lý… Công lý và thứ tha đều là những gì thiết yếu cho việc hàn gắn ấy.

 

Tôi muốn trình bày về hai khía cạnh hòa bình này nơi sứ điệp đây.

 

Thực Tại Của Việc Khủng Bố

 

4.-        Chính vì hòa bình phát xuất từ công lý cũng như từ thứ tha mà hôm nay đây nó đã bị cuộc khủng bố thế giới tấn công. Trong những năm vừa rồi, nhất là từ khi kết thúc tình trạng Chiến Tranh Lạnh, công cuộc khủng bố đã phát triển thành một hệ thống tổ chức tinh vi về cấu kết chính trị, kinh tế và kỹ thuật, một kết cấu vượt ra ngoài lãnh địa quốc gia, tới chỗ bao trùm toàn thể thế giới.

 

Khi những tổ chức khủng bố sử dụng những tay sai của mình như khí cụ để khai chiến chống lại người vô phương chống đỡ và ngay lành là họ rõ ràng chứng tỏ cho thấy họ đang nung nấu một ý muốn sát hại. Khủng bố phát xuất từ hận thù và gây ra tình trạng cô lập, ngờ vực và khép kín… Khủng bố xẩy ra là do lòng khinh thường sự sống con người. Bởi thế, nó không chỉ gây ra những tội ác bất khả dung, mà tự mình nó còn là một tội ác phạm đến nhân loại nữa, bởi nó dùng đến những đường lối khủng bố về chính trị và quân sự.

 

5.-        Thế nên, cần phải có quyền tự vệ đối với hành động khủng bố, một quyền bao giờ cũng phải thi hành bằng cách tôn trọng những giới hạn về luân lý và pháp lý, trong việc chọn lựa giữa cùng đích và phương tiện. Lỗi lầm cần phải nhận diện một cách xác đáng, vì tính chất vấp phạm tội ác bao giờ cũng thuộc về cá nhân, không thể qui cho cả một dân nước, cả một nhóm chủng tộc hay tôn giáo có phần tử là những người khủng bố. Việc quốc tế hợp tác vào việc chống lại những hoạt động khủng bố cũng đòi phải là một việc làm chính trị đầy can đảm và quyết tâm, một việc dấn thân về ngoại giao và kinh tế, để làm giảm bớt những tình trạng đè nén và hất hủi là những gì sinh ra mưu cơ tác hành của thành phần khủng bố.

 

Ngoài ra, cũng cần phải nhấn mạnh là tình trạng bất công hiện nay trên thế giới không bao giờ được lấy đó là cớ cho những hành động khủng bố cả.

 

Không Được Nhân Danh Thiên Chúa Để Sát Hại!

 

6.-        Những ai sát hại bằng những hành động khủng bố là những người thực sự thất vọng về nhân loại, về sự sống cũng như về tương lai. Theo quan niệm của mình, họ cần phải ghét bỏ và hủy diệt tất cả mọi sự. Những người khủng bố chủ trương rằng sự thật mà họ tin tưởng hay khổ đau họ phải chịu đựng là tất cả những gì biện minh cho phản ứng của họ trong việc hủy hoại ngay cả những mạng sống vô tội. Hiện tượng khủng bố thường là hậu quả của khuynh hướng cực đoan bảo thủ cuồng loạn phát xuất từ niềm tin tưởng rằng quan điểm riêng của mình về sự thật cần phải bắt mọi người khác phải chấp nhận… Việc cố gắng dùng võ lực để áp đặt trên người khác những gì chúng ta cho là chân lý là một hành động phạm đến phẩm vị con người, đúng hơn phạm đến Thiên Chúa mà con người là hình ảnh của Ngài. Vì lý do ấy, những gì thường được nói đến như là khuynh hướng cực đoan bảo thủ đều là những thái độ thực sự phản lại niềm tin vào Thiên Chúa. Việc khủng bố không lợi dụng người ngay lành mà là chính Thiên Chúa, ở chỗ, nó cố ý biến Ngài thành một ngẫu tượng để thực hiện mục đích riêng tư của mình. 

 

7.-        Bởi thế mà không một nhà lãnh đạo tôn giáo nào có thể bỏ qua được hành động khủng bố, lại càng không truyền dạy khủng bố. Khi tuyên bố mình nhân danh Thiên Chúa để khủng bố, để bạo hành người khác, là việc làm tục hóa đạo giáo.

 

Tuân theo giáo huấn và mẫu gương của Chúa Giêsu, Kitô hữu tin rằng việc tỏ lòng xót thương là việc sống chân lý cuộc đời của mình… Thành phần môn đệ theo Đức Kitô, thành phần được rửa trong Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh cứu độ của Người, bao giờ cũng phải là những con người nam nữ của lòng xót thương và tha thứ.

 

Nhu Cầu Cần Phải Thứ Tha

 

8.-        Tuy nhiên, thứ tha ở đây thực sự nghĩa là gì? Và tại sao chúng ta cần phải thứ tha?

 

Trước hết, thứ tha là một việc chọn lựa riêng tư, là một quyết định của cõi lòng muốn đi ngược lại với bản năng tự nhiên trong việc lấy ác báo ác. Quyết định này được căn cứ vào tình yêu Thiên Chúa, Đấng đã kéo chúng ta lại với Ngài bất chấp tội lỗi của chúng ta.

Bởi thế, thứ tha có một nguồn gốc và tiêu chuẩn thần linh. Điều này không có nghĩa là tính cách quan trọng của nó không thể hiểu được theo lập luận trần gian… Tất cả mọi người đều mong ước là mình có thể bắt đầu lại từ khởi sự, và không muốn mình cứ mãi mãi bị bế tắc trong những lầm lẫn và tội lỗi của mình.

