SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

Chúa Nhật
Lời Chúa
Bài Ðọc I: Is 58, 7-10
"Sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Này đây Chúa phán: "Hãy chia bánh của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở; nếu ngươi gặp một người trần truồng, hãy cho họ mặc đồ vào, và đừng khinh bỉ xác thịt của ngươi. Như thế, sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông, các vết thương của ngươi sẽ lành nhanh chóng; công lý của ngươi sẽ đi trước mặt ngươi, vinh quang của Chúa sẽ hậu thuẫn cho ngươi. Như thế, ngươi gọi, Chúa sẽ trả lời; ngươi la lên, Chúa sẽ phán: "Này Ta đây". Nếu ngươi loại bỏ khỏi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm doạ, lời nói xấu xa, khi ngươi hy sinh cho người đói rách, và làm cho những người đau khổ được vui thích, thì ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 111, 4-5. 6-7. 8a và 9
Ðáp: Trong u tối người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay (c. 4a).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Trong u tối, người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay, người nhân hậu, từ bi và công chính. Phước đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình. - Ðáp.
2) Cho tới đời đời người sẽ không nao núng: người hiền đức sẽ được ghi nhớ muôn đời. Người không kinh hãi vì nghe tin buồn thảm, lòng người vững vàng cậy trông vào Chúa. - Ðáp.
3) Lòng người kiên nghị, người không kinh hãi, người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, lòng quảng đại của người muôn đời còn mãi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang. - Ðáp.
Bài Ðọc II: 1 Cr 2, 1-5
"Tôi đã công bố cho anh em bằng chứng của Chúa Kitô chịu đóng đinh".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, phần tôi, khi tôi đến với anh em, tôi không đến với uy thế của tài hùng biện hoặc của sự khôn ngoan; tôi đến công bố bằng chứng của Thiên Chúa. Thật vậy, tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em, ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Phần tôi, chính trong sự yếu hèn, sợ hãi và run rẩy mà tôi đã đến với anh em; lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và quyền năng, để đức tin của anh em không dựa vào sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 8, 12
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ta là ánh sáng thế gian; ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống". - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 5, 13-16
"Các con là sự Sáng thế gian".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn sử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó.
"Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời".
Ðó là lời Chúa.

Suy
niệm
"Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ"
- "Việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và quyền năng"
Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật V Thường Niên Năm A hôm nay tiếp tục ngay sau bài Phúc Âm Chúa Nhật IV Thường Niên Năm A, một bài Phúc Âm về Các Phúc Đức Trọn Lành được Chúa Giêsu chỉ dạy riêng cho các môn đệ thân tín của Người, để các vị có thể "giảng dạy cho họ tất cả những gì Thày đã truyền dạy các con" (Mathêu 28:20), trước hết bằng đời sống chứng nhân của các vị, như "ánh sáng" chiếu tỏa trên "thế gian yêu tối tăm hơn ánh sáng" (Gioan 3:19) này.
Đúng thế, nội dung của những lời Chúa Giêsu tiếp tục dạy cho các môn đệ của Người trong bài Phúc Âm hôm nay (5:13-16) đã cho thấy rõ ý hướng của Người, như câu mở đầu của bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước, tỏ lộ, ở chỗ Người dạy riêng cho các môn đệ nhưng nhắm đến lợi ích chung dân chúng và riêng đoàn chiên của các vị sau này: "Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng...".
Đó là lý do Người đã khẳng định với các môn đệ của Người ngay lời mở đầu như thế này: "Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn xử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó. Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời".
Chúa Giêsu đã ví các môn đệ của Người như "muối đất" và như "ánh sáng thế gian". Tại sao Người không đề cập đến "ánh sáng thế gian" trước mà là "muối đất" trước. Phải chăng Người có ý nói đến 2 phương diện tối yếu bất khả thiếu và bất khả phân ly của thành phần môn đệ được Người tuyển chọn, đó là phương diện "muối" là nội tâm (cần phải có trước) và phương diện "ánh sáng" là làm chứng (thành quả tất yếu đến sau)?
Đúng vậy, nếu một người tông đồ mà không có đời sống nội tâm sâu xa mặn mà như "muối đất", trái lại, nội tâm của họ hết sức nông cạn, hời hợt, sống theo tình cảm, đầy ắp kiến thức suông, mang tâm tình tự phụ tự mãn v.v., chẳng kết hợp với Chúa Kitô và theo tác động thần linh của Chúa Thánh Thần, thì làm sao họ có thể có cùng một tâm tưởng của Chúa Kitô, có những lời nói sưởi ấm lòng người như Chúa Kitô, có những tác hành và phản ứng nhân ái yêu thương với Chúa Kitô, và vì thế họ không thể nào làm chứng cho Người theo đúng như ơn gọi và sứ vụ chuyên biệt trổi vượt cao cả của họ như "một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được nữa".
Chính vì ý thức được thâm sâu những gì Chúa Giêsu truyền dạy như thế mà Giáo Hội, qua Công Đồng Chung Vaticanô II (11/10/1962 - 8/12/1965), đã khẳng định về căn tính và sứ vụ chính yếu bất khả thiếu của mình là "Ánh Sáng Chư Dân - Lumen Gentium", nhan đề của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, một căn tính và sứ vụ chiếu soi muôn dân, sứ vụ làm chứng cho Chúa Kitô: "Tự bản chất, Giáo Hội lữ hành là truyền giáo" (Công Đồng Chung Vaticanô II - Sắc Lệnh 'Ad Gentes - Cho Chư Dân' về Việc Truyền Giáo của Giáo Hội - đoạn 2).
"Các con là ánh sáng" trở thành căn tính chính yếu và sứ vụ bất khả thiếu của các tông đồ trong Bài Phúc Âm hôm nay chỉ có thể trở thành hiện thực nơi từng vị tông đồ nói riêng và nơi thành phần môn đệ của Người nói chung nếu trước hết và trên hết họ không trở thành "muối đất". Đó là lý do Chúa Giêsu đã, theo thứ tự giáo huấn của Người, bảo các vị "là muối đất" trước khi "là ánh sáng thế gian". Nghĩa là, nếu "ánh sáng thế gian" ám chỉ sứ vụ làm chứng và truyền giáo của các vị, của Giáo Hội trước thế giới, thì "muối đất" ám chỉ đời sống nội tâm và bỏ mình khổ chế của các vị, nhất là việc các vị cần phải hy sinh đến bồi cho thế gian. Bởi vậy, nếu các vị không có một đời sống nội tâm như "muối đất" như thế làm sao các vị có thể trở thành "ánh sáng thế gian", hay ngược lại, làm cho thế gian càng ung thối hơn bởi gương mù gương xấu của các vị, như thành phần "phản kitô".
Chính vì chiều hướng "muối đất" và "ánh sáng thế gian" liên quan đến phần rỗi của nhân gian, đến đức ái trọn hảo như thế mà Bài Đọc 1 hôm nay cũng đã cho thấy ý nghĩa sâu xa của "ánh sáng" cần phải chiếu tỏa nhờ đức bác ái của những ai sống công chính như sau:
"Hãy chia bánh của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở; nếu ngươi gặp một người trần truồng, hãy cho họ mặc đồ vào, và đừng khinh bỉ xác thịt của ngươi. Như thế, sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông, các vết thương của ngươi sẽ lành nhanh chóng; công lý của ngươi sẽ đi trước mặt ngươi, vinh quang của Chúa sẽ hậu thuẫn cho ngươi.... Nếu ngươi loại bỏ khỏi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm doạ, lời nói xấu xa, khi ngươi hy sinh cho người đói rách, và làm cho những người đau khổ được vui thích, thì ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày".
Bài Đáp Ca hôm nay cũng theo chiều hướng "ánh sáng" yêu thương của Bài Đọc 1 như sau: "Trong u tối, người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay, người nhân hậu, từ bi và công chính. Phước đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình" (câu 1), và "Lòng người kiên nghị, người không kinh hãi, người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, lòng quảng đại của người muôn đời còn mãi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang" (câu 2).
"Các con là ánh sáng thế gian", như Chúa Kitô khẳng định về căn tính của thành phần môn đệ tông đồ của Người, đã được thực sự thể hiện rạng ngời nơi một vị tông đồ được chính Người sai đi như "Ta sẽ làm cho con trở thành ánh sáng chư dân để mang ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 13:47), đó là vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, một vị tông đồ đã sống ơn gọi và sứ vụ là "ánh sáng chư dân" của mình như chính ngài tỏ lộ ở Bài Đọc 2 hôm nay như sau:
"Anh em thân mến, phần tôi, khi tôi đến với anh em, tôi không đến với uy thế của tài hùng biện hoặc của sự khôn ngoan; tôi đến công bố bằng chứng của Thiên Chúa. Thật vậy, tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em, ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Phần tôi, chính trong sự yếu hèn, sợ hãi và run rẩy mà tôi đã đến với anh em; lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và quyền năng, để đức tin của anh em không dựa vào sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa".
Trong huấn từ Truyền Tin Chúa Nhật V Thường niên ngày mùng 9/2/2014, ĐTC Phanxicô đã đề cập và áp dụng Lời Chúa khẳng định về vai trò của các môn đệ được Người tuyển chọn 'là muối đất... là ánh sáng thế gian' như sau:
"Trong đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, ngay sau các Phúc Đức Trọn Lành, Chúa Giêsu nói cùng các môn đệ của Người rằng: 'Các con là muối đất... Các con là ánh sáng thế gian' (Mt 5:13-14). Điều này khiến chúng ta hơi lạ lùng một chút khi chúng ta nghĩ đến những ai bấy giờ ở trước mặt Chúa Giêsu khi Người nói những lời ấy. Thành phần môn đệ ấy là những ai? Họ là thành phần đánh cá, là thành phần đơn sơ chất phác... Thế nhưng, Chúa Giêsu nhìn họ bằng con mắt của Thiên Chúa, và chủ trương của Người có thể hiểu được một cách chính xác như là thành quả của các Phúc Đức Trọn Lành. Người muốn nói rằng: Nếu các con nghèo khó trong tinh thần, nếu các con hiền lành, nếu các con tinh tuyền trong lòng, nếu các con từ bi thương xót... các con sẽ là muối đất và là ánh sáng thế gian!
"... Chúng ta, những Kitô hữu đã chịu Phép Rửa, là thành phần môn đệ thừa sai và chúng ta được kêu gọi để trở nên một Phúc Âm sống động trên thế giới này: bằng một đời sống thánh thiện, chúng ta sẽ 'ướp' các môi trường khác nhau và bênh vực chúng khỏi bị băng rữa như muối gây tác dụng vậy; và chúng ta sẽ mang ánh sáng của Chúa Kitô bằng chứng từ bác ái chân thực..... Kitô hữu cần phải là một con người sáng ngời, một con người cưu mang ánh sáng, một con người luôn tỏa sáng! Một thứ ánh sáng không phải của họ mà là tặng ân từ Thiên Chúa, một tặng ân từ Chúa Giêsu. Chúng ta chất chứa ánh sáng ấy. Nếu Kitô hữu làm tắt lịm ánh sáng này thì đời sống của họ vô nghĩa: họ là một Kitô hữu chỉ có tên mà thôi, một con người không chất chứa ánh sáng; đời sống của họ vô nghĩa. Giờ đây tôi muốn hỏi anh chị em rằng anh chị em muốn sống ra sao nhé? Như một cây đèn bừng cháy hay một cây đền không cháy? Cháy hay không? Anh chị em muốn sống ra sao đây? [Dân chúng đáp lại: Bừng cháy!] Như các cây đèn cháy sáng! Thực sự là Thiên Chúa đã ban cho chúng ta ánh sáng này và chúng ta cần phải cống hiến nó cho những người khác. Đó là ơn gọi của Kitô hữu vậy."
http://w2.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2014/documents/papa-francesco_angelus_20140209.html
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh,
BVL chuyển dịch
Thứ Hai
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) 1
V 8, 1-7. 9-13
"Họ mang hòm bia Thiên Chúa vào nơi Cực Thánh, và mây bao phủ nhà Chúa".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, các kỳ lão Israel, cùng những thủ lãnh các chi họ và
những trưởng gia tộc con cái Israel đều tề tựu trước mặt vua tại Giêrusalem,
để cung nghinh hòm bia Thiên Chúa từ thành Ðavít, tức là thành Sion. Trong
ngày đại lễ, nhằm tháng Ethanim, tức tháng bảy, toàn dân Israel tụ họp quanh
vua Salomon. Khi các kỳ lão Israel đến, các tư tế liền khiêng hòm bia, và
mang hòm bia Chúa đi, mang cả nhà tạm giao ước và tất cả những đồ thánh
trong nhà tạm; các tư tế và các thầy Lêvi phụ trách khiêng đi.
Vua Salomon và toàn dân Israel tề tựu quanh ngài, tiến đi với ngài trước hòm
bia, và tế lễ vô số chiên bò không kể xiết. Các tư tế khiêng hòm bia Thiên
Chúa đặt vào nơi đã chỉ định tại đền thờ, nơi cực thánh, dưới cánh các tượng
vệ binh thần. Các tượng này giang cánh trên nơi để hòm bia, và che phủ hòm
bia và các đòn khiêng. Trong hòm bia không có gì khác ngoài hai bia đá mà
Môsê đã đặt vào hòm ở núi Horeb, lúc Chúa lập giao ước với con cái Israel
khi họ ra khỏi đất Ai-cập. Khi các tư tế lui ra khỏi cung thánh, thì có mây
bao phủ nhà Chúa. Vì mây mù, nên các tư tế không thể đứng đó mà thi hành
chức vụ: vì vinh quang của Chúa tràn đầy nhà Chúa. Bấy giờ Salomon nói rằng:
"Chúa đã từng phán sẽ ngự trong đám mây. Vậy tôi đã xây cất ngôi nhà làm nơi
ở cho Chúa, một nơi vững chắc Chúa ngự đến muôi đời".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 131, 6-7. 8-10
Ðáp: Lạy
Chúa, xin lên đường đi tới nơi an nghỉ (c. 8a).
Xướng: 1) Ðây là điều chúng tôi đã nghe nói tại Ephrata, chúng tôi đã gặp
thấy nơi đồng ruộng Gia-ar. Chúng ta hãy tiến vào nhà Chúa, hãy sụp lạy
trước bệ dưới chân Ngài. - Ðáp.
2) Lạy Chúa, xin lên đường đi tới nơi an nghỉ, Chúa và Hòm Bia oai quyền của
Chúa cùng đi! Các tư tế của Ngài hãy mặc lấy lòng đạo đức, và các tín đồ của
Ngài hãy mừng rỡ hân hoan. Xin vì Ðavít là tôi tớ Chúa, Chúa đừng hắt hủi
người được Chúa xức dầu. - Ðáp.
Alleluia: Ga 14, 5
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống,
không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 6, 53-56
"Tất cả những ai chạm tới Người, đều được khỏi bệnh".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ qua biển rồi, các ngài tới miền Giênêsarét
và ghé bến. Các ngài lên khỏi thuyền, tức thì người ta nhận ra Người, họ
liền rảo chạy khắp miền, và nghe tin Người ở đâu thì khiêng những người đau
yếu nằm trên chõng đến đó. Bất cứ Người vào làng trại hay đô thị nào, người
ta cũng đặt các bệnh nhân ở các nơi công cộng và xin Người cho họ ít là được
chạm tới gấu áo Người, và tất cả những ai chạm tới Người, đều được khỏi
bệnh.
Ðó là lời Chúa.


Suy nghiệm Lời Chúa
Đức Kitô Thần Lực
Hôm nay, Thứ Hai Tuần V Thường Niên, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh kéo dài tới Thứ Tư Lễ Tro mở đầu Mùa Chay hằng năm, lại càng rõ nét hơn bao giờ hết nơi Bài Phúc Âm hôm nay, một bài phúc âm được Thánh ký Marco thuật lại về quyền năng chữa lành của Người như sau:
"Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ qua biển rồi, các ngài tới miền
Giênêsarét và ghé bến. Các ngài lên khỏi thuyền, tức thì người ta nhận
ra Người, họ liền rảo chạy khắp miền, và nghe tin Người ở đâu thì khiêng
những người đau yếu nằm trên chõng đến đó. Bất cứ Người vào làng trại
hay đô thị nào, người ta cũng đặt các bệnh nhân ở các nơi công cộng và
xin Người cho họ ít là được chạm tới gấu áo Người, và tất cả những ai
chạm tới Người, đều được khỏi bệnh".
