Ngày 30 Tháng 11
Thánh Giuse MARCHAND DU
Linh mục Thừa sai Paris
(1803 - 1835)
Người
Tử Hùng Bá Đao
Trong 117 thánh tử đạo Việt Nam, cuộc tử đạo của Thánh Marchand Du mang màu sắc
bi tráng nhất. Với gần ba tháng trong chiếc cũi chật hẹp, và những cuộc tra tấn
chết đi sống lại, ngài là vị duy nhất bị án bá đao, nghĩa là bị cắt xẻo trăm
nhát trước khi bị chặt ra làm bốn phần, c̣n thủ cấp bị nghiền nát đổ xuống biển.
Tuy nhiên, không nên quá nhấn mạnh đến đau thương trong cuộc tử đạo, mà chúng ta
quên mất những chứng từ đời sống của thánh nhân: sự nhiệt tâm truyền giáo, ḷng
yêu thương các tín hữu và chí cương quyết chỉ phục vụ Tin mừng.
Mộng Ước Tuổi Xuân
Đầu thế kỷ XIX, tại làng Passavant nước Pháp, nhiều người đă phải ngạc nhiên khi
thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy mười tuổi: sau giờ học, cậu rủ các bạn hữu
về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm bàn thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây Thánh
giá, rồi bắt chước các cử điệu như khi linh mục dâng lễ Missa cho các bạn xem.
Đó là cậu Giuse Marchand Du. Mở mắt chào đời ngày 17.8.1803 tại làng Passavant,
tỉnh Doubs. Ngay từ niên thiếu, dân làng đă thấy rơ ước muốn trở thành linh mục
của cậu. Sau khi rước lễ lần đầu, cậu xin cha mẹ đi tu, nhưng v́ gia đ́nh làm
nghề nông túng nghèo, thiếu người lao động, nên cha mẹ cậu t́m cách tŕ hoăn chờ
cậu đổi ư. Tuy nhiên Marchand Du đă không thay đổi ư định, cậu kiên quyết hoàn
thành mộng ước tuổi xuân, và cuối cùng bên người đổi ư lại là song thân của cậu.
Mười tám tuổi, Marchand Du gia nhập chủng viện địa phận Besancon. Năm 1828, sau
khi lănh chức phó tế, thầy Marchand Du xin chuyển sang hội Thừa sai Paris. Độ
nửa năm, thầy được thụ phong linh mục (4.4.1829), sau đó một tháng th́ đáp tàu
qua Macao đến Việt Nam giảng đạo.
Nhà Du Thuyết Nhiệt Tâm
Tháng 3.1830, cha Marchand vào tới Nam Việt, và lấy tên mới là Du. Sau một thời
gian học tiếng và phong tục Việt Nam tại Lái Thiêu, cha Du được gởi tới Phômpênh
để coi sóc các tín hữu Việt Nam tại đây (khi đó vùng đất Campuchia thuộc địa
phận Đàng Trong). Thế rồi ít lâu, cha được gọi về Lái Thiêu coi sóc các chủng
sinh, đồng thời phụ trách hai mươi lăm giáo họ, với khoảng bảy ngàn tín hữu
thuộc tỉnh B́nh Thuận.
Trong thơ đề ngày 13.6.1832 gởi về quê nhà cha viết:
“... hai mươi lăm giáo họ cách nhau rất xa. Muốn chu toàn bổn phận, con không
thể bỏ phí một giây phút nào... Từ năm giờ sáng đến chín giờ tối, nhiều ngày
chẳng có lúc nào rảnh rỗi cả. Con chỉ có thể dành chút thời giờ chu toàn các
việc đạo đức riêng lo cho phần rỗi ḿnh, c̣n th́ luôn luôn phải làm việc để
thánh hóa kẻ khác... Con chỉ tiếc một điều là không thể tận tụy hơn được nữa, để
vừa giúp giáo dân, vừa giúp lương dân, lại c̣n phải bắt buộc phải di chuyển bằng
thuyền, nên không thể đi mọi nơi, hầu dẫn về đoàn chiên Chúa Giêsu những con
chiên bất hạnh lạc đường...”.
