<12> Cảm Mến Tôn Sùng NHƯ TRẺ NHỎ

 

        Trong câu chuyện hai người tử tội bị đóng đanh hai bên thập giá Chúa Giêsu Kitô (xem Luca 23:39-43), hai thành phần người lớn theo thế gian và thành phần "như trẻ nhỏ" của Thiên Chúa cũng hiển hiện không kém phần xác thực.

 

         Thành phần người lớn theo thế gian đây không phải chỉ có người tử tội "bị" đóng đanh bên trái thập giá Chúa Giêsu, người tử tội đã hùa theo (xem Marcô 15:32) dân chúng và hội đồng chức sắc (xem Marcô 16:29-31; Mathêu 27:39-43), cũng như quân lính (xem Luca 23:36-37), "đồng điệu" (Mathêu 27:44) lộng ngôn phạm đến Người:

         "Ngươi không phải là Đức Kitô hay sao? Thế thì hãy cứu lấy mình và cả bọn này đi" (Luca 23:39).

 

            Thật ra, không phải chỉ có người tử tội bên trái thập giá Chúa Giêsu mới nói những lời xúc phạm đến Người như vậy, mà ngay cả người tử tội bên phải của Người nữa (xem Mathêu 27:44; Marcô 15:32). Thế nhưng, cuối cùng, người tử tội "được" đóng đanh bên phải Chúa Giêsu đã hoàn toàn "hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ" với tâm tình như sau:

        "Thấy mình cùng chịu chung một bản án mà ngươi lại chẳng sợ Thiên Chúa hay sao? Tụi mình dầu sao cũng đáng tội. Tụi mình chỉ trả giá cho những gì mình đã gây ra mà thôi, còn người này đâu có làm chi nên tội... Ngài Giêsu ơi, xin nhớ đến tôi khi Ngài lên ngai vương quốc của Ngài" (Luca 23:40-42).

 

            Qua bản tuyên ngôn Đức Tin rất ngắn gọn mà vô cùng sâu xa của người tử tội ở bên phải thập giá Chúa Giêsu này, đủ biết sức mạnh của ơn Chúa trong chốc lát đã tác dụng vô cùng hiệu nghiệm nơi "những ai Thiên Chúa biết trước thì Ngài cũng tiền định" (Rôma 8:29) là chừng nao.

 

         Không biết người tử tội được tiền định nay, khi còn làm mưa làm gió trên giang hồ, có bao giờ được điễm phúc thấy và nghe những điều như trường hợp đặc ân của riêng các môn đệ Chúa Giêsu (xem Mathêu 13:16) và của chung dân chúng theo Người hay chăng. Thế mà, người tử tội diễm phúc này đã hoàn toàn tin vào Chúa Giêsu đến nỗi, đã mạnh dạn tuyên xưng Đức Tin của mình ra trước bá quan thiên hạ đang nhao nhao nhào tới phỉ nhổ và hạ nhục chính "Chân Lý" (Gioan 14:6), Đối Tượng Đức Tin của mình.

 

         Thành phần, như Chúa Giêsu trả lời cho hội đồng Do Thái chất vấn Người, "những người đã nghe Tôi nói. Họ phải là những người biết được điều Tôi đã nói" (Gioan 18:21), vì "tôi đã nói cách công khai cho những ai muốn nghe. Tôi luôn luôn giảng huấn trong hội đường hay nội vi đền thờ, nơi tụ tập của tất cả các người Do Thái. Chẳng có điều gì bí mật về bất cứ điều gì Tôi nói cả" (Gioan 18:20).

 

         Đáng lẽ thành phần nầy phải lả những người thấy rõ nhất Chúa Giêsu là nhân vật như thế nào, đáng tin hay không. Thế mà, trái lại, thành phần đỉnh cao trí tuệ của dân Do Thai đứng ra hạch hỏi Chúa Giêsu bấy giờ, thành phần người lớn, đã không hề can thiệp trong việc đồng ý để cho "một trong những vệ sĩ đang đứng gần đó tát  Chúa Giêsu một cái" (Gioan 18:22). 

 

         Thế mà, người tử tội bên phải thập giá Chúa Giêsu, trong quá khứ, hầu như không biết Người là ai, lại dám chứng nhận và tuyên xưng: "Ngưòi này có làm chi nên tội đâu".