Thật vậy, cảnh tượng được Bài Phúc Âm hôm nay trình thuật đã làm cho chúng ta thấy được hình ảnh đáng thương của thành phần dân chúng đau khổ bởi tật nguyền bệnh nạn cần được chữa lành luôn sống trong hy vọng, đợi chờ và tìm kiếm Đấng Cứu Tinh của mình: "nghe tin Người ở đâu thì khiêng những người đau yếu nằm trên chõng đến đó. Bất cứ Người vào làng trại hay đô thị nào, người ta cũng đặt các bệnh nhân ở các nơi công cộng".
Bài Phúc Âm hôm nay còn cho thấy cả hình ảnh chính yếu về một Đấng Cứu Thế đầy quyền lực, đến độ Người không cần trực tiếp giơ tay đụng đến bất cứ một bệnh nhân hay một người bị tật nguyền nào, thế mà họ vẫn được chữa lành, chỉ cần họ tin tưởng sờ đến gấu áo của Người (chứ không phải hay không cần chạm đến thân xác của Người) là đủ: "tất cả những ai chạm tới Người, đều được khỏi bệnh".
Hiện tượng chữa lành hay được chữa lành kiểu mới, hoàn toàn không theo truyền thống này, xuất phát từ sáng kiến và hành động đầy đức tin của người đàn bà bị bệnh loạn huyết 12 năm ở bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước, một người đàn bà đã được Chúa Giêsu có ý công khai hóa việc bà làm giữa một đám thật đông đang chen nhau theo Người lúc ấy. Biết được cái mẹo vặt mà tuyệt này, dân chúng bảo nhau làm, vừa giản tiện vừa mau chóng nữa, giúp cho chính Chúa Giêsu cũng có thể nhờ đó chữa lành nhiều người trong một thời gian ngắn.
Hiện tượng chữa lành như trong bài Phúc Âm hôm nay còn xẩy ra cả ở nơi Thánh Tông Đồ Phêrô nữa, như Sách Tông Vụ thuật lại ở đoạn 5 câu 15-16, một vị thánh có một thần lực đến độ cả đến bóng của ngài đi ngang qua phủ trên ai thì người ấy được chữa lành, một thần lực bề ngoài có thể hơn cả chính bản thân Chúa Kitô, Đấng đã khẳng định trước với các môn đệ ở Bữa Tiệc Ly rằng "ai tin vào Thày ... họ sẽ làm được những việc lớn lao hơn những gì Thày làm, vì Thày về cùng Cha" (Gioan 14:12).
Đúng thế, cho dù thành phần tật nguyện bệnh hoạn không cần sờ đến gấu áo của Thánh Phêrô, như gấu áo của Chúa Kitô, mà chỉ cần được bóng của ngài thoáng qua thôi đã được chữa lành, thì thần lực xuất phát từ ngài cũng không phải tự ngài và của ngài, mà là bởi Chúa Kitô ở trong ngài, như cây nho thông nhựa sống của mình cho cành nho, nhờ đó và vì thế chỉ có cành nho (là các môn đệ của Người) mới sinh trái và mới có thể sinh hoa kết quả, chứ hoa trái không bao giờ xuất phát từ chính thân nho (là Chúa Kitô).
Vấn đề chính yếu ở đây có thể chứng thực Đức Giêsu Nazarét là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" là thần lực của Người và là thần lực từ Người xuất phát, ngoài ra không bao giờ có một con người thuần túy nào ở trên đời này như Người, có thể chữa lành cho con người ta, không phải chỉ bằng cách trực tiếp đặt tay, đụng chạm đến con người cần được chữa lành, mà chỉ cần bằng gấu áo của Người, thậm chí còn qua cả thành phần môn đệ trung gian của Người sau này nữa.
Cách thức chữa lành bằng gấu áo và qua trung gian môn đệ như thế là hình bóng tiên báo về bản chất thần linh cùng tác dụng thần linh nơi các Bí Tích của Chúa Giêsu, những khí cụ thần linh được Người thiết lập để tiếp tục hiện diện với Giáo Hội cho đến tận thế, và qua thừa tác vụ của Giáo Hội trong việc cử hành cùng ban phát các Bí Tích Thánh bởi các thừa tác viên thực hiện hay ban phát nhân danh Người và thay thế Người, Người tiếp tục chữa lành cho chung nhân loại và riêng đàn chiên của Người, đến độ chính Giáo Hội đã trở thành bí tích cứu độ của Người và cho Người (xem Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 1).
Thế nhưng, về phần người được chữa lành hay muốn được chữa lành thì vấn đề quan trọng và then chốt đối với họ là tin tưởng. Bằng không, cho dù Chúa Kitô có thần lực đến đâu chăng nữa, Người cũng chẳng có tác dụng thần linh gì nơi họ, dù họ có tật nguyện bệnh nạn về cả phần xác lẫn phần hồn đáng thương đến đâu chăng nữa.
Như thế không phải là thần lực của Chúa Giêsu có giới hạn và bị bất lực trước những ai không chấp nhận Người, và do đó Người không làm gì được họ, cho dù Người hết sức muốn thông ban và cứu độ, trái lại, chính đương sự tự vô hiệu hóa thần lực cứu độ vô cùng linh hiệu của Người nơi bản thân của họ, và chính bản thân họ cũng chứng thực là thần lực chữa lành của Người chỉ giành cho người nào xứng đáng lãnh nhận mà thôi, một thứ vô cùng quí báu của Người như thế không thể nào lấy quẳng cho loài chó hay loài heo dơ bẩn (xem Mathêu 7:6).
Nếu gấu áo của Chúa Kitô có thể chữa lành thì có nghĩa là những gì được đụng chạm đến Người đều có sức chữa lành (xem 1Gioan 1:1-2). Đó là lý do những ai gặp gỡ Chúa Kitô không thể nào không trở thành chứng nhân của Người và cho Người, như 2 môn đệ của tiền hô Gioan tẩy Giả (xem Gioan 1:35-50). Vậy Kitô hữu chúng ta quả thực đã được đụng chạm đến Thánh Thể của Ngưòi khi cử hành Thánh Lễ, thậm chí được nên một với Người khi hiệp lễ. Nhưng thử hỏi chúng ta đã có sức chữa lành hay chăng? Ở chỗ những ai giao tiếp với chúng ta có nhận ra Chúa Kitô nơi chúng ta chăng, hay trái lại, họ chỉ thấy toàn là những gì phản kitô nơi chúng ta, ở những thái độ ghen ghét hận thù, nói hành nói xấu, gian dối lừa đảo, vị kỷ chấp nhất v.v.
Chính hoa trái chứng từ của chúng ta tới đâu cho chúng ta biết mức độ chúng ta đã hiệp thông thần linh có thật hay chăng và tới đâu! Tuy nhiên, cho dù chúng ta có còn đầy những gì là phản kitô như thế, mà vẫn tỏ ra biết mình, với tất cả thiện chí ăn năn thống hối của chúng ta, thì cũng cho thấy LTXC đã chạm đến chúng ta, nhờ đó chúng ta, bằng chính bản chất yếu hèn của mình, có thể trở thành nhân chứng cho tình yêu vô cùng nhân hậu của Người, như người đàn bà Samaritanô ở bờ giếng Giacop (xem Gioan đoạn 4).
Nếu Dân Tân Ước là Giáo Hội có các Bí Tích Thánh nói chung và Thánh Thể nói riêng là một thực tại hiện diện thần linh của Chúa Kitô giữa đàn chiên của Người như thế nào, thì Dân Cựu Ước là Do Thái cũng có Hòm Bia nói chung và chính Hai Bia Đá nói riêng như một biểu hiệu cho hiện diện thần linh của Thiên Chúa nơi họ như vậy.
Bài Đọc I cho Năm Chẵn hôm nay được trích từ Sách Các Vua quyển 1 thuật lại biến cố từ vua (Solomon) đến dân bấy giờ long trọng nghênh đón Hòm Bia, được các vị tư tế chuyên lo việc thờ phượng trong dân (như các vị thừa tác thánh chức trong Giáo Hội từ đầu tới mãi mãi), khiêng từ Nhà tạm vào Đền Thánh Giêrusalem như sau:
"Vua Salomon và toàn dân Israel tề tựu quanh ngài, tiến đi với ngài trước hòm bia, và tế lễ vô số chiên bò không kể xiết. Các tư tế khiêng hòm bia Thiên Chúa đặt vào nơi đã chỉ định tại đền thờ, nơi cực thánh, dưới cánh các tượng vệ binh thần. Các tượng này giang cánh trên nơi để hòm bia, và che phủ hòm bia và các đòn khiêng. Trong hòm bia không có gì khác ngoài hai bia đá mà Môsê đã đặt vào hòm ở núi Horeb, lúc Chúa lập giao ước với con cái Israel khi họ ra khỏi đất Ai-cập. Khi các tư tế lui ra khỏi cung thánh, thì có mây bao phủ nhà Chúa. Vì mây mù, nên các tư tế không thể đứng đó mà thi hành chức vụ: vì vinh quang của Chúa tràn đầy nhà Chúa. Bấy giờ Salomon nói rằng: 'Chúa đã từng phán sẽ ngự trong đám mây. Vậy tôi đã xây cất ngôi nhà làm nơi ở cho Chúa, một nơi vững chắc Chúa ngự đến muôi đời'".
Hòm Bia Cựu Ước quả thực là biểu hiện cho sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa giữa dân Ngài, bởi thế, Hòm Bia ở đâu Thiên Chúa hiện diện ở đó, như trong Bài Đọc 1 cho thấy: "Khi các tư tế lui ra khỏi cung thánh, thì có mây bao phủ nhà Chúa. Vì mây mù, nên các tư tế không thể đứng đó mà thi hành chức vụ: vì vinh quang của Chúa tràn đầy nhà Chúa".
Hình ảnh "mây bao phủ" vẫn được Thánh Kinh Cựu Ước sử dụng liên quan đến sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa có thể ám chỉ Thánh Thần, "Quyền Năng của Đấng Tối Cao sẽ bao phủ cô" (xem Luca 1:35). Bởi thế theo niềm tin của mình, Giáo Hội vẫn liên kết Thánh Linh với Đền Thờ Thiên Chúa là nơi Thiên Chúa ngự trị.
Trong Bài Đọc 1 hôm nay, chính Vua Solomon, khi chứng kiến thấy "có mây bao phủ nhà Chúa" và thấy "vinh quang của Chúa tràn đầy nhà Chúa" như thế, vua cũng đã bày tỏ niềm tin của mình rằng: "Chúa đã từng phán sẽ ngự trong đám mây. Vậy tôi đã xây cất ngôi nhà làm nơi ở cho Chúa, một nơi vững chắc Chúa ngự đến muôi đời".
Bài Đáp Ca hôm nay cũng liên kết Thiên Chúa với Hòm Bia của Ngài, mà còn nhấn mạnh đến vai trò của các vị tư tế là thành phần trực tiếp đến phụng vụ thần linh:
1) Ðây là điều chúng tôi đã nghe nói tại Ephrata, chúng tôi đã gặp thấy nơi đồng ruộng Gia-ar. Chúng ta hãy tiến vào nhà Chúa, hãy sụp lạy trước bệ dưới chân Ngài.
2) Lạy Chúa, xin lên đường đi tới nơi an nghỉ, Chúa và Hòm Bia oai quyền của Chúa cùng đi! Các tư tế của Ngài hãy mặc lấy lòng đạo đức, và các tín đồ của Ngài hãy mừng rỡ hân hoan. Xin vì Ðavít là tôi tớ Chúa, Chúa đừng hắt hủi người được Chúa xức dầu.
Thứ Ba
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) 1
V 8, 22-23. 27-30
"Chúa đã phán: "Danh Ta sẽ ở nơi đó, để nhậm lời van nài của dân Israel".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Salomon đứng trước bàn thờ Chúa, đối diện với cộng đoàn
Israel, ông giơ hai tay lên trời và nguyện rằng: "Lạy Chúa là Thiên Chúa
Israel, trên trời dưới đất, không có thần nào giống như Chúa. Chúa giữ lời
giao ước và lòng từ bi đối với các tôi tớ đang thành tâm đi trước mặt Chúa.
Nhưng ai dám nghĩ rằng: quả thật Thiên Chúa ngự ở trần gian? Vì nếu trời và
các tầng trời còn không thể chứa được Chúa, huống chi ngôi nhà con xây cất
đây! Nhưng lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin đoái nghe lời cầu nguyện và
sự van nài của tôi tớ Chúa; xin lắng nghe lời ca khen và kinh nguyện mà tôi
tớ Chúa dâng lên trước mặt Chúa hôm nay, ngõ hầu đêm ngày mắt Chúa nhìn xem
ngôi nhà này là nơi Chúa đã phán 'Danh Ta sẽ ở nơi đó', để nghe lời cầu
nguyện mà tôi tớ Chúa kêu xin trong nơi này, để nhậm lời van nài của tôi tớ
Chúa và của dân Israel sẽ cầu nguyện tại nơi đây. Từ thiên cung nơi Chúa
ngự, xin Chúa nhậm lời, và khi đã nhậm lời, xin Chúa dủ lòng thương".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 83, 3. 4. 5 và 10. 11
Ðáp: Lạy
Chúa thiên binh, khả ái thay cung điện của Chúa (c. 2).
Xướng: 1) Linh hồn tôi khát khao và mòn mỏi, mong vào hành lang nhà Ðức
Thiên Chúa. Tâm thần và thể xác tôi hoan hỉ tìm đến cùng Thiên Chúa trường
sinh. - Ðáp.
2) Ðến như chim sẻ còn kiếm được nhà, và chim nhạn tìm ra tổ ấm, để làm nơi
ấp ủ con mình, cạnh bàn thờ Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa thiên binh, Ôi Ðại
Vương và Thiên Chúa của con. - Ðáp.
3) Ôi Thiên Chúa, phúc đức ai ngụ nơi nhà Chúa: họ sẽ khen ngợi Chúa tới
muôn đời. Thuẫn đỡ cho chúng con, xin hãy nhìn xem, lạy Thiên Chúa, xin hãy
đoái nhìn mặt Ðức Kitô của Người. - Ðáp.
4) Thực, một ngày sống trong hành lang nhà Chúa, đáng quý hơn ngàn ngày ở
nơi đâu khác. Con ưa đứng nơi ngưỡng cửa nhà Chúa con, hơn là cư ngụ trong
lều bọn ác nhân. - Ðáp.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy
sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 7, 1-13
"Các ngươi gác bỏ một bên các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục phàm
nhân".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, những người biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem tụ tập lại bên
Chúa Giêsu, và họ thấy vài môn đệ Người dùng bữa với những bàn tay không
tinh sạch, nghĩa là không rửa trước. Vì theo đúng tập tục của tiền nhân,
những người biệt phái và mọi người Do-thái không dùng bữa mà không rửa tay
trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Họ
còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng. Vậy
những người biệt phái và luật sĩ hỏi Người: "Sao môn đệ ông không giữ tập
tục của tiền nhân mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch?" Người
đáp: "Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi,
như lời chép rằng: "Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa
Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật
lệ loài người". Vì các ngươi bỏ qua các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập
tục loài người: rửa bình, rửa chén và làm nhiều điều như vậy". Và Người bảo:
"Các ngươi đã khéo bỏ giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục của các ngươi.
Thật vậy, Môsê đã nói: "Hãy thảo kính cha mẹ", và "ai rủa cha mẹ, sẽ phải xử
tử". Còn các ngươi thì lại bảo: "Nếu ai nói với cha mẹ mình rằng: Những của
tôi có thể giúp cha mẹ được là Corban rồi (nghĩa là của dâng cho Chúa)", và
các ngươi không để cho kẻ ấy giúp gì cho cha mẹ nữa. Như thế các ngươi huỷ
bỏ lời Chúa bằng những tập tục truyền lại cho nhau. Và các ngươi còn làm
nhiều điều khác giống như thế".