Cha Du mới đi hết hai mươi lăm giáo họ này được hai lần, th́ ngày 6.1.1833 vua
Minh Mạng ra chiếu chỉ lùng bắt các giáo sĩ Âu châu. Đức cha Tabert Từ, cha
Cuénot Thể và các thừa sai dẫn theo các chủng sinh trốn qua Thái Lan. Chỉ ḿnh
cha Du nhất quyết ở lại, ẩn tránh ở miền Lục Tỉnh, giúp các họ Cái Nhum, Cái
Mơn, Bài Xan, Giồng Rum, và trú ngụ tại Mặc Bắc, Vĩnh Long.
Tôi Chỉ Biết Một Điều là Giảng Đạo
Lê văn Khôi thực ra có họ Nguyễn, từng nổi loạn ở Cao Bằng, sau ra đầu thú, được
Tả quân Lê văn Duyệt nhận làm con nuôi, mới đổi qua họ Lê (1). Lợi dụng việc vua
Minh Mạng xử tệ với tả quân (khi đó đă thất lộc) cho đánh trên mộ một trăm
trượng, Lê văn Khôi liền lấy cớ pḥ cháu đích tôn của vua Gia Long, con hoàng tử
Cảnh tên là Đản. Việc bại lộ, Khôi bị bắt. Đêm 5.7.1833, ông với khoảng ba mươi
bạn tù vượt ngục, giết một vài quan, thả các tù nhân khác, rồi chiêu binh chiếm
Phiên An (Sàig̣n) và miền Lục Tỉnh.
Lê văn Khôi tuy ngoại đạo, nhưng đă khôn khéo hứa hẹn băi bỏ các lệnh cấm đạo
của vua Minh Mạng, nên một số tín hữu theo ông. Để có thể quy tụ nhiều người
Công giáo hơn ủng hộ ḿnh, Lê văn Khôi cho mời cha Du về Sàig̣n, cha từ chối.
Sau v́ một số tín hữu Chợ Quán nói: “Nếu cha không chịu về, sợ quan giận mà chém
hết bổn đạo trong thành. ở đó bổn đạo cũng đông lắm...”. Thế là cha Du đành ḷng
về xứ Chợ Quán ở nhà thờ cha Phước, nhưng rất ít khi ở nhà, chỉ lo đi thăm các
gia đ́nh tín hữu. Lê văn Khôi nhiều lần mời, cha vẫn không chịu vào trong thành.
Khi quân triều đ́nh bao vây thành Gia Định, Khôi cho quân đem voi ra Chợ Quán
bắt ép cha Du phải vào thành. Cha Phước và nhiều tín hữu cũng theo vô. Trong
thành, hằng ngày, các tín hữu có thể tụ tập ở đó để đọc kinh, nghe giảng và lănh
các bí tích. Khôi có ư mua chuộc để cha tiếp sức nhưng trước sau cha chỉ nói:
“Tôi chỉ biết việc đạo, c̣n nghe giặc giă binh lính, tôi không rành”.
Một hôm cha được mời vào dinh nguyên soái. Một xấp thơ kêu gọi dân chúng và tín
hữu nổi dậy chống nhà vua để trên bàn. Tướng Khôi xin cha kư tên. Vị linh mục
thấy rơ đă đến lúc tỏ rơ lập trường của ḿnh, liền đứng dậy cầm xấp thơ, ném tất
cả vào lửa. Dẫu vậy quân của Khôi không dám làm ǵ cha, v́ sợ các tín hữu trong
đội quân sẽ chống lại.
Sau hơn hai năm vây hăm, ngày 8.9.1835, quân triều đ́nh đă chiếm lại được thành
Phiên An. Cha Du vừa cử hành thánh lễ xong th́ bị bắt, bị đánh đập và nhốt vào
cũi nhỏ, dài một mét, rộng bảy tấc cao tám tấc. Đó sẽ là “nhà ở” của cha cho đến
ngày bị xử tử, căn nhà mà chủ nhân chỉ có thể ngồi khom lưng suốt ngày đêm.
Số người bị tàn sát lên đến 1994, trong đó có sáu mươi sáu tín hữu (chỉ có 26
nam, c̣n bao nhiêu là phụ nữ, trẻ em) cha Phước cũng bị xử lăng tŕ (chặt chân
tay rồi chẻ thân ḿnh làm bốn). Cha Du được đưa ra xét xử:
Giặc đă đem thầy vào thành, thầy không làm ǵ để giúp chúng sao?