 

         Thế nhưng, người tử tội luật sư này lấy lý gì mà dám làm chứng một cách hết sức liều lĩnh như vậy. Nếu không phải anh ta đã lấy chính kinh nghiệm bản thân tội lỗi của mình ra: "Dầu sao tụi mình cũng đáng tội. Tụi mình chỉ trả giá cho những gì tụi mình gây ra mà thôi". 

 

         Và, trong việc biện hộ để làm chứng Chúa Giêsu vô tội, chỉ có người tử tội phạm pháp đầy mình kinh nghiệm này mới có đủ thế giá và sáng suốt để nhận định mà thôi, chứ không phải nhóm người tự cho mình "'chúng tôi thấy' nên tội của mình vẫn còn đó" (Gioan 9:41).

 

        Nguyên tắc va đường lối phân xử công minh nhất, như Chúa Giêsu đã dạy cho dân chúng và các môn đệ của Người (xem Mathêu 5:1-2) ngay từ đầu ở bài giảng Phúc Đức Trọn Lanh, đó là: "Hãy lấy khỏi mắt của mình cái xà trước đã, rồi các ngươi mới thấy rõ để lấy cái rằm khỏi mắt anh em mình" (Mathêu 7:6), ở đây, người tử tội luật sư của Chúa Giêsu đã đem ra thực hành một cách hợp tình, hợp lý và hợp cảnh.

 

         Trong lời biện hộ cho Chúa Giêsu là người vô tội như thế, người tử tội còn gián tiếp muốn chứng minh rằng: Người là Con Thiên Chúa, Đấng mà giáo quyền Do Thai phủ nhận, và đồng thời cũng là Vua, Đấng mà chính quyền Rôma kết án.

 

         Bởi vì, sau nguyên tội, nếu không có ơn đặc biệt của Thiên Chúa, như trường hợp độc nhất vô nhị là trường hợp Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, thì "tất cả mọi người đã phạm tội, làm mất đi vinh quang của Thiên Chúa" (Rôma 3:23). Do đó, "nếu chúng ta nói rằng, 'chúng tôi vô tôi vạ', là chúng ta tự lừa dối mình' sự thật không ở trong chúng ta" (1Gioan 1:8).

 

         Như thế, "người này đâu làm chi nên tội" trong lời biện chứng của người tử tội bên phải thập giá Chúa Giêsu còn có nghĩa Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa, "Đấng Cha đã thánh hóa và sai đến trần gian" (Gioan 10:36), Đấng đã cho hội đồng Do Thái muốn biết Người "có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa" (Mathêu 26:63) biết: "Chẳng bao lâu nữa quí vị sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Quyền Năng và đến trên mây trời" (Mathêu 26:64).

 

         Đức Tin của người tử tội biện hộ cho Chúa Giêsu mạnh mẽ đến nỗi, theo tự nhiên, cho dù thấy rằng con người đang bị đóng đanh ở giữa  mình, sắp chết như một tên tử tội chúa đảng  giữa hai tên tử tội vô danh tiểu tốt, trong đó có anh ta, thế mà, (như hai anh em thánh tông đồ  Giacôbê và Gioan, dẫu có được Thày tỏ cho biết rằng Thày sẽ bị tử nạn, mà còn cứ xin cho bằng được ngồi bên hữu và bên tả của Thày), anh ta vẫn thành khẩn cậy trông kêu xin với vị tử tội lãnh đạo của mình bấy giờ:

        "Ngài Giêsu ơi, xin nhớ đến tôi khi Ngài lên ngai vương quốc của Ngài" (Luca 23:42) 

 

        "Lên ngai vương quốc của Ngài"  trong câu cầu khẩn của người tử tội biện hộ cho Chúa Giêsu ở đây cũng chính là lời người tử tội diễm phúc này tuyên xưng vương quyền của Chúa Giêsu, như chính Chúa Giêsu đã công nhận và tuyên bố với nhà cầm quyền Philatô:

        "Phải, Tôi là Vua. Lý do Tôi được sinh ra, lý do Tôi đến thế gian là để làm chứng cho chân lý. Ai tìm kiếm chân lý thì nghe tiếng của Tôi" (Gioan 18:37).