Ðó là lời Chúa.

Suy nghiệm Lời Chúa
Đức Kitô Dạy Luật
Hôm nay, Thứ Ba Tuần V Thường Niên, Bài Phúc Âm vẫn tiếp tục chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh kéo dài tới Thứ Tư Lễ Tro mở đầu Mùa Chay hằng năm.
Nếu trong Bài Phúc Âm hôm qua, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" tỏ mình ra, đúng hơn, thông mình ra, hay thông ban ân sủng của mình ra qua việc chữa lành bệnh nạn tật nguyền, thậm chí bằng cả gấu áo của Người cho những ai tin tưởng chạm đến gấu áo ấy, thì trong Bài Phúc Âm hôm nay, Người tỏ mình ra "là chân lý" (Gioan 14:6), Người thông ban chân lý của Người và từ Người ra cho những ai mù quáng, hay nói cách khác, Người mang chân lý đến cho những ai về tâm linh cần được chữa lành cái vô thức hay mù quáng của họ, như những người bị bệnh nạn tật nguyền về phần xác cần được Người chữa lành về thể lý vậy.
Thật thế, thành phần mù quáng về tâm linh cần được "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" chữa lành cho đó là "những người biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem", tức là thành phần giữ luật, thông luật và dạy luật thuộc loại thế giá, thế lực, thuộc loại chính qui, chính gốc, bởi họ có dính dáng tới giáo đô "Giêrusalem", như thể các vị giáo sĩ ở các nước Công giáo trên khắp thế giới ngoài Âu Châu và Tây phương, như ở Á Châu hay Phi Châu hoặc Mỹ Châu Latinh có bằng cấp ở Giáo đô Roma vậy.
Thành phần biệt phái và luật sĩ thuộc loại chính hiệu "made in Jerusalem" này đã bị khuyết tật hay bị mắc tật nguyền bẩm sinh di truyền mù quáng này ở chỗ nào, nếu không phải ở chỗ đúng như lời Chúa Giêsu nhận định và khiển trách họ trong bài Phúc Âm hôm nay:
"Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người".
Phải, cái tật nguyền mù quáng của họ là ở chỗ "giả hình", bôi bác ngoài "môi miệng" chứ không thật "lòng", sống một cuộc đời "giả dối", ở chỗ "dạy những giáo lý và những luật lệ loài người", như những gì được Thánh ký Marco liệt kê trong Bài Phúc Âm hôm nay: "không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng".
Đáng lẽ, nếu thực sự xứng danh là thành phần thông luật thì họ phải nắm bắt được tất cả sự thật của luật và về luật, liên quan đến mục đích của luật và tinh thần của luật, từ đó họ mới có thể dạy luật cho dân chúng hiểu mà theo, để cả họ lẫn dân đều giữ luật đúng với những gì Thiên Chúa là Đấng ban luật qua Moisen mong muốn.
Đằng này, chính vì họ coi trọng loài người hơn Thiên Chúa, hay nói ngược lại, coi Thiên Chúa không bằng loài người, coi giá trị nhân bản cao hơn giá trị thần linh, như chính Chúa Giêsu nhận định "các ngươi bỏ qua các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người: rửa bình, rửa chén và làm nhiều điều như vậy", mà họ đã giảng dạy một cách sai lầm, điển hình là họ đã dạy sai lạc điều răn thảo kính cha mẹ trong 10 Điều Răn Chúa dạy, như Chúa Giêsu đã vạch ra cho họ thấy trong Bài Phúc Âm hôm nay:
"Thật vậy, Môsê đã nói: 'Hãy thảo kính cha mẹ', và 'ai rủa cha mẹ, sẽ phải xử tử'. Còn các ngươi thì lại bảo: 'Nếu ai nói với cha mẹ mình rằng: Những của tôi có thể giúp cha mẹ được là Corban rồi (nghĩa là của dâng cho Chúa)', và các ngươi không để cho kẻ ấy giúp gì cho cha mẹ nữa. Như thế các ngươi hủy bỏ lời Chúa bằng những tập tục truyền lại cho nhau. Và các ngươi còn làm nhiều điều khác giống như thế".
Sở dĩ thành phần chính hiệu Giêrusalem biệt phái và luật sĩ thông luật trong bài Phúc Âm hôm nay bị Chúa Giêsu vạch trần bộ mặt giả hình và lối sống giả dối của họ ra như vậy là vì họ đã dẫn giải sai ý nghĩa của lề luật liên quan đến ý của Đấng ban lề luật cho con người, và những dẫn giải của họ hoàn toàn theo khuynh hướng tự nhiên muốn sống hưởng thụ và dễ chịu hơn là hy sinh và chịu khó, kể cả đối với những bậc sinh thành dưỡng dục họ.
Hiện tượng và tình trạng thiên lệch đầy chủ quan và vị kỷ này của "những người biệt phái và luật sĩ từ Giêrusalem" này cũng không có gì là khó hiểu, bởi vì một khi họ coi nhẹ Thiên Chúa, coi luật của Ngài không bằng tục lệ loài người, thì cha mẹ loài người của họ cũng đâu có giá trị gì đối với họ mấy nữa.
Và như thế, ở một nghĩa nào đó, họ đã lấy họ làm cùng đích, khi họ coi luật lệ của Thiên Chúa chỉ là phương tiện để họ hưởng thụ, ở chỗ, một đàng bề ngoài họ có vẻ tuân thủ kỹ lưỡng lề luật đấy, nhưng về tinh thần họ lại tuân thủ lề luật một cách chủ quan, nghĩa là, việc họ giữ luật là đường lối tinh ranh để họ có thể nhờ đó thỏa mãn ý riêng của họ một cách chính đáng, và như thế và nhờ thế họ mới có thể làm chủ lề luật, thay thế vị trí của chính Đấng lập luật và ban luật cho họ.
Vua Solomon trong Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay đã cảm nhận rất chí lý trong lời vua nguyện cầu dâng lên Thiên Chúa: "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel, trên trời dưới đất, không có thần nào giống như Chúa. Chúa giữ lời giao ước và lòng từ bi đối với các tôi tớ đang thành tâm đi trước mặt Chúa. Nhưng ai dám nghĩ rằng: quả thật Thiên Chúa ngự ở trần gian? Vì nếu trời và các tầng trời còn không thể chứa được Chúa, huống chi ngôi nhà con xây cất đây!"
Đúng vậy, trước hết, chính vì "trên trời dưới đất, không có thần nào giống như Chúa", nên loài người nói chung, nhất là dân Chúa là thành phần được Ngài tỏ mình ra cho dọc suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, bao gồm cả việc Ngài ban lề luật của Ngài cho họ, chẳng những không được theo một tà thần nào khác, mà còn không được tạo nên các thứ ngẫu tượng của mình thay thế Ngài, hay nói ngược lại, không được nhân tạo hóa Thiên Chúa là Đấng đã tỏ mình ra theo ý nghĩ chủ quan nông cạn của họ, điển hình là khuynh hướng dẫn giải lề luật của Ngài hoàn toàn thuần nhân bản như trong Bài Phúc Âm hôm nay.
Sau nữa, "nếu trời và các tầng trời còn không thể chứa được Chúa, huống chi ngôi nhà con xây cất đây!", theo nghĩa bóng, còn có nghĩa là loài người hữu hình và hữu hạn không thể nào thấu suốt được Thiên Chúa, nên không thể giam nhốt Ngài trong lòng trí chủ quan và vốn thiên lệch của mình, trái lại, Ngài sẽ thật sự ở với họ và ngự trong họ một khi họ thành tâm tìm kiếm và phụng thờ Ngài "trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24), vì như Vua Solomon cảm nhận rất đúng trong Bài Đọc 1 hôm nay, Ngài là Vị "Chúa giữ lời giao ước và lòng từ bi đối với các tôi tớ đang thành tâm đi trước mặt Chúa".
Bài Đáp Ca hôm nay cũng theo chiều hướng chung của phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói chung và Bài Đọc 1 nói riêng, ở chỗ, linh hồn chỉ sống hạnh phúc khi sống trong "nhà Chúa" (câu 2) hay ở "hành làng nhà Chúa" (câu 3) hoặc ở "ngưỡng cửa nhà Chúa" (câu 3) mà thôi, chứ không phải là nhà của mình là ý riêng của mình, hay ở hành lang nhà mình là khuynh hướng chủ quan của mình, hoặc ở ngưỡng cửa nhà mình là những việc làm giả hình của mình.
1) Linh hồn tôi khát khao và mòn mỏi, mong vào hành lang nhà Ðức Thiên Chúa. Tâm thần và thể xác tôi hoan hỉ tìm đến cùng Thiên Chúa trường sinh.
2) Ðến như chim sẻ còn kiếm được nhà, và chim nhạn tìm ra tổ ấm, để làm nơi ấp ủ con mình, cạnh bàn thờ Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa thiên binh, Ôi Ðại Vương và Thiên Chúa của con.
3) Ôi Thiên Chúa, phúc đức ai ngụ nơi nhà Chúa: họ sẽ khen ngợi Chúa tới muôn đời. Thuẫn đỡ cho chúng con, xin hãy nhìn xem, lạy Thiên Chúa, xin hãy đoái nhìn mặt Ðức Kitô của Người.
4) Thực, một ngày sống trong hành lang nhà Chúa, đáng quý hơn ngàn ngày ở nơi đâu khác. Con ưa đứng nơi ngưỡng cửa nhà Chúa con, hơn là cư ngụ trong lều bọn ác nhân.
Thứ Tư
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm II) 1 V 10, 1-10
"Nữ hoàng Saba đã nhìn thấy mọi sự khôn ngoan của vua Salomon".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, nữ hoàng Saba nghe biết Salomon nổi tiếng vì danh Chúa, bà đến hỏi thử ông nhiều câu đố. Bà đến Giêrusalem với đoàn tuỳ tùng đông đảo và nhiều của cải, gồm có lạc đà chở thuốc thơm, vô số vàng và đá ngọc quý báu. Bà yết kiến Salomon và bày tỏ cùng vua mọi nỗi niềm tâm sự. Salomon giải đáp mọi vấn nạn bà nêu ra, và không một lời bí ẩn nào mà không được vua giải đáp.
Nữ hoàng Saba nhìn thấy sự khôn ngoan của Salomon, thấy nhà ngài xây cất, món ăn ngài dùng, nhà của quần thần, trật tự của các công thần và y phục của họ, các quan chước tửu, và các của lễ toàn thiêu mà ngài hiến dâng trong đền thờ Chúa, thì bà hết hồn. Bà thưa cùng vua rằng: "Thật đúng như lời tôi nghe đồn trong xứ tôi về các công trình và sự khôn ngoan của ngài. Và lúc đó tôi không tin những điều người ta kể cho tôi, cho tới khi tôi đến đây, chính mắt tôi đã trông thấy, và tôi quả quyết rằng những điều đồn đại tôi nghe chưa bằng một phân nửa. Sự khôn ngoan và các công trình của ngài còn vĩ đại hơn tiếng đồn tôi đã nghe. Phúc cho thần dân của ngài, và phúc cho các cận vệ của ngài, luôn luôn được ở trước mặt ngài và nghe lời khôn ngoan của ngài. Chúc tụng Thiên Chúa của ngài là Ðấng yêu thương ngài, và đặt ngài lên ngôi báu Israel. Vì Chúa yêu quý Israel muôn đời, nên đã đặt ngài làm vua, để ngài cai trị công minh chính trực". Vậy bà tặng vua một trăm hai mươi nén vàng, một số rất lớn thuốc thơm và đá ngọc quý giá. Người ta không khi nào thấy một số thuốc thơm nhiều hơn thuốc thơm mà nữ hoàng Saba tặng cho vua Salomon. Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 36, 5-6. 30-31. 39-40
Ðáp: Miệng người hiền thuyết đức khôn ngoan (c. 30a).
Xướng: 1) Bạn hãy phó thác đường lối mình cho Chúa, hãy trông cậy vào Người và để chính Người hành động. Người sẽ làm cho chính nghĩa bạn sáng như bình minh, và quyền lợi bạn tỏ như giờ ngọ. - Ðáp.
2) Miệng người hiền thuyết đức khôn ngoan, và lưỡi người nói điều đoan chánh. Luật Thiên Chúa ở trong lòng người, và bước chân người không xiêu té. - Ðáp.
3) Người hiền được Chúa ban ơn cứu độ, trong cơn khốn khó, Người là chỗ họ dung thân. Chúa bang trợ và giải thoát họ, Người giải thoát và cứu họ khỏi lũ ác nhân, vì họ đã nương tựa vào Người. - Ðáp.
Alleluia: Ga. 15, 15b
Alleluia, alleluia - Chúa phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết.- Alleluia.
Phúc Âm: Mc 7,14-23
"Những gì từ con ngùi ta xuất ra, đó là cái làm cho người ta ra ô uế"
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu lại gọi dân chúng mà bảo rằng: "Hết thảy hãy nghe và hiểu rõ lời Ta. Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế. Chỉ có những gì từ con người ta xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế. Ai có tai để nghe thì hãy nghe".
Lúc Người lìa dân chúng mà về nhà, các môn đệ hỏi Người về ý nghĩa dụ ngôn ấy.
Người liền bảo các ông: "Các con cũng mê muội như thế ư? Các con không hiểu rằng tất cả những gì từ bên ngoài vào trong con người không thể làm cho người ta ra ô uế được, vì những cái đó không vào trong tâm trí, nhưng vào bụng rồi xuất ra".
Như vậy Người tuyên bố mọi của ăn đều sạch.
Người lại phán: "Những gì ở trong người ta mà ra, đó là cái làm cho người ta ô uế. Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng.
Tất cả những sự xấu đó đều ở trong mà ra, và làm cho ngươì ta ô uế".
Ðó là Lời Chúa.

Suy nghiệm Lời Chúa
Bài Phúc Âm cho Thứ Tư tuần 5 Thường Niên Hậu Giáng Sinh hôm nay liên quan đến bản thân của con người ta và những gì làm cho con người ra nhơ bẩn. Theo Lời Chúa Giêsu phán dạy cho các tông đồ ở bài Phúc Âm hôm nay thì "Những gì ở trong người ta mà ra, đó là cái làm cho người ta ô uế. Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng. Tất cả những sự xấu đó đều ở trong mà ra, và làm cho ngươì ta ô uế".
Nếu những gì xuất phát từ nội tâm của con người mới làm cho họ ra ô uế xấu xa thì ngược lại những gì từ ngoài vào không thể nào làm cho họ ra ô uế, như chính Chúa Kitô đã khẳng định trong cùng bài Phúc Âm hôm nay: "Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế". Vì, như Người dẫn giải thêm cho các môn đệ khi ở riêng với các vị: "tất cả những gì từ bên ngoài vào trong con người không thể làm cho người ta ra ô uế được, vì những cái đó không vào trong tâm trí, nhưng vào bụng rồi xuất ra". Căn cứ vào đó, Thánh ký Marcô đã thêm chi tiết kết luận như sau: "Như vậy Người tuyên bố mọi của ăn đều sạch".
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những cái ở ngoài vào trong con người không phải chỉ có đồ ăn thức uống, là những gì qua cửa miệng của con người, mà còn bao gồm cả những thứ khác nữa, như hình ảnh qua mắt của con người, hay lời nói qua tai của con người, hoặc xúc giác kích thích qua làn da của con người, 3 giác quan có thể thu thập những cái xấu xa hay gương mù gương xấu từ bên ngoài xã hội vào trong tâm trí bên trong: chẳng hạn những hình ảnh xấu, những lời nói xấu hay những sờ mó xấu. Thế nhưng, vấn đề ở đây là nếu con người chấp nhận những cái xấu từ bên ngoài bất khả tránh trên thế gian này ấy thì chúng mới có tác dụng xấu đến nội tâm của họ.
Vấn đề tiếp theo vấn đề trên là con người khó đề phòng và ngăn cản nổi những hình ảnh xấu, những lời nói xấu và những đụng chạm xấu bất ngờ xẩy ra cho mình, dù mình không muốn, để rồi sau đó những chất liệu xấu từ ngoài đó một khi đã lọt qua mắt, qua tai và qua xúc giác của họ, họ bị chúng ám ảnh, bị chúng quấy nhiễu, trở thành như những chước cám dỗ khiến họ khó lòng mà chống trả, thậm chí chúng đã làm cho nội tâm của họ ra xấu bằng những ý nghĩ xấu kèm theo ước muốn xấu, chẳng hạn như ngoại tình trong lòng (xem Mathêu 5:28).