Tôi chỉ lo việc giảng đạo mà thôi.
Giảng đạo là giống ǵ?
Là đọc kinh, làm lễ và dạy dỗ bổn đạo.
Thầy có biết làm thuốc mê để dỗ ḷng ngụy cho nó theo không?
Tôi chỉ biết có một việc giảng đạo mà thôi.
Sau hai cuộc tra tấn nữa, cha Du bị giam trong cũi và bị áp giải về kinh đô cùng
với tổng Trắm, đồ Hoành, bốn Bang, phó Nhă con trai Lê văn Khôi là Lê văn Viên
mới bảy tuổi. Đoàn người về tới Phú Xuân ngày 15.10, cha Du bị giam trong ngục
Vơ Lâm gần ṭa Tam Pháp.
Đàng Sau Bản Án Phản Loạn
Hôm sau 16.10, cha Du bị đưa ra ṭa Tam Pháp. Các quan cố ép cha nhận tội giúp
Khôi làm loạn. Nhưng cha khẳng định: “Tôi chỉ lo cầu nguyện cùng Chúa, và làm lễ
lạc thôi”. Quan hạch hỏi:
Có phải ngươi gởi thơ vô Xiêm, cùng gởi thơ cho quân nhân Gia-tô trong Đồng Nai,
biểu họ đến giúp tay ngụy không?
Ông Khôi có biểu tôi viết thơ, song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy hay:
Đạo tôi cấm làm như vậy, và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu thế
ông Khôi c̣n đem mấy bức thư ra, biểu tôi kư tên vào, th́ tôi lấy mấy cái thư ấy
mà đốt đi trước mặt ông ấy”.
Để bắt nhận tội, tối hôm sau, các quan dùng cực h́nh ḱm kẹp: Họ cho nung đỏ ḱm
sắt và cho kẹp hai lần vào hai đùi cha, rồi giữ nguyên cho tới khi ḱm nguội.
Mỗi lần như vậy mùi thịt cháy xông lên khét lẹt, chính quân lính cũng phải quay
mặt đi. Vị anh hùng đức tin hai lần ngất xỉu, nhưng vẫn giữ nguyên lời khai cũ.
Họ đành nhốt cha vào cũi lại, rồi đưa về ngục.
Để tạo chứng gian buộc tội cha, các quan dỗ con trai Lê văn Khôi, hứa trả tự do
nếu khai rằng “ông thầy Tây” giúp cha em khởi nghĩa. Nhưng cậu bé bảy tuổi ấy
không biết nói dối, cậu nói cha Du hoàn toàn vô can, dầu cha cậu có hứa hẹn,
khuyến dụ nhiều lần.
Cuối cùng, các quan đành xoay qua “tội giảng đạo”. Họ nhắc đến chiếu chỉ nhà
vua, và hứa ân xá nếu cha bước qua thánh giá. Cha Du cảm ơn quan và tuyên bố sẵn
sàng chịu cực h́nh, chứ không thể thất trung với Chúa. Họ lại tiếp tục nhốt cha
trong cũi. Sáu tuần lễ ở kinh đô đă trôi qua như thế. Các tín hữu ghé thăm và
tiếp tế cho cha, đều thuật lại rằng: Cha Du vẫn luôn vui vẻ và thường cầm cuốn
sách nhỏ để đọc đêm ngày.
Thừa lệnh vua Minh Mạng, bản án cuối cùng được viết như sau:
“Tây dương Ma Sang kêu là danh Du, Gia-tô đạo trưởng, pḥ ngụy Khôi, nhận tội có
viết thư xin Hồng Mao (nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp ngụy thần. Lệnh
xử bá đao”.
Chết Lư Do Tôn Giáo
Sáng sớm 30.11.1835, bảy phát súng thần công nổ vang kêu gọi mọi người đến tham
dự cuộc xử án. Cha Du, ba vị tướng của Khôi và em Lê văn Viên được đưa ra khỏi
cũi (phó Nhă đă chết trong ngục), mỗi người chỉ được đóng khố, rồi dẫn đến cửa
Ngọ Môn tŕnh diện và phục lạy vua năm lạy. Vua Minh Mạng tỏ vẻ giận dữ ném
chiếc cờ hiệu xuống đất. Đó là dấu không ân xá lần cuối, năm tội nhân được đưa
ra pháp trường. Riêng cha Du, theo mật lệnh, được đưa vào ṭa Tam Pháp tra khảo
một lần nữa. Đọc nội dung cuộc tra khảo này, chúng ta thấy quan quân không đả
động ǵ đến lư do chính trị.