 

            Chính vì nhận biết Chúa Kitô, tức nhận biết "Chân Lý" như vậy mà người tử tội diễm phúc đã chứng tỏ Đức Tin của mình, đã nghe thấy tiếng của Chúa Giêsu, và đã được "Chân Lý giải phóng" (Gioan 8:32), đúng như lời Chúa Giêsu tuyên phán: "Con Người bị treo lên để tất cả những ai tin được sự sống trong Người" (Gioan 3:14-15):

        "Tôi nói thật cho anh biết: ngay hôm nay  anh sẽ được ở cùng tôi trên Thiên Đàng" (Luca 23:43).

 

         Thế nhưng, tât cả sự khôn ngoan của người tử tội được chân lý giải phóng này, sự khôn ngoan mà mức độ của nó đã trổi vượt, như một trời một vực, hơn cả các nhân vật cao cấp nhất trong giao quyền Do Thai lẫn chính quyền Rôma bấy giờ, không phải đã được bắt đầu từ lòng kính sợ Thiên Chúa, "lòng kính sợ Chúa là đầu cội sự khôn ngoan" (Cach Ngôn 9:10), của người tử tội này hay sao?

 

         Chính lòng kính sợ Chúa này đã lam cho người tử tội bên phải thập giá Chúa Giêsu, về mặt tiêu cực, thôi vào hùa với dân chúng, với các vị tư tế và ký lục, với quân lính nhục mạ Người, và về mặt tích cực, một đàng chặn đứng những lời nhục mạ Chúa từ người bạn tử tội với mình, đàng khác còn bênh chữa cho Người, nhất là lại mạnh dạn tôn vương Người.

 

         Thế nhưng, nguyên nhân nào đã làm cho người tử tội nhận biết và tôn vương Chúa Giêsu như vậy. Nếu không phải là do chính Chúa Giêsu, một cách âm thầm, (như sẽ được chứng minh sau), đã tỏ mình ra cho anh là con chiên lạc mà Người đã dẫn về đàn của Người.

 

        Theo nguyên tắc, nếu không nghe thấy tiếng gọi của chủ chiên, tức không nghe thấy và nhận ra đúng là tiếng chủ chiên của mình, chiên lạc không thể nào tự mình trở về đàn được: "Ta cũng phải dẫn dắt chúng (chiên lạc) nữa và chúng sẽ nghe tiếng Ta" (xem Gioan 10:16).

 

         Vậy, Chúa Giêsu đã dẫn dắt người tử tội ở bên hữu về với Người như thế nào. Nếu không phải bằng hấp lực "Tình Yêu Nhân Hậu" của Người:

         "Lòng nhân hậu của Thiên Chúa là lời mời gọi anh em ăn năn hối cải" (Rôma 2:4)

 

         Phúc Âm không tiết lộ cho biết lý do làm người tử tội diễm phúc này trở lại với Chúa Giêsu. Tuy nhiên, ngay sau khi đề cập đến việc hai người tử tội cùng bị đóng đanh với Chúa Giêsu, một người bên phải và một người bên trái của Người, Phúc Âm thánh Luca liền tiếp theo bằng việc lập lại một trong bảy lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên thập giá, đó là câu:

         "Lạy Cha, xin tha cho họ; họ không biết việc họ đang làm" (Luca 23:34)

 

         Không phải hay sao, chính vì thấy được lòng nhân hậu vô cùng này của Chúa Giêsu, mà người tử tội thuộc về thành phần lầm lạc, thành phần "không biết việc mình làm" này, đã nhận ra tội lỗi của mình, không dám nói phạm đến Chúa Giêsu nữa, Đấng "đâu có làm chi nên tội", ngược lại, đã xin Ngưòi thương đến mình khi Người lên ngai vương quốc của Người, một vương quốc "không thuộc về thế gian này" (Gioan 18:36), một vương quốc của Sự Sống thống trị "quyền lực sự chết" (Mathêu 16:18), một vương quốc của "tình thương vượt trên phán quyết" (Giacôbê 2:13), một vương quốc của "tình yêu khoả lấp muôn vàn tội lỗi" (1Phêrô 4:8).