Bởi thế, vấn đề khổ chế mới được đặt ra để giải quyết hai vấn đề then chốt trên đây. Nếu chúng ta biết chúng ta không thoát khỏi, dù chẳng có ý tìm kiếm, hoàn toàn bất ngờ, bị ảnh hưởng và chi phối bởi những thứ xấu xa từ bên ngoài vào, qua thị giác của chúng ta, hay quá thính giác của chúng ta, hoặc qua xúc giác của chúng ta, đến độ làm cho chúng ta bối rối, bất an, thậm chí sa ngã phạm tội... thì buộc chúng ta phải thực hành phương cách bất khả thiếu vô cùng cần thiết đó là khổ chế giác quan. Một khi đã khổ chế giác quan rồi mà vẫn thỉnh thoảng còn bị cái xấu bên ngoài lọt vào bên trong chúng ta vào một lúc nào đó thì nó cũng khó lòng chi phối chúng ta dễ dàng và mạnh mẽ như trước, bởi chúng ta đã cố ý tránh né nó rồi.
Chỉ có những tâm hồn Kitô hữu nào thực sự nhận biết mình vô cùng yếu đuối mới chịu khó và cẩn thận thực hành việc khổ chế khó khăn có vẻ cổ hủ này. Nhờ đó họ có thể giữ tâm hồn trong trắng và mới dễ dàng sống cuộc đời "vô tội", hay cùng lắm chỉ "vô tình" tác hành xấu xa một chút nào đó hay vào một lúc nào đó thôi. Nếu nhờ khổ chế, không tò mò nhìn những gì không thực sự cần thiết, không đọc hay xem những cái chẳng giúp ích mấy cho đời sống thiêng liêng, không nghe những gì khiến bản thân bị phân tâm, không đụng chạm hay để mình bị đụng chạm gây xúc cảm không tốt, cho dù bất lịch sự v.v. mà Kitô hữu có được một đời sống nội tâm và bình an thì phải công nhận họ là một con người khôn ngoan.
Sự khôn ngoan của Vua Salomon trong Bài Đọc I hôm nay được nữ hoàng Saba hết lời khen tặng: "Thật đúng như lời tôi nghe đồn trong xứ tôi về các công trình và sự khôn ngoan của ngài. Và lúc đó tôi không tin những điều người ta kể cho tôi, cho tới khi tôi đến đây, chính mắt tôi đã trông thấy, và tôi quả quyết rằng những điều đồn đại tôi nghe chưa bằng một phân nửa. Sự khôn ngoan và các công trình của ngài còn vĩ đại hơn tiếng đồn tôi đã nghe. Phúc cho thần dân của ngài, và phúc cho các cận vệ của ngài, luôn luôn được ở trước mặt ngài và nghe lời khôn ngoan của ngài. Chúc tụng Thiên Chúa của ngài là Ðấng yêu thương ngài, và đặt ngài lên ngôi báu Israel. Vì Chúa yêu quý Israel muôn đời, nên đã đặt ngài làm vua, để ngài cai trị công minh chính trực".
Tuy nhiên, sự khôn ngoan của vua dầu sao cũng vẫn ở lãnh vực tự nhiên hơn siêu nhiên. Bởi thế mà sau này, cho dù có khôn ngoan trước mặt trần gian đến như thế, có thể nói vô tiền khoáng hậu như vậy, vua vẫn không khôn ngoan trước nhan Thiên Chúa, vẫn không tỏ ra khôn ngoan về đời sống đức tin và thiêng liêng, đến độ, như Bài Đọc I ngày mai cho thấy, vua đã trắng trợn ruồng bỏ chính Đấng đã ban cho vua sự khôn ngoan mà theo các thứ tà thần ngẫu tượng của thành phần thê thiếp của vua. Đó là lý do, Bài Đáp Ca hôm nay mới nhấn mạnh đến khía cạnh đạo lý nơi tất cả những gì xuất phát từ "miệng người hiền thuyết đức khôn ngoan":
1) Bạn hãy phó thác đường lối mình cho Chúa, hãy trông cậy vào Người và để chính Người hành động. Người sẽ làm cho chính nghĩa bạn sáng như bình minh, và quyền lợi bạn tỏ như giờ ngọ.
2) Miệng người hiền thuyết đức khôn ngoan, và lưỡi người nói điều đoan chánh. Luật Thiên Chúa ở trong lòng người, và bước chân người không xiêu té.
3) Người hiền được Chúa ban ơn cứu độ, trong cơn khốn khó, Người là chỗ họ dung thân. Chúa bang trợ và giải thoát họ, Người giải thoát và cứu họ khỏi lũ ác nhân, vì họ đã nương tựa vào Người.
Thứ Năm
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm II) 1 V 11, 4-13
"Bởi ngươi không giữ giao ước, Ta cất vương quốc khỏi ngươi; nhưng vì Ðavít thân phụ ngươi,Ta sẽ dành một chi tộc cho con trai ngươi".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Khi vua Salomon đã về già, các bà vợ của ông mê hoặc lòng ông, kéo ông theo các thần dân ngoại, lòng ông không còn trọn vẹn với Chúa là Thiên Chúa của ông, như lòng Ðavít thân phụ ông. Salomon tôn thờ nữ thần Astarthê của dân Siđon, và thần Môlốc của dân Ammon. Và Salomon đã làm điều không đẹp lòng Chúa và không trọn niềm theo Chúa, như Ðavít thân phụ ông. Bấy giờ Salomon xây am trên núi đối diện với Giêrusalem cho Khanios, thần của dân Moab, và cho Môlốc, thần của dân Ammon. Ông cũng làm như thế cho tất cả các bà vợ ngoại bang của ông, để các bà dâng hương và tế lễ cho các thần của các bà. Vậy Chúa thịnh nộ với Salomon, vì tâm hồn ông đã bỏ Chúa là Thiên Chúa Israel, Ðấng đã hiện ra với ông hai lần, và cấm ông không được chạy theo các thần khác, nhưng Salomon không tuân giữ điều Chúa truyền dạy ông.
Do đó, Chúa phán cùng Salomon rằng: "Bởi ngươi đã ăn ở như thế, và đã không tuân giữ giao ước và lề luật mà Ta đã truyền cho ngươi, Ta sẽ phân chia vương quốc của ngươi, và trao cho tôi tớ ngươi. Nhưng vì nể Ðavít, thân phụ ngươi, Ta sẽ không thi hành điều đó khi ngươi còn sống. Ta sẽ phân chia vương quốc ngươi ngay trên tay con của ngươi. Vì Ðavít, tôi tớ Ta, và vì Giêrusalem Ta đã tuyển chọn, Ta sẽ không lấy tất cả vương quốc: Ta sẽ dành một chi tộc cho con trai ngươi".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 105, 3-4. 35-36. 37 và 40
Ðáp: Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài (c. 4a).
Xướng: 1) Phúc cho ai tuân giữ những lời huấn lệnh, và luôn luôn thực thi điều công chính. Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài; xin mang ơn cứu độ đến thăm viếng chúng con. - Ðáp.
2) Họ đã hoà mình với người chư dân, và học theo công việc chúng làm. Họ sùng bái tà thần của chúng, những tà thần đã hoá thành lưới dò hại họ. - Ðáp.
3) Họ đã giết những người con trai và con gái, để làm lễ cúng tế quỷ thần. Chúa đã bừng cơn thịnh nộ với dân tộc, và tởm ghét phần gia nghiệp của Ngài. - Ðáp.
Alleluia: 1 Sam 3,9
Alleluia, alleluia - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 7, 24-30
"Những con chó ở dưới gầm bàn cũng ăn những mụn bánh rơi của con cái"
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt Tyrô và Siđon. Vào một nhà kia, Người không muốn ai biết mình, nhưng người không thể ẩn náu được. Vì ngay lúc đó, một bà kia có đứa con gái bị thần ô uế ám, bà nghe nói về Người liền đến phục lạy Người.
Bà đó là người dân ngoại, dòng giống Syrôphênixi và bà xin Người trừ quỷ ra khỏi con bà.
Người nói: "Hãy để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó".
Nhưng bà trả lời và thưa Người rằng: "Thưa Thầy, đúng thế, nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái".
Người liền nói với bà: "Vì lời bà nói đó, bà hãy về; quỷ đã ra khỏi con gái bà rồi".
Khi bà về đến nhà, thì thấy cô gái nhỏ nằm trên giường và quỷ đã xuất rồi.
Ðó là Lời Chúa.

Suy nghiệm Lời Chúa
Bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần V Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay liên quan đến một đàn bà "dân ngoại", thuộc "dòng giống Syrôphênixi", ở "địa hạt Tyrô và Siđon" ngoài lãnh thổ dân Do Thái. Sở dĩ Chúa Giêsu đến vùng đất của dân ngoại này, không còn trong lãnh thổ dân Do Thái ấy, là vì "Người không muốn ai biết mình", khi Người "vào một nhà kia" ở đó. Người có ngờ đâu rằng, nói theo kiểu trần gian, danh tiếng của ngài, như bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần 2 Thường Niên đã lan khắp đất nước Do Thái, vượt cả ra ngoài biên cương bờ cõi của đất nước này nữa: "Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã làm".
Bởi thế, Người đã lọt vào tầm mắt theo dõi thật chuyên nghiệp trinh thám và lỗ tai nghe ngóng vô cùng thính thị của một người đàn bà dân ngoại chưa bao giờ gặp Người, như Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại: "Người không muốn ai biết mình, nhưng người không thể ẩn náu được. Vì ngay lúc đó, một bà kia có đứa con gái bị thần ô uế ám, bà nghe nói về Người liền đến phục lạy Người... xin Người trừ quỷ ra khỏi con bà".
Thật là oái oăm và nghiệt ngã thay, nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét nào đó mà "bà nghe nói về Người", liên quan đến các phép lạ Người làm, đến quyền năng khu trừ ma quỉ của Người, đến giáo huấn khôn ngoan đầy thần lực của Người, nhất là đến tấm lòng khoan dung thương cảm dân chúng nói chung và những con người đang gặp gian nan khốn khó nói riêng, như trường hợp của bà, bấy giờ, sau khi bà tỏ thái độ "phục lạy Người" hết sức kính cẩn Người và tin tưởng vào Người, thì Người lại tỏ một thái độ quá ư là dị thường, một thái độ mà xét theo bình thường thật sự là hết sức khinh miệt kẻ khác (coi họ như chó má vậy), và là một thái độ kỳ thị chủng tộc (dân ngoại với dân Do Thái), như chính tai của bà đã nghe thấy "Người nói: 'Hãy để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó'".
Không ngờ, người đàn bà dân ngoại này, thành phần vốn bị dân Do Thái khinh miệt ấy, trước con mắt thế gian, tưởng rằng bà ta chắc chắn bị gục ngay tại chỗ bởi cái độc chiêu tàn bạo ấy, một độc chiêu đánh trúng ngay vào nhân phẩm cao quí và danh dự chủng tộc của bà, bà ta vẫn không hề hấn chi, trái lại, cũng không ngờ, bà ta lại có một nội công hết sức thâm hậu, đến độ chẳng những đã chịu đòn quá giỏi "Nhưng bà trả lời và thưa Người rằng: 'Thưa Thầy, đúng thế...'", mà còn phản đòn một cách tuyệt diệu nữa: "Nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái".
Đáng lẽ câu Chúa Giêsu khen tặng viên đại đội trưởng Roma là nhân vật đã đến xin Người chữa lành cho đứa đầy tớ nam người Do Thái đang yếu bệnh liệt giường ở nhà ông: "Tôi bảo thật cho các người biết Tôi chưa hế thấy ai trong Isarael có một đức tin mạnh như vậy" (Mathêu 8:10), cũng phải được Người nói về nữ cao thủ dân ngoại thuộc "dòng giống Syrôphênixi" này. Cả viên đại đội trưởng người Roma, lẫn người đàn bà xứ Sidon trong bài Phúc Âm hôm nay, đều được như ý nguyện nhờ lòng tin của họ, và phải nói là chính lòng tin của họ đã chữa lành và trừ quỉ, bởi Chúa Giêsu không hề đến nhà của họ, không trực tiếp gặp nạn nhân của họ, mà nạn nhân được họ thương vẫn được lành mạnh hay được trừ quỉ: "'Vì lời bà nói đó, bà hãy về; quỷ đã ra khỏi con gái bà rồi'. Khi bà về đến nhà, thì thấy cô gái nhỏ nằm trên giường và quỷ đã xuất rồi".
Dân ngoại cho dù bị dân Do Thái cho là thành phần ô uế xấu xa, so với họ là thành phần được Thiên Chúa tuyển chọn và tỏ mình ra cùng ban lề luật Thánh cho, tự dân ngoại, vẫn không xấu, nếu áp dụng nguyên tắc sạch dơ của Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm qua: từ ngoài vào không làm cho con người ra dơ bẩn mà là những cái từ trong chính con người xuất ra. Chẳng hạn người đàn bà dân ngoại trong Bài Phúc Âm hôm nay có xấu đâu, trái lại, còn mạnh tin hơn chính dân Do Thái nữa. Bởi thế, nếu dân Do Thái không chấp nhận những tà thần ngẫu tượng của họ, những tà thần ngẫu tượng so với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của dân Do Thái, thì các tà thần ngẫu tượng đó cũng chẳng làm gì được họ, cũng chẳng làm cho họ ra ô uế xấu xa đến độ bị Chúa ghê tởm ruồng bỏ như một Vua Salomon đầy vinh quang và khôn ngoan trần thế nhưng hoàn toàn bị mê hoặc mù quáng trong tâm hồn, như được Bài Đọc I hôm nay thuật lại:
"Khi vua Salomon đã về già, các bà vợ của ông mê hoặc lòng ông, kéo ông theo các thần dân ngoại, lòng ông không còn trọn vẹn với Chúa là Thiên Chúa của ông, như lòng Ðavít thân phụ ông. Salomon tôn thờ nữ thần Astarthê của dân Siđon, và thần Môlốc của dân Ammon. Và Salomon đã làm điều không đẹp lòng Chúa và không trọn niềm theo Chúa, như Ðavít thân phụ ông. Bấy giờ Salomon xây am trên núi đối diện với Giêrusalem cho Khanios, thần của dân Moab, và cho Môlốc, thần của dân Ammon. Ông cũng làm như thế cho tất cả các bà vợ ngoại bang của ông, để các bà dâng hương và tế lễ cho các thần của các bà. Vậy Chúa thịnh nộ với Salomon, vì tâm hồn ông đã bỏ Chúa là Thiên Chúa Israel, Ðấng đã hiện ra với ông hai lần, và cấm ông không được chạy theo các thần khác, nhưng Salomon không tuân giữ điều Chúa truyền dạy ông. Do đó, Chúa phán cùng Salomon rằng: 'Bởi ngươi đã ăn ở như thế, và đã không tuân giữ giao ước và lề luật mà Ta đã truyền cho ngươi, Ta sẽ phân chia vương quốc của ngươi, và trao cho tôi tớ ngươi'".
Bài Đáp Ca hôm nay cũng nhận định rằng nếu dân Do Thái nói chung và con người nói riêng không để cho cái xấu từ bên ngoài vào, theo phương cách khôn ngoan khổ chế được chia sẻ hôm qua, thì chẳng có tà thần ngẫu tượng nào có thể làm chủ mình, như trường hợp của Vua Salomon trong Bài Đọc I hôm nay:
2) Họ đã hoà mình với người chư dân, và học theo công việc chúng làm. Họ sùng bái tà thần của chúng, những tà thần đã hoá thành lưới dò hại họ.
3) Họ đã giết những người con trai và con gái, để làm lễ cúng tế quỷ thần. Chúa đã bừng cơn thịnh nộ với dân tộc, và tởm ghét phần gia nghiệp của Ngài.