 

9.-        Bởi thế, là một tác động hoàn toàn nhân bản, thứ tha trước hết là một khởi động của cá nhân. Tuy nhiên, cá nhân là những hữu thể chính yếu của xã hội … Do đó, cả xã hội nữa thật sự cũng cần phải biết thứ tha… Khả năng tha thứ bắt nguồn sâu xa từ tư tưởng về một xã hội mai hậu, một xã hội làm nên bởi công lý và tình đoàn kết. Ngược lại, việc không biết thứ tha, nhất là đối với một cuộc xung khắc lâu dài, sẽ phải trả một giá hết sức đắt đỏ đối với việc phát triển của con người. Những nguồn lợi được sử dụng cho việc chế tạo các thứ vũ khí thay vì cho việc phát triển, hòa bình và công lý.

 

Tha Thứ Là Một Con Đường Dài

 

10.-      Tha thứ… dầu sao… cũng là một sứ điệp nghịch thường. Thật vậy, thứ tha bao giờ cũng bao gồm một hình thức thua thiệt ngắn hạn để cho một lợi lộc dài hạn thật sự. Bạo lực thì hoàn toàn ngược lại; chọn làm một việc bề ngoài có lợi ngắn hạn lại bao hàm cả một mất mát thực sự và vĩnh viễn. Thứ tha là việc xem ra có vẻ hèn yếu, song nó lại đòi phải có một sức mạnh về tinh thần cao cả cũng như phải có một tấm lòng can đảm về luân lý, cả hai điều này cần phải có trong việc thực hiện thứ tha cũng như trong việc chấp nhận được tha thứ.

Vai trò thừa tác của Tôi trong việc phục vụ Phúc Âm đã thúc buộc Tôi, đồng thời cũng cho tôi sức mạnh, để Tôi lập lại việc cần phải thứ tha này. Hôm nay đây, một lần nữa, Tôi xin nhắc lại điều này, hy vọng làm khơi dậy việc nghiêm chỉnh và chín chắn suy nghĩ về vấn đề ấy, để nhờ đó thực hiện một việc quật khởi xa tầm tay đối với tinh thần con người, nơi con tim của từng người cũng như trong mối liên hệ giữa các dân tộc trên thế giới với nhau.

 

11.-      Khi suy tư về việc thứ tha, tâm trí chúng ta tự nhiên nghĩ đến một số trường hợp xung khắc không ngừng nuôi dưỡng những mối hận thù sâu đậm và chia rẽ, cùng với thảm cảnh cá nhân cũng như đoàn thể liên tục diễn ra hầu như không thể chấm dứt được. Tôi muốn đặc biệt nói đến những gì đang xẩy ra ở Thánh Địa, nơi ân phúc cho việc Thiên Chúa gặp gỡ loài người ấy là nơi Chúa Giêsu, Vua Bình An, đã sinh sống, tử nạn và phục sinh từ trong cõi chết.

 

Tình hình quốc tế rắc rối hiện nay lại càng thúc đẩy việc cần phải giải quyết vấn đề xung khắc giữa Ả Rập và Yến Duyên, một tình trạng xung khắc xẩy ra cho tới nay đã trên 50 năm… Quyền lợi và đòi hỏi của mỗi bên có thể được cứu xét một cách xứng hợp và phân xử một cách quân bình, trừ phi họ muốn chấp nhận công lý và hòa giải.

 

Việc Thông Cảm Và Hợp Tác Liên Tôn

 

12.-      Các nhà lãnh đạo tôn giáo có một trọng trách đối với tất cả những nỗ lực này. Các tín hữu Kitô giáo, cũng như các tôn giáo lớn trên thế giới, cần phải cùng nhau hoạt động để loại trừ những căn gốc về xã hội cũng như về văn hóa gây ra hành động khủng bố. Các vị có thể làm điều này bằng việc giảng dạy sự cao cả và phẩm vị của con người, cũng như bằng việc truyền bá cảm quan rõ nét hơn nữa về tính cách hiệp nhất nên một của gia đình nhân loại.

 

Tôi đặc biệt mong rằng những vị lãnh đạo Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo giờ đây phải dẫn đầu trong việc công khai lên án hành động khủng bố, cũng như phải chối bỏ những người khủng bố bất cứ hình thức hợp pháp nào về tôn giáo hay luân lý.

 

13.-      Để đảm trách một việc dấn thân như vậy, các tôn giáo khác nhau không thể nào đi ra ngoài con đường thứ tha, một con đường tiến đến chỗ thông cảm nhau, tôn trọng nhau và tin tưởng nhau.

 

Việc Cầu Nguyện Cho Hòa Bình

 

14.-      Chính vì lý do này, việc cầu nguyện cho hoà bình không phải là một việc hậu xét trong việc hoạt động cho hòa bình. Nó phát xuất từ chính yếu tính của việc xây dựng hòa bình trong trật tự, công bằng và tự do. Cầu nguyện cho hòa bình là việc con người mở lòng mình ra cho quyền năng canh tân tất cả mọi sự của Thiên Chúa chiếm đoạt… Cầu nguyện cho hòa bình là cầu nguyện cho công lý… Đó là việc cầu nguyện cho tự do, nhất là cho tự do tôn giáo là một thứ nhân quyền căn bản và là một thứ dân quyền của hết mọi người. Cầu nguyện cho hòa bình là tìm cầu ơn tha thứ của Thiên Chúa.

 

Vì tất cả những lý do đó, Tôi đã mời những vị đại diện các tôn giáo trên thế giới đến Assisi là phố thị của Thánh Phanxicô vào ngày 24/1/2002 để cầu nguyện cho hòa bình thế giới vậy.

 

(Vatican Information Service 11/12/2001)