 

         Tóm lại, trong trình thuật Phúc Âm về thái độ của người tử tội bên phải thập giá Chúa Giêsu,

            "Trở nên như trẻ nhỏ" là trở nên chiến lợi phẩm của Nước Trời, bằng việc tôn vương Chúa Giêsu trong con người tội lỗi hèn hạ của mình

 

 

Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu

           

Con người ngay nay lấy sự hưởng thụ tất cả những gì thuộc về tạo vật thay thế cho Thiên Chúa.Thế nhưng trong một xó nhỏ của tâm hồn họ ma chính họ thường cũng không biết, Cha vẫn có đó.Rồi trong cơn họan nạn, bỗng nhiên họ nhận thức được sự hiện diện của Cha trong họ.Nhưng buồn thay! Vậy ra cac con cứ phải gặp đau khổ rồi mới đoan hoai nhớ lại rằng có Cha ư? Chính lúc ấy họ mới bam vao Cha như bam vao cai phao cấp cứu.Nhưng Cha biết rõ lòng dạ trao trở của họ. Cha biết rằng khi họ đã nhận được ơn họ kêu cầu,

họ liền quay trở lại cuộc đời khốn nạn của họ va còn thêm sự vong ân bội nghĩa đối với Cha. Nhưng Cha vẫn yêu dấu họ, va Cha không thể chống cưỡng lại trước những giọt lệ than thở của họ...Ôi cac con đang thương hại của Cha!Cha sẽ lam gì cho cac con? Cha đem đến cho cac con tình yêu va an bình.Cac con đap lại Cha

bằng sự dửng dưng va những lời chua chat... Ngay giờ qua đi mau chóng lắm!

Bởi vì mọi sự đều chóng qua. Cac con ha không hiểu rằng cac con đang bước đi rất mau về cõi đời đời sao?

Một năm, hai năm có la gì? Chỉ còn mấy năm nữa thôi la cac con sẽ thuộc về qúa khứ.

Trên cõi trần lam cho cac con ra ô trọc nay, người ta còn nhớ gì đến cac con nữa đâu. nhưng tại nơi ma cac con đi đến, không có gì bị quên sót cả. Va cac con sẽ gặt hai những gì cac con đã gieo.Cac con sẽ bị xét xử theo điều ac đã phạmhoặc sẽ được thưởng do điều thiện đã lam. Cac con hãy suy nghĩ va ăn năn thống hối.

Lúc nay còn thời giờ. Cac con hãy lăn xả vao vòng tay của Cha. Khi Cha vì yêu bị đóng đinh trên thập gia

như một tội nhân, lẽ nao Cha lại chỉ ôm lấy   khoảng không trống rỗng? (15/10/1966)

 

Hỏa ngục chỉ thu nhặt được

những cặn bã xấu nhất của nhân loại.

Con hãy tin rằng

trước khi đanh bỏ cho hỏa ngục một linh hồn,

Cha đã thử dùng mọi phương thế

theo lòng thương xót của Cha

để cứu vớt linh hồn ấy.

Ai muốn được cứu rỗi?

Người công chính va tội nhân thống hối.

Ai từ chối không muốn được cứu rỗi?

Kẻ tội lỗi cứng lòng.

Ai sẽ được cứu rỗi?

Người ao ước được cứu rỗi

với lòng tin tưởng va cậy trông.

Trai Tim Cha âu yếm

ghé xuống với những người tự hạ.

Thế giới la gì?

La sa mạc của cac linh hồn.

Không có gì lập cư ở đó,

ngoai cai sẽ phải tan biến mãi mãi.

Bụi va tro

bao giờ cũng chỉ sản xuất ra tro va bụi.

Cac con của Cha ơi.

Cac con đang thương của Cha ơi!

(4/10/1967)

 

Cac con nhỏ của Cha, cac con sẽ không thể tìm thấy hạnh phúc trong cac thú vui ở trên trần thế nay, nhưng chỉ thấy nó trong sự tìm kiếm Cha. Cho nên cac con hãy cố hết sức vươn lên tới đích của cuộc sống của mình.