Đó là lý do câu đầu tiên của Bài Đáp Ca hôm nay mới cho biết ai là người có phúc và nguyện xin rằng:
1) Phúc cho ai tuân giữ những lời huấn lệnh, và luôn luôn thực thi điều công chính. Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài; xin mang ơn cứu độ đến thăm viếng chúng con.
Thứ Sáu
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm II) 1 V 11, 29-32; 12, 19
"Israel lìa bỏ nhà Ðavít".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Khi ấy, Giêroboam từ Giêrusalem đi ra, thì tiên tri Ahia, người Silô mặc áo choàng mới, gặp ông dọc đường. Lúc đó chỉ có hai người ở ngoài đồng. Ahia cầm lấy áo choàng mới ông đang mặc, xé ra làm mười hai phần và nói với Giêroboam rằng: "Ông hãy cầm lấy mười phần cho ông, vì Chúa là Thiên Chúa Israel phán thế này: 'Ðây, Ta sẽ phân chia vương quốc từ tay Salomon, và Ta sẽ cho ngươi mười chi tộc. Vì Ðavít tôi tớ Ta, và vì thành Giêrusalem mà Ta đã lựa chọn trong mọi chi tộc Israel, Ta sẽ dành cho Salomon một chi tộc' ". Như thế, Israel lìa bỏ nhà Ðavít cho đến ngày nay.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 80, 10-11ab. 12-13. 14-15
Ðáp: Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, ngươi hãy nghe Ta răn bảo (c. 11a & 9a).
Xướng: 1) Ở nơi ngươi đừng có một chúa tể nào khác cả, ngươi cũng đừng thờ tự một chúa tể ngoại lai: vì Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, Ta đã đưa ngươi ra ngoài Ai-cập. - Ðáp.
2) Nhưng dân tộc của Ta chẳng có nghe lời Ta, Israel đã không vâng lời Ta răn bảo. Bởi thế nên Ta để mặc cho chúng cứng lòng để chúng sinh hoạt tuỳ theo sở thích. - Ðáp.
3) Phải chi dân tộc của Ta biết nghe lời Ta, Israel biết theo đường lối của Ta mà ăn ở: thì lập tức Ta sẽ triệt hạ kẻ thù của chúng, và để đập tan quân địch của chúng, Ta sẽ trở tay! - Ðáp.
Alleluia: Tv 24, 4c và 5a
Alleluia, alleluia - Lạy Chúa, xin dạy bảo tôi về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn tôi trong chân lý của Ngài. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 7, 31-37
"Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được".
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu từ địa hạt Tyrô, qua Siđon đến gần biển Galilêa giữa miền thập tỉnh.
Người ta đem đến cho Người một kẻ điếc và xin Người đặt tay trên kẻ ấy.
Người đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh.
Ðoạn ngước mắt lên trời, Người thở dài và bảo: Ephata, nghĩa là "hãy mở ra", tức thì tai anh được sõi sàng.
Chúa Giêsu liền cấm họ: đừng nói điều đó với ai cả.
Nhưng Người càng cấm, thì họ càng loan truyền mạnh hơn.
Họ đầy lòng thán phục, mà rằng: "Người làm mọi sự tốt đẹp, Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được".
Ðó là Lời Chúa.

Suy nghiệm Lời Chúa
Đúng thế, "ân sủng và chân lý" nơi "Người Con duy nhất đến từ Cha" là Chúa Giêsu Kitô này được dịp tỏ hiện ra ở những nỗi khốn cùng và bất lực của con người đáng thương, nhưng qua nhân tính của Người, một nhân tính đã được ngôi hiệp (hypostatic union) với thần tính để trở thành dấu chỉ hiện diện thần linh của Thiên Chúa, thành phương tiện tỏ mình ra của Thần Tính Chúa Kitô và thành bí tích thông ban sự sống bởi Thánh Linh là Đấng ban sự sống.
1) Ở nơi ngươi đừng có một chúa tể nào khác cả, ngươi cũng đừng thờ tự một chúa tể ngoại lai: vì Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, Ta đã đưa ngươi ra ngoài Ai-cập.
2) Nhưng dân tộc của Ta chẳng có nghe lời Ta, Israel đã không vâng lời Ta răn bảo. Bởi thế nên Ta để mặc cho chúng cứng lòng để chúng sinh hoạt tuỳ theo sở thích.
3) Phải chi dân tộc của Ta biết nghe lời Ta, Israel biết theo đường lối của Ta mà ăn ở: thì lập tức Ta sẽ triệt hạ kẻ thù của chúng, và để đập tan quân địch của chúng, Ta sẽ trở tay!
Thứ Bảy
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm II) 1 V 12, 26-32; 13, 33-34
"Giêroboam đúc hai con bò vàng".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Giêroboam nói trong lòng rằng: "Giờ đây vương quốc sẽ trở về với nhà Ðavít; nếu dân này lên Giêrusalem để tế lễ trong nhà Chúa, thì lòng dân này sẽ quy thuận với chủ mình là Roboam, vua xứ Giuđa; họ sẽ giết ta và trở về với Roboam". Bấy giờ, ông triệu tập hội nghị và đúc hai con bò vàng, ông nói với dân chúng rằng: "Các ngươi không cần phải lên Giêrusalem nữa. Hỡi Israel, đây những vị thần minh đã dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập". Ông đặt một con bò vàng ở Bêthel và một con ở Ðan. Việc đó là dịp tội cho dân Israel, vì dân chúng lên tận Ðan để thờ con bò vàng. Ông còn xây chùa miếu trên những nơi cao, đặt các người trong dân làm tư tế, họ không phải là con cháu Lêvi. Ông chọn ngày rằm tháng tám là ngày lễ trọng, giống như lễ trọng thường cử hành trong xứ Giuđa. Ông lên bàn thờ để tế những tượng bò mà ông đã đúc, ông làm như thế ở Bêthel; cũng tại Bêthel, ông đã thiết lập hàng tư tế trong các chùa miếu mà ông đã xây cất trên những nơi cao.
Sau các sự việc đó, Giêroboam chẳng những không dứt bỏ đàng tội lỗi, mà trái lại ông còn tiếp tục đặt ở những nơi cao hàng tư tế chọn trong dân chúng. Do đó, nhà Giêroboam phạm tội, bị lật đổ và xoá khỏi mặt đất.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 105, 6-7a. 19-20. 21-22.
Ðáp: Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài (c. 4a).
Xướng: 1) Chúng tôi đã phạm tội cũng như tổ phụ chúng tôi, chúng tôi đã làm điều gian ác và ăn ở bất nhân. Tổ phụ chúng tôi, khi còn ở bên Ai-cập, đã không suy xét những việc lạ lùng của Chúa. - Ðáp.
2) Dân chúng đã đúc con bò tại Horéb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ. - Ðáp.
3) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ. - Ðáp.
Alleluia: Tv. 94, 8ab
Alleluia, alleluia - Ước gì hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 8,1-10
"Họ ăn no nê".
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.
Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: "Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến".
Các môn đệ thưa: "Giữa nơi hoang địa nầy, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn no".
Và người hỏi các ông: "Các con có bao nhiêu bánh?"
Các ông thưa: "Có bảy chiếc".
Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ phân phát.
Các ông chia cho dân chúng.
Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ.
Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền cho các ông phân phát.
Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng.
Số người ăn độ chừng bốn ngàn.
Rồi Người giải tán họ, kế đó Người cùng các môn đệ xuống thuyền đến miền Ðammanutha.
Ðó là Lời Chúa.

Suy nghiệm Lời Chúa
ĐỨC KITÔ - HÓA BÁNH RA NHIỀU
Theo bộ Phúc Âm Nhất Lãm thì Chúa Giêsu đã làm phép lạ bánh hóa ra nhiều 2 lần. Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều lần thứ hai. Chính việc Người hóa bánh ra nhiều bởi lòng thương xót của Người với dân chúng cũng chứng thực Ngưòi thực sự là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", hợp với chủ đề cho Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh mà hôm nay là Thứ Bảy trong Tuần Thứ V.
Đúng thế, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này không phải chỉ tỏ mình ra qua việc Người "đầy ân sủng" ở chỗ chữa lành bệnh tật và khu trừ ma quỉ cho dân chúng, mà còn "đầy chân lý" ở chỗ giảng dạy chung dân chúng với tất cả quyền uy và thế giá của mình, cũng như ở chỗ soi lòng mở trí cho thành phần trí thức và quyền hành trong dân, như nhóm biệt phái và luật sĩ, kỳ lão và tư tế, mỗi khi họ theo dõi Người để đặt vấn đề với Người và để bắt bẻ Người.
Qua bài Phúc Âm hôm nay, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" ấy còn tỏ ra mình "đầy ân sủng" ở chỗ Người quan tâm đến cả nhu cầu ăn uống căn bản bất khả thiếu của dân chúng bằng việc hóa bánh ra nhiều nữa; trong khi đó, các môn đệ của Người hầu như chẳng ai để ý gì hết, hay có để ý đi nữa cũng không biết làm sao có thể đáp ứng nhu cầu của dân chúng, nếu quan tâm tại sao các vị không tự động đến thân thưa cùng Thày mình, như trường hợp Mẹ Maria trong tiệc cưới Cana: "Họ hết rượu rồi" (Gioan 2:3)?
Chúa Giêsu tự biết Người phải làm gì, nhưng Người muốn bao gồm cả phần của những ai theo Người nữa, thành phần đã được Người tuyển chọn để thay thế Người chăm sóc đoàn chiên của Người sau này. Trước hết bằng việc tỏ cho họ thấy mối quan tâm thương cảm dân chúng của Người: "Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: 'Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến'".
Sau nữa, Người muốn chính các môn đệ của Người phải cộng tác với Người, bằng việc đóng góp một chút gì đó họ có, để chính Người biến một chút đóng góp của các vị ấy tăng lên gấp bội, đủ để đáp ứng nhu cầu của dân chúng bấy giờ: "Các môn đệ thưa: 'Giữa nơi hoang địa nầy, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn no'. Và người hỏi các ông: 'Các con có bao nhiêu bánh?' Các ông thưa: 'Có bảy chiếc'.... Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ". Theo tự nhiên thì "bảy chiếc bánh" và "mấy con cá nhỏ" của các môn đệ chẳng thấm thía vào đâu với con "số người ăn độ chừng bốn ngàn". Thế nhưng, cho đến bấy giờ các vị vẫn chưa nghĩ được rằng Thày của các vị chỉ cần một chút ấy thôi vẫn có thể làm no thỏa số dân chúng ấy.
Sau hết, Người chẳng những muốn các môn đệ đóng góp vào việc Người làm, bằng tất cả những gì họ có, dù chỉ một chút xíu, dù chẳng là bao nhiêu, miễn là có thế thôi, mà còn làm thừa tác viên ban phát "ân sủng" của Người cho dân chúng nữa, vì sau này các vị chính là thừa tác viên ban phát mầu nhiệm thánh qua các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể. Đó là lý do Phúc Âm cho thấy, sau khi "Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, tạ ơn, bẻ ra" thì chính Người không đích thân đi phân phát, mà "trao cho các môn đệ phân phát". Cả "mấy con cá nhỏ" cũng thế: "Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền cho các ông phân phát". Kết quả tốt đẹp đó là: "Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng".
Chi tiết "người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng" càng cho thấy "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Đấng ban ân sủng cho con người còn hơn cả mức độ họ cần, vì Người là "mục tử nhân lành đến cho chiên (chẳng những) được sự sống (mà còn là) một sự sống viên mãn" nữa (Gioan 10:10). Khi con người mới được Thiên Chúa tạo dựng nên, còn ở trong tình trạng công chính nguyên thủy, chưa biết đến tội lỗi là gì, bấy giờ họ mới có "sự sống" nhưng vẫn chưa phải là "sự sống viên mãn", cho tới khi "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người, vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14).
Nếu không có "sự sống" và là "sự sống viên mãn" thì, như các Bài Đọc I cho ngày Thứ Tư và Thứ Sáu Tuần II Thường Niên ghi nhận, dù là Thánh Vương Đavít, một con người đầy lòng tin tưởng vào Chúa (điển hình là trận đấu với viên tướng vô đối thủ Goliat người Philitinh) và bác ái với địch thù của mình (điển hình là Vua Saolê tìm sát hại chàng nhưng chàng vẫn tha chết cho 2 lần), cũng có lúc sa ngã nặng nề với tội ngoại tình kèm theo cả tội sát nhân, như Bài Đọc I Thứ Sáu Tuần III Thường Niên cho thấy, hay tệ hơn nữa là Salomon, một vị vua, như Bài Đọc I cho Thứ Tư và Thứ Năm tuần này cho thấy, khôn ngoan đệ nhất thiên hạ nhưng vẫn bị tà thần ngẫu tượng của dân ngoại làm mê hoặc đến cố chấp ruồng bỏ Thiên Chúa.
Thậm chí càng tệ hơn nữa, hơn ai hết và hơn bao giờ hết, là nhân vật Giêroboam trong Bài Đọc I hôm nay, một con người được Thiên Chúa nhưng không bất ngờ chọn làm vua 10 chi tộc Israel, như Bài Đọc I hôm qua cho thấy, mà vẫn chẳng những tỏ ra vô ơn bội nghĩa với Chúa lại còn âm mưu phản lại Ngài một cách trắng trợn, như thể ông ta là chúa tể chứ không phải là Đấng đã chọn ông, chỉ vì ông ta muốn "sự sống dồi dào" một cách chủ quan và vị kỷ, nhưng lại là những gì hủy diệt chính bản thân ông cùng với tất cả triều đại của ông. Ở chỗ, như Bài Đọc I hôm nay rõ ràng ghi thuật:
"Trong những ngày ấy, Giêroboam nói trong lòng rằng: 'Giờ đây vương quốc sẽ trở về với nhà Ðavít; nếu dân này lên Giêrusalem để tế lễ trong nhà Chúa, thì lòng dân này sẽ quy thuận với chủ mình là Roboam, vua xứ Giuđa; họ sẽ giết ta và trở về với Roboam'. Bấy giờ, ông triệu tập hội nghị và đúc hai con bò vàng, ông nói với dân chúng rằng: 'Các ngươi không cần phải lên Giêrusalem nữa. Hỡi Israel, đây những vị thần minh đã dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập'. Ông đặt một con bò vàng ở Bêthel và một con ở Ðan. Việc đó là dịp tội cho dân Israel, vì dân chúng lên tận Ðan để thờ con bò vàng. Ông còn xây chùa miếu trên những nơi cao, đặt các người trong dân làm tư tế, họ không phải là con cháu Lêvi. Ông chọn ngày rằm tháng tám là ngày lễ trọng, giống như lễ trọng thường cử hành trong xứ Giuđa. Ông lên bàn thờ để tế những tượng bò mà ông đã đúc, ông làm như thế ở Bêthel; cũng tại Bêthel, ông đã thiết lập hàng tư tế trong các chùa miếu mà ông đã xây cất trên những nơi cao. Sau các sự việc đó, Giêroboam chẳng những không dứt bỏ đàng tội lỗi, mà trái lại ông còn tiếp tục đặt ở những nơi cao hàng tư tế chọn trong dân chúng. Do đó, nhà Giêroboam phạm tội, bị lật đổ và xoá khỏi mặt đất".
Tuy nhiên, như tình trạng đói khổ về phần xác của dân chúng trong Bài Phúc Âm hôm nay còn được Chúa Giêsu động lòng thương đáp ứng cho họ no thỏa thế nào thì tình trạng khốn nạn phần hồn của dân Chúa, thành phần liên tục vô ơn bội nghĩa với Chúa và phản bội bất trung với Chúa, như một Giêroboam tiêu biểu trong Bài Đọc I hôm nay, vẫn đáng được Chúa thương khi họ nhận ra lầm lỗi của mình mà van xin Ngài: "Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài", với tất cả ý thức được gói gọn trong Bài Đáp Ca hôm nay như sau:
1) Chúng tôi đã phạm tội cũng như tổ phụ chúng tôi, chúng tôi đã làm điều gian ác và ăn ở bất nhân. Tổ phụ chúng tôi, khi còn ở bên Ai-cập, đã không suy xét những việc lạ lùng của Chúa.
2) Dân chúng đã đúc con bò tại Horéb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ.
3) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ.