Năm người lính cầm ḱm nung đỏ kẹp vào bắp vế cha. Phía sau là năm người lính
khác cầm roi để năm lư h́nh không được phép nương tay. Ba lần ḱm kẹp, thân thể
cha Du đă có đủ mười lăm vết bỏng. Song song với cuộc tra tấn là mẩu đối thoại
sau:
“Tại sao đạo Giatô móc mắt mấy người gần chết?
Không có, không bao giờ tôi thấy điều đó.
Tại sao mấy người kết hôn lại phải đến các thầy đạo trước bàn thờ?
Họ đến để thầy cả chúc phúc và chứng nhận trước mặt các tín hữu ở đó.
Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bày lắm những sự quái gở lắm phải không?
Không, chẳng hề có những điều quái gở.
Vậy sao có thứ bánh dùng làm bùa mê thuốc lú để phát cho những đứa đă xưng tội
mà làm nó mê đạo đến thế?
...
Cha Du đă kiệt sức không thể trả lời được nữa. Lính dọn cho tử tội bữa ăn sau
cùng, nhưng cha không dùng chi cả, chỉ lo cầu nguyện với Chúa. Sau đó, lính đưa
các tử tội đến pháp trường tại họ Thợ Đúc bên sông Hương cách kinh thành một dặm
đường.
Chết Như Một Tội Nhân
Năm cây cọc đă cắm sẵn. Lính trói năm tử tội, cha Du bị trói vào cây cọc thứ
hai. Ngài bị án “phản loạn” và sẽ chết giữa những người phản loạn. Dân chúng bị
đuổi lùi ra xa ba mươi thước. Cứ mỗi tử tội lại có ba lư h́nh, một cầm ḱm, một
cầm dao, c̣n một lo đếm số cho đủ một trăm lát cắt. Trước đó, lính đă nhét đá
vào miệng tội nhân và cột chặt, để không ai có thể kêu la được nữa.
Sau một hồi trống, lư h́nh cắt lớp da trên trán cha Du lật xuống che mắt, rồi
cắt từng mảnh hai bên ngực sau lưng, tay chân. Quá đau đớn, vị chứng nhân giẫy
giụa, quằn quại, ngước mắt lên trời cao rồi gục đầu xuống nhắm mắt ĺa đời. Tiếp
theo quân lính cắt đầu ngài, cởi giây, bổ thân ḿnh làm bốn, và ném xuống biển
chung với bốn tử tội kia. C̣n thủ cấp cha, được đưa đi bêu tại nhiều nơi, rồi
được trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giă nát và cho rắc xuống biển.
Ngày 30.11.1835 cũng là ngày kính Thánh Anrê. Các thánh lễ hôm đó đều đọc lại
đoạn sách Isaia (Is 52:7): “Đẹp thay bước chân người rao giảng Tin mừng” như lời
chúc tụng vị thừa sai đă hoàn tất sứ mạng tông đồ của ḿnh. Giáo hội đă rất thận
trọng khi nghiên cứu hồ sơ cha Marchand Du. Căn cứ vào các buổi tra khảo, nhất
là cuộc thẩm vấn cuối cùng, giáo hội khẳng định ngài đă hiến mạng sống v́ đức
tin.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đă suy tôn linh mục Marchand Du lên bậc Chân Phước ngày
27.5.1900.
(1): Trần trọng Kim, VN Sử lược, tr. 443.
(2): Diễn biến bị bắt, các lời khai cuộc tử đạo của linh mục Du được hai thừa
sai De La Motte và Marette thuật lại cho thánh bộ truyền giáo trong thơ ngày
29.1 và 21.2.1836, nghĩa là ba tháng sau cuộc tử đạo. Xin coi Annales de la
Propagation de la Foi 1836, tr. 537-585 Đại Nam Thực Lục XI. tr. 243-247 đă sáng
tác những câu trả lời tương ứng với câu hỏi.