Chỉ ở đó mới có hạnh phúc, cai hạnh phúc ma Cha hết sức mong muốn cho cac con..(14/10/1968)

Cac con hãy kết hợp sự yếu đuối của cac con với sự yếu lòng của Thiên Chúa của cac con đối với loai thụ tạo của Ngai. Con nhỏ của Cha hãy còn bị cai "tôi" của mình chi phối qúa đi. Nhưng Cha hiểu nó qua ma.

Cha cũng đã biết sự yếu đuối của nó, Vì Cha chỉ bị chi phối bởi gia trị va lợi ích Lễ Hy Sinh của Cha, sự cứu rỗi ma Cha mang đến cho thế gian. ma thôi. Tuy nhiên, bản tính nhân lọai của Cha đã phải chịu đau khổ ghê gớm. Cho nên hỡi cac nhỏ bé hư vô đang thương, Cha đã thừa hiểu cac con. rồi.(30/10/1968)

Cac linh hồn bé nhỏ của Cha hãy còn qua ít để băng bó vết thương nơi Trai Tim Chí Thanh của Cha. Sự cao cả của Cha bị sự nhỏ bé lôi cuốn ma không thể cưỡng lại được. Con hãy nhận biết sự khốn khổ của con va con hãy gieo mình vao trong canh tay của Cha với lòng tin tưởng, bởi vì tình yêu của con phải mãnh liệt hơn sự bất xứng của con...(6/12/1968)

 

Con Cha, con có biết thế nao la sự thất bại của một Thiên Chúa không?

Đó la hy sinh ma vẫn không cứu được tất cả mọi người. (18/5/1970)

 

Cho dù nhân l0ai có sa đọa đến đâu, tình yêu vẫn la phương thuốc độc nhất để chữa trị sự dữ của họ.

Nhưng than ôi! Biết bao kẻ cứng đầu đã chối từ lợi ích của tình yêu va hư mất tiêu trong giòng nước sa đọa.

(24/5/1970)

 

Người ta chắp canh bay tới sự dữ, nhưng họ bị trói lại khi dấn thân vao đường ngay nẻo chính. (8/11/1973).

 

Nay Cha đến không phải để trừng phạt cac con, nhưng để đưa cac con về cùng Cha. Những biến cố hiện nay bộc lộ những tâm tư của một thế giới tham lam, ích kỷ va gian dối. Cha mở Trai Tim Cha cho những người lanh, còn đối với những người cứng lòng tin, Cha giang tay ra đón họ. Đối với những kẻ phản lọan, chống lại luật tình yêu Cha, Cha trao chúng cho sự công bằng của Cha.

Cha đã nói: Con hãy mở đường cho Cha, hãy giảm bớt phép công bằng của Cha bằng tình yêu của con,

tình yêu của cac hồn nhỏ. Trên biển bùn nhơ tội lỗi, Tình Yêu xòe canh ra ấp ủ con cai trung nghĩa chen nhau nấp dưới bóng chở che nay...Cha mau tha thứ va chậm thực thi công bằng la vì cac con, hỡi cac hồn nhỏ.

Những kẻ dữ không hề sợ hãi trông đợi ngay Chúa đến, bởi vì họ không tin có ngay đó, nhưng ngay đó sớm muộn gì cũng đến theo ngay giờ Cha đã ấn định. (1/12/1973)

 

Hãy nhìn ngắm Bạn Thân của con sống trong thiên tính.

Hãy nhìn xem Người đau khổ trong nhân tính bị cha đạp.

Con có muốn chia sẻ với Cha không?

Cha ước ao con lam cho cac linh hồn biết Cha một cach thân mật hơn trong tình yêu của Cha.

Thiên Chúa có bao oan thì cũng chỉ la một người Cha đau khổ phải trừng phạt con cai mình để ép chúng hồi tâm nghĩ lại ma thôi.

Tình yêu luôn cứu rỗi, con đừng sợ Cha, con hãy tới sat hơn lòng nhân hậu Cha.

Đau khổ của Cha được chuyển sang cho mọi con cai của Cha.

Dầu sao, con hãy tin rằng Cha vẫn muốn cứu rỗi loai người khốn nạn đã ra hư đốn vì tội lỗi.

Hãy nói điều đó nhân danh Cha: Có những điều không được phép giữ im lặng, để khỏi thiếu sót nặng nề với Tình Yêu luôn van nai.(19/12/1973)