HẠNH THÁNH TRONG TUẦN
Chúa Nhật
Thánh Giêrônimô Emiliani và Thánh Josephine Bakhita Trinh Nữ
8/2

THÁNH JOSÉPHINE BAKHITA
Có một cô bé người dân tộc Châu Phi đang sống an vui hạnh phúc với gia đình ở một miền rừng thì bị bọn buôn người từ miền xuôi đến bắt cóc. Lúc đó em mới mười tuổi thôi. Em nói một thứ tiếng mà bọn buôn người không thể hiểu được nên chúng tự tiện đặt tên em là Duyên May (Bakhita), ra chiều em sa vào tay bọn chúng là một may mắn cho em vì em được theo chúng về thành phố sống. Chúng hành hạ em đủ trò, từ tinh thần đến thể chất. Lúc nào chúng cũng lấy xích sắt tròng vào cổ em. Sau khi chán chê, chúng mang em ra chợ, bán em làm con ở cho một tay nhà giầu. Tay này, sau khi lấy được cái gì hắn có thể, cũng chán em nốt và sang em lại cho một tay khác.
Sau cùng, may mắn cũng đến với em vì em được một người công giáo tử tế bỏ tiền ra mua, mang em về nhà sống chung với gia đình ông một thời gian. Sau đó ông này dọn nhà đi về quê và muốn trả tự do cho em. Nhưng nay em tứ cố vô thân, còn biết đi đây nữa, nên em xin ông mang em theo. Quê ông là một xứ công giáo, mọi người đều tốt với em, em được sống hạnh phúc.
Đúng thế, khi vị lãnh sự trở về Ý vì lý do chính trị thì Bakhita cũng xin tháp tùng gia đình ông. Mặc dù sau đó cô tiếp tục làm công cho một gia đình khác, cuộc đời Bakhita ở Ý là một cuộc đời hạnh phúc. Cô được đối xử tử tế và được tôn trọng.
Người Tín Hữu / Theo Vết Chân Người và http://giaophanvinhlong.net/thanh-bakhita-josephine.html

Thứ Ba
Ngày 10 tháng 2
Thánh Cô-lát-ti-ca, trinh nữ
lễ nhớ bắt buộc

Tay trinh nữ cầm đèn sáng chói,
Nàng bước vào tiệc cưới thiên thu,
Chính là hôn lễ Đức Vua,
Nước Trời hoan hỷ tung hô chúc mừng.
Nàng dự yến trong cung danh dự,
Sánh duyên cùng Thiên Tử quang vinh,
Chữ trinh xe kết chữ tình,
Nết na đức hạnh công trình bao năm.
Xin chỉ dạy cách ăn thói ở,
Lấy hồng ân che chở phù trì,
Mưu thù cho dẫu tinh vi,
Quyết tâm chống lại, gian nguy chẳng sờn.
Xin Đức Mẹ là gương trinh thục
Hằng cầu thay nguyện giúp chúng nhân,
Ơn thiêng Thánh Tử tuôn tràn,
Tha hương lãnh nhận muôn vàn đỡ nâng.
Lời vinh tụng, quỳ dâng lên Chúa
Đã ban cho trinh nữ thành công,
Triều thần thiên quốc một lòng,
Nghìn thu ca ngợi hát mừng Thánh Danh.
Người yêu mến hơn thì mạnh thế hơn
Phụng Vụ Giờ Kinh Sách ngày 10/2 - Bài đọc 2
Trích sách Đối thoại của thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng.
Cô-lát-ti-ca là em ruột của thánh Biển-đức ; bà đã sống tận hiến cho Chúa toàn năng từ thời thơ ấu. Bà quen đến thăm anh, mỗi năm một lần. Người của Thiên Chúa đi xuống gặp em ở bên ngoài cổng cách một quãng không xa trong phần đất thuộc đan viện.
Một ngày kia, theo thông lệ, bà đến và người anh khả kính cùng với các môn đệ đi xuống gặp bà. Cả ngày họ cùng nhau ca tụng Thiên Chúa và nói chuyện đạo đức. Khi màn đêm buông xuống, họ dùng bữa với nhau.
Đang lúc còn mải mê nói chuyện đạo đức mà trời mỗi lúc một khuya, thì nữ đan sĩ xin với anh rằng : “Em xin anh đừng bỏ em đêm nay ; chúng ta hãy trao đổi với nhau cho đến sáng về những niềm vui của đời sống trên trời.” Người anh trả lời : “Em ơi, em nói gì vậy ? Anh đâu có thể ở lại ngoài tu phòng.”
Nghe anh từ chối, nữ đan sĩ đặt hai bàn tay lên bàn, các ngón đan vào nhau, rồi gục đầu xuống trên hai tay cầu xin Chúa toàn năng. Khi bà ngẩng đầu lên thì sấm chớp ầm ầm nổi dậy và một cơn mưa như trút nước đổ xuống, khiến cả cha Biển-đức khả kính lẫn các anh em tháp tùng người không sao nhấc chân ra khỏi ngưỡng cửa nơi họ đang đứng.
Bấy giờ người của Thiên Chúa buồn bã bắt đầu than trách rằng : “Em ơi, xin Thiên Chúa toàn năng tha thứ cho em, em đã làm gì vậy ?” Bà trả lời : “Này, em đã xin anh mà anh không chịu nghe, thì em đã xin Thiên Chúa của em và Người đã nghe. Bây giờ nếu anh đi được thì cứ đi, cứ để em lại đây mà về đan viện.”
Như thế là người đã không tự ý ở lại, nhưng bị cầm chân tại chỗ ngoài ý muốn, và cả hai thức suốt đêm, tha hồ trao đổi với nhau những chuyện về đời sống thiêng liêng.
Nếu thánh nữ mạnh thế hơn ông anh, thì đó không phải là chuyện lạ, vì như lời thánh Gio-an đã nói : Thiên Chúa là Tình Yêu. Bà mạnh thế hơn vì yêu mến nhiều hơn, thì đó quả là điều chí lý.
Ba ngày sau, khi người của Thiên Chúa đang ở trong tu phòng, ngước mắt lên thì thấy linh hồn em gái mình lìa khỏi xác vào thiên cung dưới hình chim bồ câu. Vui mừng vì em được vinh quang như thế, người hát thánh vịnh thánh ca tạ ơn Thiên Chúa toàn năng, rồi sai anh em đưa xác bà về đan viện đặt trong ngôi mộ người đã chuẩn bị cho chính mình.
Thế là nấm mồ cũng không thể ngăn cách được thân xác của những người vẫn một lòng một ý với nhau trong Thiên Chúa.
XKhi bà đan sĩ nài van Thiên Chúa đừng để cho anh bà lìa xa bà, thì
Đvì lòng yêu mến của bà, Chúa ban cho bà hơn cả điều bà đã mong ước.
XNgọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau !
Đvì lòng yêu mến của bà, Chúa ban cho bà hơn cả điều bà đã mong ước.
Đức Ki-tô là phần thưởng các trinh nữ. Nào ta hoan hỷ chúc tụng Người :
Chúa là hạnh phúc các trinh nữ, xin nhậm lời chúng con.
Lạy Chúa Ki-tô là Đấng các thánh trinh nữ luôn hết tình yêu mến, - xin đừng để chúng con phải xa lìa tình yêu Chúa bao giờ.
Chúa là hạnh phúc các trinh nữ, xin nhậm lời chúng con.
Chúa đã đặt Đức Ma-ri-a làm Nữ Vương các thánh trinh nữ, - vì lời Đức Mẹ chuyển cầu, xin thanh tẩy lòng trí chúng con.
Chúa là hạnh phúc các trinh nữ, xin nhậm lời chúng con.
Các thánh trinh nữ đã trọn tình vẹn nghĩa với Chúa và hết lòng phục vụ Nước Trời, - vì lời các ngài nguyện giúp cầu thay, xin cho chúng con sống giữa cuộc đời chóng qua này mà vẫn giữ được lòng siêu thoát.
Chúa là hạnh phúc các trinh nữ, xin nhậm lời chúng con.
Các trinh nữ khôn ngoan những kiên tâm chờ đợi Chúa, - xin cho chúng con cũng tỉnh thức đợi chờ với tất cả niềm hy vọng thiết tha.
Chúa là hạnh phúc các trinh nữ, xin nhậm lời chúng con.
Lạy Chúa, hôm nay chúng con mừng kính thánh nữ Cô-lát-ti-ca, xin cho chúng con theo gương người để lại là hết lòng mến yêu phụng thờ Chúa và cảm nghiệm tình thương Chúa ngọt ngào. Chúng con cầu xin
Trường hợp hai đứa con sinh đôi của bà Thamar: cậu anh vừa đưa tay ra ngoài và được bà đỡ cột sợi chỉ điều vào tay để đánh dấu đứa nào ra trước, liền bị thằng em " sinh sự" giằng co trong dạ mẹ; cậu anh đành phải rút tay vào, "đi chỗ khác chơi" có trật tự, "nhường lối" cho em ra ngắm ánh mặt trời trước! Tình cảnh đó có lẽ không khỏi gây đau lòng cho bà Thamar. Thật là " gươm con" thâu "lòng mẹ"!
Trường hợp Esau và Giacóp mới "lủng củng" hơn nữa! Hai anh em thường xuyên "chí chóe" với nhau trong bụng mẹ, đến nỗi mặc dầu hiếm con, bà Rêbecca cũng phải than rên đau khổ và xin Ðấng Gia-vê can thiệp! Tới khi Esau vừa lọt lòng mẹ thì bị cậu em Giacóp nắm chặt gót chân. Cũng may mà Esau đã được nhìn ánh mặt trời trước! Nhưng chưa hết, về sau, Esau phải bán quyền trưởng nam cho Giacóp chỉ vì một bát cháo đậu; rồi bị Giacóp cướp mất chúc lành của cha. Sự kiện đã khiến Esau nổi cơn lôi đình, quyết tìm dịp giết em. Trong khi đó, Giacóp phải cao bay xa chạy để trốn mặt anh. Trước tình cảnh đó, bà Rebecca phải đau lòng xiết bao! Hai anh em sinh đôi Esau-Giacóp đã trở nên " gươm hai lưỡi" đâm thâu lòng bà Rêbecca!
Thế nhưng, lịch sử cho thấy có những trường hợp trái ngược: Hai anh em thương nhau "ra rít" như bóng với hình, thậm chí còn có cùng một ý hướng, một mong ước, cùng dìu dắt nhau tiến tới trên đường thánh đức. Hai anh em thánh Beneđictô và Scholastica là một thí dụ điển hình.
Bênêđictô là anh, còn Scholastica là em gái. Hai anh em sinh đôi năm 480 trong một gia đình đạo hạnh và giầu sang tại thành Nursia, nước Ý. Ngay từ nhỏ cô cậu đã được hưởng một nền giáo dục đạo đời thật chu đáo. Tình huynh đệ giữa hai anh em ngày càng phát triển sâu xa. Họ thương nhau tha thiết, đồng thời biết thúc giục và giúp đỡ nhau tập tành các nhân đức Công Giáo. Tuổi hoa niên của Bênêđictô và Scholastica nơi gia đình trôi êm như một giấc mộng đẹp.
Về sau, Bênêđictô được gửi học tại Rôma. Trí thức cũng như nhân đức của chàng tiến không ngừng. Trong khi đó Scholastica nhan sắc và đức hạnh lưu lại gia đình, đành tạm rời xa anh một thời gian. Nàng chuyên chăm các việc trong nhà, thích thú cầu nguyện, và ưa đời trầm lặng, mặc dầu nàng sẵn có tâm hồn tươi vui và hoạt bát.
Danh tiếng nhân đức và nhan sắc của Scholastica được loan truyền mau lẹ tới các miền lân cận. Nhiều chàng công tử giầu sang đã ngấp nghé muốn hỏi nàng làm vợ. Nhưng Scholastica đã quyết dâng hiến đời mình cho Chúa. Trong khi đó, Bênêđictô chuyên chăm việc học tại Rôma. chàng nghe thấy tiếng Chúa âm thầm gọi chàng cách mầu nhiệm... Cuối cùng chàng đã đáp lại tiếng Ngài, bằng cách trốn vào hoang địa Subiacô cách Rôma khoảng 40 dặm để sống đời tịch liêu thân mật với Thiên Chúa.
Sau nhiều năm sống khổ hạnh nơi hang Subiacô, tiếng thơm nhân đức của Bênêđictô truyền tụng khắp nơi. Nhiều người tuốn đến xin làm môn đệ. Bênêđictô giảng dạy, làm phép lạ và lập nhiều tu viện. Tu viện chính được xây cất tại núi Cassinô, cách Rôma 80 dặm.
Trước tấm gương xa lìa vinh hoa phú quí để theo Chúa sống đời khổ hạnh của anh. Scholastica ước ao mãnh liệt được theo gương anh. Nàng phân chia của cải cho người nghèo, rồi cùng với một tớ nữ tiến về núi Cassinô để xin Bênêđictô hướng dẫn trên đường nhân đức. Bênêđictô rất hài lòng về dự tính của em, và xây cho nàng một tu phòng không xa tu viện Cassinô là bao, đồng thời tự tay soạn luật cho em.
Tiếng tăm nhân đức của Scholastica ngày càng lan rộng. Nhiều trinh nữ giã từ xa hoa trần thế, tụ họp quanh nàng để xin cùng chung lý tưởng hiến dâng cuộc đời phụng sự Chúa. Ðể dung nạp những tâm hồn thiện chí này, Bênêđictô đã khỡi công xây dựng một đan viện cho các chị dòng Biển Ðức tương lai.
Scholastica đương nhiên được coi như vị sáng lập, và là nữ đan viện trưởng đầu tiên của chị em Biển Ðức; trong khi Bênêđictô vị sáng lập và là tu viện trưởng đầu tiên của dòng anh em Biển Ðức. Hai anh em sinh đôi đã có cùng một ước mơ, một chí hướng, và một lý tưởng phụng sự Chúa trong đời tu trì trầm lặng và khổ hạnh.
Thật vậy, Thánh Scholastica là em gái thánh Bênêđictô, tổ phụ của những người sống đời khổ tu bên Tây phương. Chúng ta biết được chút ít về đời sống của thánh nữ là do cuốn Dialogue, tập hai, của thánh Grêgôriô cả, cuốn sách ghi lại đời sống thánh Bênêđictô và các phép lạ của ngài. Như anh của ngài, thánh nữ Scholastica đã sinh ra tại quận Sabina miền Nursia.
Khi thánh Bênêđictô thiết lập tu viện tại Montê Cassinô, Scholastica cùng với các trinh nữ quây quần bên ngài đã đến ở bên núi, lập thành tu viện Palumbariola, ngài đặt mình dưới sự hướng dẫn của anh, vì ngài biết rằng: không có ai có thể hướng dẫn các linh hồn về trời cách chắc chắn hơn.
Nhưng ngài không hề làm rộn anh mình và chỉ gặp anh mỗi năm một lần vào trước mùa chay, trong một trang trại của tu viện ở miền núi. Một nguyện đường đã được dựng nên tại đây để ghi nhớ những giây phút khôn tả, mà thánh Bênêđictô thông cho em mình ánh sáng thần linh ngài thụ lãnh được và dạy dỗ em mình đường trọn lành của tu sĩ trong thống hối và yêu thương.
Kể từ đó, hai anh em mỗi năm chỉ gặp nhau có một lần tại căn nhà ngoài nội vi tu viện, trước sự chứng kiến của các thầy đồng hành với Bênêđictô. Thực ra, những lần gặp gỡ này là chỉ để đàm thoại về Chúa và những sự siêu nhiên.
Lần cuối cùng hai anh em được gặp nhau xẩy ra ba ngày trước khi Scholastica giã từ cõi thế. Hôm đó, sau khi đã đàm thoại lâu giờ... họ đã trải qua một ngày để khen ngợi Chúa và cầu xin hạnh phúc trên trời, bên ngoài khí trời tươi mát vì đã vào xuân, bầu trời trong sáng lạ thường, thánh Scholastica say sưa cảm nếm hương vị của câu chuyện đàm thoại trong khi màn đêm buông dần xuống... lúc đó thánh Scholastica nói với thánh Bênêđictô: - Anh ơi trời khuya rồi, làm sao anh về được. Thôi mình tiếp tục nói chuyện tới sáng về niềm vui cuộc sống trên trời đi.
Thánh Bênêdictô trả lời: - Em nói chi, anh không thể nhận lời em được. Anh không thể qua đêm ở ngoài nhà dòng được đâu. Tới đây chúng ta đã biết được câu chuyện kết thúc ra sao theo những gì được Thánh Giáo Hoàng Gêgôriô thuật lại trong cuốn Đối Thoại của ngài (mà chúng ta nghe hay đọc trên đây trong phần phụng vụ giờ kinh sách ngày 10/2 hôm nay)
Anh em giã biệt nhau được ba ngày thì Scholastica từ trần, hưởng thọ 60 tuổi. Lúc đó, đang cầu nguyện trong phòng, Bênêđictô trông thấy linh hồn em xinh đẹp như chim bồ câu nhẹ nhàng bay về thiên quốc. Sau khi dâng lời ca tụng Chúa, Bênêđictô liền sai các thầy rước xác Scholastica về tu viện Cassinô và táng trong chính ngôi mộ Bênêđictô đã chuẩn bị cho mình.
Sau cái chết của em, Bênêđictô còn sống thêm 7 năm trong chay tịnh, hy sinh và hãm mình... Sáu ngày trước khi chết, Ngài ra lệnh mở sẵn cửa mồ. Ngày cuối đời, sau khi lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa như của ăn đàng, Bênêđictô được các thầy giúp đứng dậy, Ngài giơ cao đôi tay lên trời cầu nguyện. Và trong tư thế đó, Ngài thở hơi cuối cùng. Ngày hôm ấy hai tu sĩ Biển Ðức, Một ở cùng tu viện với ngài, một đang ở xa, được thị kiến cùng một điềm lạ như nhau: họ trông thấy một đường sáng thật huy hoàng trải dài từ tu viện lên bầu trời về phía đông. Bên cạnh con đường sáng đó có một người dáng vẻ đạo mạo, y phục lộng lẫy. Người này hỏi hai thầy rằng họ đang chiêm ngắm con đường của ai đó. Sau khi họ thú thật không biết, người lạ trả lời: - Ðó là con đường mà Bênêđictô, bạn yêu quí của Chúa, đã lên trời.
Bênêđictô qua đời năm 547, hưởng thọ 67 tuổi.
Hai đứa con sinh đôi của bà Thamar đã khởi sự tranh giành nhau từ trong lòng mẹ. Hai anh em sinh đôi Esau và Giacóp không những " chí chóe" với nhau trong bụng mẹ, lại còn "kèn cựa" hiềm thù nhau nhiều năm trời! Nhưng trái lại, hai anh em sinh đôi Bênêđictô và Scholastica thương nhau từ tuổi ấu thơ, cùng dìu nhau về thiên quốc. Chẳng những mang cùng một tâm tư, thân xác họ còn được chôn trong cùng một tấm mồ. Tình huynh đệ thắm thiết từ khi lọt lòng mẹ, trải qua suốt cuộc sống, kéo dài tới lúc chết, và còn tồn tại mãi mãi trên trời.
Hiện tại di hài của thánh nữ Scholastica và thánh Bênêđictô được yên nghỉ dưới bàn thờ trong tu viện ở Mont-Cassin. Từ cuối thế kỷ thứ VIII, lịch Phụng Vụ của Mont-Cassin định ngày kỷ niệm Scholastica vào ngày 10 tháng 02. Việc tôn kính thánh nữ được lan rộng, nhất là trong các Đan viện từ thế kỷ thứ IX.

Thứ Tư
LỄ MẸ LỘ ĐỨC 11-2
ĐTCGPII Tông Du Lộ Đức 14/8/2004 - Dẫn Nhập cho việc Lần Hạt Mân Côi tại Động Massabiella
Anh Chị Em thân mến!
1. Qùi ở nơi đây, trước động Massabielle, Tôi sâu xa
cảm thấy rằng Tôi đã tiến đến đích điểm của cuộc Tôi hành hương. Hang động
này, nơi Mẹ Maria đã hiện ra, là tâm điểm của Lộ Đức. Nó nhắc nhở chúng ta
về hang Núi Horeb, nơi tiên tri Êlia gặp gỡ Chúa, Đấng đã nói với ông bằng
“một giọng nhỏ nhẹ” (1Kgs 19:12).
Nơi đây Đức Trinh Nữ đã xin Bernadette đọc Kinh Mân Côi, như chính Mẹ cũng
lần hạt. Bởi thế hang động này đã trở thành một học đường nguyện cầu chuyên
biệt, nơi Mẹ Maria dạy cho hết mọi người biết nhìn ngắm dung nhan Chúa Kitô
bằng tình yêu bừng nóng.
Như thế, Lộ Đức là nơi Kitô hữu Pháp quốc, cũng như các Kitô hữu thuộc rất
nhiều quốc gia Âu Châu khác và trên thế giới, quì xuống nguyện cầu.
2. Là những người hành hương tới Lộ Đức, chúng ta
cũng muốn buổi tối hôm nay, cùng với Maria Mẹ của chúng ta, tái diễn trong
nguyện cầu những “mầu nhiệm” được Chúa Giêsu tỏ mình ra cho thấy rằng Người
là “ánh sáng thế gian”. Chúng ta nhớ lại lời Người hứa: “Ai theo Tôi sẽ
không đi trong tăm tối, song sẽ được ánh sáng sự sống” (Jn 8:12).
Chúng ta muốn học từ nơi người nữ tỳ khiêm hạ này của Chúa thái độ đơn sơ và
cởi mở trước lời Chúa, cũng như thái độ quảng đại dấn thân đón nhận giáo
huấn của Chúa Kitô trong đời sống của chúng ta.
Nhất là, khi suy niệm về việc Mẹ Chúa thông phần vào sứ mệnh cứu chuộc của
Con Mẹ, Tôi xin anh chị em hãy nguyện cầu cho các ơn gọi linh mục và sống
đồng trinh vì Nước Trời, để tất cả những ai được kêu gọi biết đáp ứng một
cách quảng đại và kiên trì.
3. Trong lúc hướng lòng về Mẹ Maria Rất Thánh, chúng
ta hãy cùng với Thánh Bernadette nguyện cầu rằng: “Lạy Mẹ nhân lành, xin
thương đến con; con xin hoàn toàn hiến dâng bản thân mình cho Mẹ, để Mẹ dâng
con cho Con yêu dấu của Mẹ, Đấng con muốn yêu mến bằng cả tấm lòng của con.
Lạy Mẹ nhân lành, xin ban cho con trái tim hoàn toàn bừng cháy tình yêu mến
Chúa Giêsu”.
(Đức Thánh Cha bị mất thăng bằng khi quì cầu nguyện ở hang động Đức Mẹ
hiện ra, khiến các vị hộ tống vội đỡ lấy Ngài cho khỏi ngã trước khi đặt
Ngài vào xe lăn. Sau mấy phút cầu nguyện, Ngài đã chỉ định một vị hồng y đọc
bài diễn từ của Ngài).
ĐTCGPII Tông Du Lộ Đức 14/8/2004 - Dẫn Nhập cho Cuộc Rước Đuốc ở Accuiel Notre-Dame
Anh Chị Em thân mến!
1. Khi Trinh Nữ Maria hiện ra với Bernadette ở hang
động Massabielle, Mẹ đã mở màn cho một cuộc đối thoại giữa Trời và đất là
một cuộc đối thoại đã kéo dài qua thời gian và tiếp tục cho tới ngày hôm
nay. Khi nói với cô gái trẻ tuổi này, Mẹ Maria đã xin dân chúng hãy đoàn lũ
kéo tới đây, như thể nói lên rằng cuộc đối thoại này không thể chỉ được giới
hạn ở ngôn từ mà còn phải trở thành một cuộc hành trình bên Mẹ dọc suốt con
đường lữ hành đức tin, đức cậy và đức mến nữa.
Ở Lộ Đức đây, hơn một thế kỷ qua, dân Kitô giáo đã trung thành đáp ứng những
lời hiệu triệu từ mẫu ấy, hằng ngày bước đi theo Chúa Kitô nơi Bí Tích Thánh
cũng như mỗi đêm rước kiệu bằng những bài hát và những lời nguyện cầu để tôn
kính Người Mẹ của Chúa.
Năm nay, vị Giáo Hoàng này cũng tham gia với anh chị em nơi hành động tôn
sùng và mến yêu đối với Đức Nữ Trinh Rất Thánh này, người nữ hiển vinh của
Sách Khải Huyền, được đội triều thiên 12 ngôi sao (x Rev 12:1). Cầm trong
tay cây đuốc sáng, chúng ta nhớ lại và tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào
Chúa Kitô Phục Sinh. Nơi Người toàn thể đời sống của chúng ta được chiếu soi
và hy vọng.
2. Anh chị em thân mến, Tôi xin gửi gấm cho anh chị
em ý chỉ đặc biệt của việc chúng ta nguyện cầu tối hôm nay: đó là hãy cùng
Tôi nài xin Trinh Nữ Maria xin cho thế giới của chúng ta đây tặng ân hòa
bình hằng được mong mỏi.
Chớ gì thứ tha và tình yêu huynh đệ cắm rễ vào lòng người. Chớ gì hết mọi
thứ vũ khí đều được buông xuống, và tất cả mọi thứ hận thù ghen ghét và bạo
lực đều được loại trừ.
Chớ gì hết mọi người đều thấy nơi tha nhân của mình không phải là kẻ thù cần
phải đánh đấm, mà là người anh em cần phải được chấp nhận và yêu thương, nhờ
đó chúng ta mới có thể hợp nhau xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
3. Cùng nhau chúng ta hãy kêu cầu Vị Nữ Vương Hòa
Bình này và hãy lập lại việc chúng ta dấn thân phục vụ cho mối hòa giải, đối
thoại và đoàn kết. Có thế chúng ta mới chiếm được thứ hạnh phúc được Chúa
hứa cho thành phần kiến tạo hòa bình (Mt 5:9).
Tôi theo anh chị em bằng lời nguyện cầu và phép lành của Tôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến ngày 20/7/2004
Đức Mẹ Nói Cùng Tôi
(St.
Marie Bernadette Soubirous,
Ep. Ad P. Gondrand, a 1861:
cf. A. Ravier, Les Écrits de Sainte Bernadette, Paris 1961, pp 53-59)
Ngày kia tôi cùng với hai đứa con gái khác đi xuống bờ sông Gave, thì thình
lình tôi nghe thấy một cái gì đó như tiếng gió vi vu. Tôi ngoảnh đầu lại
hướng về phía đồng cỏ gần bờ sông, song cây cối vẫn lặng lẽ, rõ ràng là
tiếng động không xuất phát từ chúng. Đoạn tôi nhìn lên và thấy ngay trong
động đá một vị nữ lưu mặc chiếc áo trắng dễ thương với chiếc giây thắt lưng
óng ánh. Trên chân của bà mỗi bên đều có một bông hồng mầu vàng nhạt, cùng
mầu với những hột ở chuỗi mân côi của bà.
Thấy thế tôi giụi hai mắt, nghĩ rằng tôi đang thấy một cái gì đó, và tôi xỏ
tay vào viền quần đựng cỗ tràng hạt. Tôi muốn làm dấu thánh giá, nhưng tôi
không thể làm được, và tay tôi trở nên rụng rời. Bấy giờ vị nữ lưu này làm
dấu thánh giá và tôi cố làm dấu như bà, mặc dù tay tôi run lẩy bẩy. Thế là
tôi bắt đầu lần hạt mân côi, trong khi đó vị nữ lưu này lấy ngón tay đưa hạt
chuỗi mà không nhép miệng gì cả. Khi tôi hết đọc Kinh Kính Mừng thì bà liền
biến đi.
Tôi hỏi hai cô bạn của mình xem họ có thấy được điều gì chăng, họ nói không.
Dĩ nhiên họ muốn biết tôi đã làm gì, và tôi cho họ biết rằng tôi đã thấy một
vị nữ lưu mặc bộ áo trắng đẹp, mặc dù tôi không biết bà ấy là ai. Tôi dặn họ
đừng nói điều gì về câu chuyện này, và họ cho tôi rằng tôi ngớ ngẫn với
những thứ ấy. Tôi nói là họ sai rồi, và tôi đã cảm thấy bị thúc đẩy trở lại
nơi này vào hôm Chúa Nhật sau đó …
Lần thứ ba tôi đến đó thì vị nữ lưu này đã mở miệng nói với tôi và xin tôi
hãy trở lại hằng ngày trong vòng 15 ngày. Tôi nói tôi sẽ làm như thế, đoạn
bà bảo tôi rằng bà muốn tôi nói với các vị linh mục hãy xây cất lên một
nguyện đường ở đó. Bà cũng bảo tôi hãy uống nước ở rạch nước. Tôi đã đến con
sông Gave là giòng nước duy nhất tôi thấy. Thế rồi bà làm tôi nhận ra rằng
bà không nói về con sông Gave, mà là một tia nước nhỏ gần chỗ tôi đứng. Tới
nơi, tôi chỉ thấy có một vài giọt nước, còn toàn là bùn. Tôi chụm tay lại để
hớt lấy một chút nhưng không được, tôi liền cào đất lên. Tôi cố tìm lấy một
ít giọt nước, nhưng mãi vào lần thứ bốn tôi mới có đủ lượng nước để uống.
Đoạn người nữ lưu biến đi và tôi trở về nhà.
Tôi đã trở lại đấy 15 ngày, trừ một ngày Thứ Hai và một ngày Thứ Sáu, và lần
nào bà cũng hiện ra và bảo tôi tìm một rạch nước mà tắm cũng như để xem
chuyện các vị linh mục xây nguyện đường ở đó thế nào. Bà nói tôi cũng phải
cầu nguyện nữa để cầu cho tội nhân ăn năn cải thiện đời sống. Tôi đã hỏi bà
nhiều lần về ý định của bà, song bà chỉ mỉm cười. Sau cùng, với cánh tay
giang ra và đôi mắt ngước lên trời, bà bảo tôi rằng bà là Đấng Đầu Thai Vô
Nhiễm Nguyên Tội.
Trong 15 ngày đó, bà đã nói với tôi ba điều bí mật, nhưng tôi không được
phép nói với ai cả, và tôi vẫn giữ cho tới nay.
(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ The Office of Readings, Saint
Paul Editions, 1983, trang 1343-1344)
Bí Mật Lộ
Đức
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Theo diễn tiến của Biến Cố Thánh Mẫu nổi tiếng được chính thức công nhận xẩy ra trong lịch sử Giáo Hội từ trước đến nay, thì người ta chỉ nghe nói đến Bí Mật Fatima và Bí Mật La Salette thôi, chứ đâu có bao giờ nghe đến Bí Mật Lộ Đức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có Bí Mật Lộ Đức. Đúng thế, trong 18 lần hiện ra với thiếu nữ Bernadette 14 tuổi tại một hang động ở Massabielle, vào lần hiện ra thứ 7, 23/2/1858, người thiếu nữ quê mùa bần cùng thất học chưa được rước lễ lần đầu này cho biết là Mẹ Maria quả thực đã tiết lộ cho cô biết 3 bí mật riêng (three personal secrets), những bí mật nhiều người tò mò muốn biết nhưng cuối cùng chẳng ai được biết vì Mẹ Maria không cho cô nói lại với ai. Thậm chí cho tới nay, cho dù Bí Mật Fatima phần thứ ba là bí mật đầy rùng rợn (theo óc suy tưởng của nhiều người), tưởng chừng như không bao giờ được Tòa Thánh công bố, vì ích chung, cũng đã được lịch sử ghi nhận nội dung của nó khi nó được Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin chính thức tiết lộ ngày 26/6/2000, nhưng Bí Mật Lộ Đức vẫn hoàn toàn là một huyền nhiệm.
Bí Mật Lộ Đức sở dĩ không được tiết lộ, trước hết, có thể là vì bí mật này chỉ liên quan tới bản thân của vị thụ khải Bernadette thôi. Nếu liên quan tới tình hình thế giới và Giáo Hội, chắc chắn không sớm thì muộn cũng được tiết lộ thôi, như trường hợp của Bí Mật Fatima phần thứ ba vậy. Có thể một trong ba bí mật được Mẹ Maria tiết lộ cho người con gái sống trên đời 35 năm ngắn ngủi đầy đau thương này liên quan tới thân phận của chị, như Mẹ đã tỏ cho chị biết vào lần hiện ra thứ ba, 18/2: “Mẹ không hứa với con hạnh phúc ở đời này mà là đời sau”, một lời cũng đã được tân Chân Phước Zélie Guérin (mới được tôn phong cùng chồng là Louis Martin vào Chúa Nhật Truyền Giáo 19/10/2008 ở vương cung thánh đường Lisieux Pháp quốc), mẹ của chị Thánh Thérèse Hài Đồng Giêsu, cảm nghiệm khi đi hành hương Lộ Đức vào những ngày cuối đời nhưng không được phúc chữa lành. Người ta cũng có thể suy đoán thêm một trong 3 điều bí mật riêng tư được Mẹ Maria tiết lộ cho chị biết ấy liên quan tới ơn gọi tu trì của chị, vì chị đã bắt đầu sống đời tận hiến trong Dòng Chị Em Bác Ái ở Nevers ngày 4/7/1866, khi chị được 22 tuổi, sau Biến Cố Lộ Đức 8 năm, cho đến ngày chị qua đời 13 năm sau, 16/4/1879.
Tuy nhiên, ngoài 3 bí mật tư riêng liên quan tới bản thân của vị thụ khải Bernadette, thực tế cho thấy có một Bí Mật Lộ Đức liên quan đến hết mọi người, bởi thế cần phải tìm hiểu và khám phá để có thể đáp ứng “dấu chỉ thời đại” nơi Biến Cố Thánh Mẫu 150 năm (1858-2008) đặc biệt này, nhất là vào dịp Giáo Hội hoàn vũ long trọng mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12/2008, một lễ liên quan tới danh xưng “Mẹ hoài thai vô nhiễm tội – Que soy era Immaculada Councepciou” của Mẹ ở Lộ Đức vào lần hiện ra thứ 16 ngày 25/3. Vậy cái được gọi là Bí Mật Lộ Đức đây là gì, nếu không phải là cái bí mật tại sao Lộ Đức là nơi có một danh xưng liên quan tới linh hồn vô nhiễm của Mẹ lại là nơi xẩy ra những phép lạ chữa lành xác thân con người? Đúng thế, có hai đặc điểm chính yếu và chuyên biệt ở Lộ Đức, thứ nhất đó là danh xưng “Mẹ hoài thai Vô Nhiễm Tội”, khác với ở danh xưng của Mẹ ở Fatima “Mẹ là Đức Bà Mân Côi” ngày 13/10/1917, và thứ hai là các cuộc chữa lành bệnh nạn phần xác cho con người, một sự kiện không xẩy ra ở các Biến Cố Thánh Mẫu khác, dù biến cố ấy có thể nổi tiếng hơn như Fatima chẳng hạn. Nếu quả thực đây là Bí Mật Lộ Đức thì ý nghĩa của nó là gì và tại sao lại như thế?
Vào ngày 13/6/2008, tôi có nhận được một điện thư của vị muốn giúp ý kiến về đề tài tĩnh tâm có lợi cho cả hai đoàn thể Đạo Binh Xanh và Đạo Binh Đức Mẹ: Thánh Mẫu học theo thánh An Phong hay thánh Long Mộng Phố, hoặc linh đạo Fatima. Tôi đã đề nghị trong năm 2008 là thời điểm Mừng Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức 150 năm, cũng là thời điểm Mừng 20 năm Phong Thánh cho Các Chứng Nhân Đức Tin trên Đất Việt, đề tài nên chọn là lời Mẹ nói với chị Thánh Bernadette vào lần hiện ra thứ ba 18/2/1858: ‘Mẹ không hứa với con hạnh phúc đời này mà là đời sau’. Đề tài này rất thích hợp với Bí Mật Fatima phần thứ ba liên quan tới thị kiến tử đạo. Trong phần hội thảo chung, tôi đề nghị nêu lên vấn nạn là: ‘Tại sao ở khi hiện ra ở Lộ Đức, Mẹ Maria tự xưng mình 'Mẹ Hoài Thai Vô Nhiễm Tội' ngày 25/3 là những gì liên quan đến phần hồn của Mẹ mà Mẹ lại biến Lộ Đức thành Trung Tâm Thánh Mẫu duy nhất nổi tiếng về các phép lạ chữa lành phần xác cho một số tâm hồn?’ Thế rồi vào ngày 11/8, vị này cho tôi biết rằng: “Đề tài này tuy vậy mà cũng khó, phải có những gợi ý”. Tôi đã hồi âm cho vị ấy là: “Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời được chất chứa trong lời ĐTC GPII huấn dụ trong huấn từ Truyền Tin ở Lộ Đức ngày 15/8/2004 như sau: ‘Từ tảng đá ở động Massabielle, Vị Trinh Nữ này đã hiện ra với Bernadette. Tỏ mình ra như Đấng đầy ơn phúc của Thiên Chúa, Mẹ đã kêu gọi thống hối và nguyện cầu. Mẹ đã chỉ cho Bernadette một mạch nước, và xin em uống mạch nước này. Mạch nước mới mẻ ấy đã trở thành một trong những biểu hiệu của Lộ Đức: một biểu hiệu của sư sống mới được Chúa Kitô ban cho tất cả những ai hướng về Người.’”.
Trong Bài Giảng cho Thánh Lễ Mẹ Đau Thương Thứ Hai 15/9/2008 cho Thành Phần Bệnh Nhân trước tiền đường của Đền Thờ Đức Mẹ Mân Côi Lộ Đức, ĐTC Biển Đức XVI, trong chuyến tông du Pháp quốc ngày 12-15/9/2008, đã tiếp tục khai triển chiều hướng trên đây của ĐTC Gioan Phaolô II liên quan tới biểu hiệu nước ở Lộ Đức, như thể hai vị tỏ ra muốn cùng nhau đi sâu vào tất cả những gì là huyền nhiệm ở Lộ Đức để hoàn toàn làm sáng tỏ cái thực sự là Bí Mật Lộ Đức này trước mọi người:
“Nụ cười của Mẹ Maria là suối nước sự sống. Chúa Giêsu phán: ‘ai tin Tôi thì từ lòng họ sẽ vọt lên những giòng sông chảy nước sự sống’ (Jn 7:38). Mẹ Maria là người đã tin tưởng, và từ cung lòng của Mẹ, những giòng sông chảy nước sự sống đã tuôn ra tưới dội lịch sử loài người. Giòng suối mà Mẹ Maria chỉ cho Bernadette ở Lộ Đức đây là một dấu hiệu đơn sơ về thực tại thiêng liêng này. Từ trái tim tin tưởng của Mẹ, từ tấm lòng từ mẫu của Mẹ, chảy ra nước sự sống để thanh tẩy và chữa lành. Bằng việc dìm mình vào những bể tắm ở Lộ Đức, rất nhiều người đã khám phá ra và đã cảm nghiệm được tình yêu thương từ mẫu dịu dàng êm ái của Vị Trinh Nữ Maria này, bằng việc tỏ ra gắn bó với Mẹ để liên kết mình chặt chẽ hơn với Chúa! … Đó là lý do tại sao có rất nhiều bệnh nhân đến Lộ Đức đây để được giãn cơn khát của mình nơi ‘nguồn mạch yêu thương’ này, và để cho mình được Mẹ dẫn đến với nguồn cứu độ duy nhất là Chúa Giêsu Cứu Thế Con Mẹ”.
Tóm lại, nếu ở Fatima, tất cả Bí Mật Fatima (3 phần) được Mẹ Maria tỏ cho 3 Thiếu Nhi Fatima biết vào lần hiện ra thứ ba 13/7/1917, là “Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria”, một trái tim liên quan tới định mệnh chung của nhân loại, đến trình trạng “nhiều linh hồn được cứu độ và thế giới được hòa bình”, thì tất cả Bí Mật Lộ Đức là ở nơi nụ cười của Mẹ Maria, một cử chỉ độc đáo chưa từng có trong lịch sử Biến Cố Thánh Mẫu, một nụ cười là suối nước sự sống tràn đầy “vui mừng và hy vọng”, có tác dụng gia tăng đức tin phần hồn, thậm chí chữa lành cả phần xác của một số tâm hồn thiên định nào đó.
Nếu Biến Cố Thánh Mẫu Fatima liên quan đến lửa, (sự kiện mặt trời nhẩy múa trên trời ngày 13/10/1917), cũng như tới tước hiệu Mẹ Mân Côi, cả hai ám chỉ quyền thế của Mẹ đối với Thiên Chúa (như Bí Mật Fatima phần 3 cho thấy), thì Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức liên quan tới nước, (sự kiện mạch nước vọt lên từ đất ngày 25/2/1858), cũng như tới tước hiệu Mẹ Vô Nhiễm, cả hai ám chỉ tình trạng Mẹ dồi dào ân sủng là để mang lại sự sống cho con cái khổ đau, như ĐTC BĐXVI khẳng định trong huấn từ Truyền Tin CN 14/9/2008 ở Lộ Đức như sau:
“Ơn Hoài Thai Vô Nhiễm được ban cho Mẹ Maria không phải chỉ là một ơn huệ của một cá nhân, mà là một ân sủng cho tất cả mọi người, một ân huệ được ban cho toàn thể dân Chúa. .. chúng ta là con cái của Mẹ Maria, chúng ta cũng được hưởng bổng lộc từ tất cả mọi ân huệ Mẹ có; phẩm vị khôn sánh Mẹ có được nhờ Hoài Thai Vô Nhiễm rạng ngời chiếu tỏa trên chúng ta là thành phần con cái của Mẹ”.
Bí Mật Fatima và Bí Mật Lộ Đức có một liên hệ mật thiết với nhau thế này: nếu ở Fatima Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ được Mẹ tỏ cho Lucia biết “là nơi cho con nương náu và là đường đưa con đến cùng Thiên Chúa”, thì ở Lộ Đức, Đấng “hoài thai Vô Nhiễm Tội” đến là để “thông ơn Thiên Chúa” cho con cái của mình, được thể hiện rõ ràng nhất qua những lần Mẹ chữa lành phần xác cho một số cá nhân đặc biệt nào đó, trong vô số trường hợp được cho biết là mỗi năm có khoảng 40 vụ chữa lành trình báo cho giáo quyền địa phương Lộ Đức, nhưng Giáo Hội mới chính thức công nhận 67 phép lạ. Nếu việc Chúa Giêsu chữa lành bệnh tật được thuật lại trong các Phúc Âm là những gì chứng thực Vương Quốc Thiên Chúa gần đến hay Ơn Cứu Độ sắp hoàn thành thế nào, thì những việc chữa lành phần xác cho con người ở Lộ Đức mãi đến ngày nay, trong một thời đại văn minh tân tiến tột độ về khoa học và kỹ thuật nhưng lại đang bị phá sản đức tin từ thế kỷ 19, cũng là những gì báo trước Nước Mẹ trị đến cho Nước Chúa vinh quang, Nước của “Đức Mẹ Mân Côi” cũng là “Đức Mẹ Thắng Trận”, Đấng đã khẳng định ở Fatima ngày 13/7/1917 cuối phần Bí Mật Fatima thứ hai là “cuối cùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng”!
Phép Lạ Lộ Đức: Tiến Trình Điều Tra và Công Nhận
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Gần văn phòng y khoa bận bịu là một chỗ trưng bày hình ảnh lạ lùng của những người hành hương đã được chữa lành, với những hàng chữ nói về tình trạng tật nguyện bệnh nạn của họ. Vấn đề này là những gì được phổ biến công khai. Những cuộc lành bệnh này không phải tự nhiên xẩy ra mà là chất chứa cả một đức tin trong ấy, thế nhưng làm thế nào để có thể chứng thực được những gì xẩy ra liên quan tới đức tin siêu nhiên như thế, nhất là giữa một thế giới thiên về duy thực dụng, coi khoa học như là chân lý ngày nay?
Cũng chính vì con người trong thế giới văn minh ngày nay cần đến những chứng cớ về khoa học mà bằng chứng về y khoa liên quan tới những biến cố chữa lành này là những gì bất khả thiếu và hùng hồn cho thấy sự hiện diện thần linh của Đấng Vô Hình làm chủ lịch sử và định mệnh của từng người trên thế gian này. Ngoài ra, Giáo Hội cũng cần đến những chứng cớ về y khoa để có thể công nhận các biến cố chữa lành được gọi là phép lạ thật sự ở Lộ Đức.
Tiến Trình Điều Tra
Khi một người hành hương Lộ Đức cho rằng mình được chữa lành thì họ được vị bác sĩ ở đó khám nghiệm, trước khi chuyển đến các vị bác sĩ ở văn phòng y khoa là văn phòng được thiết lập chính thức vào năm 1947. Cơ quan này có trách nhiệm thẩm định đầu tiên để xem tính chất thực sự của việc chữa lành. Người hành hương được chữa lành này, cùng với những ghi nhận từ các cuộc khám nghiệm trước đó, được các vị bác sĩ chủ trị khám nghiệm, tất cả đều được chứng dự bởi vị giám đốc đền thánh và vị linh mục đặc trách khách hành hương.
Những qui chuẩn đòi phải có đối với một việc chữa lành bao gồm ít là 4 điều sau đây: chứng bệnh phải thực sự xẩy ra và việc chẩn bệnh xác đáng; dự đoán về chứng bệnh phải rành mạch, kể cả những dự đoán về tính chất vĩnh viễn hay bất trị của nó; việc được chữa lành phải xẩy ra tức khắc, chứ không phải tình trạng hồi phục, hoàn toàn, dứt khoát và mãi mãi; việc chữa trị được qui định không góp phần gì vào biến cố lành mạnh cả.
Khi biến cố chữa lành được khẳng định rồi, thì cuộc thẩm định chung đòi người bệnh gặp gỡ văn phòng y khoa 3 năm nữa. Nếu đa số các bác sĩ đồng ý, thì hồ sơ của bệnh nhân được lành khỏi ấy sẽ được gửi đến cho Tiểu Ban Y Khoa Quốc Tế Lộ Đức (CMIL: Lourdes International Medical Committee) được thành lập vào năm 1954.
Tiểu ban y khoa quốc tế này sẽ thẩm định những biến cố chữa lành trên 10 đến 15 năm để theo dõi việc phát triển của bệnh nhân. Sau khi văn phòng y khoa quốc tế này khẳng định việc chữa lành hoàn toàn vượt quá khả năng của y khoa thì hồ sơ của việc chữa lành được gửi đến cho các vị thẩm quyền của Giáo Hội.
Việc Công Nhận Phép Lạ
Việc công bố phép lạ chữa lành là phận sự của vị giám mục nơi ở của người được chữa lành. Nhưng trước khi vị giám mục địa phương công bố thì vấn đề hay hồ sơ của người bệnh được chữa lành được cứu xét bởi một Ủy Ban Giáo Phận bao gồm các vị linh mục, các vị chuyên gia về giáo luật, các thần học gia và các vị bác sĩ.
Y Khoa hay Phép Lạ chữa lành
Căn cứ vào thời điểm văn phòng y khoa được thiết lập vào năm 1947, thì trước đó, mức độ được chữa lành trước năm 1914 là 1:100, từ 1914 đến 1928 là 1:700, thế nhưng từ 1928 đến 1947 là 1:1600. Tóm lại, có 5 ngàn vụ được cho là chữa lành trước năm 1947. Từ 1947 đến 1990 chỉ còn 1000, trong số đó chỉ có 56 vụ được công nhận trong thời gian này, trung bình là 1.3 vụ mỗi năm, khác với 57 vụ mỗi năm trước năm 1914.
Căn cứ vào các dữ kiện ấy, người ta có thể suy ra rằng càng văn minh hay y khoa càng tiến bộ, bao gồm cả các thứ thuốc men được sáng chế thêm, thì bệnh tật được chữa lành bởi khoa học hơn là bởi phép lạ. Từ thập niên 1960 con số được cho là phép lạ đã thụt giảm hẳn xuống. Vấn đề có thể đặt ra ở đây là chính vì khoa học tân tiến mà người ta tin vào khoa học hơn là trời cao, nên không đến để xin chữa lành nhiều như trước nữa, do đó không có nhiều phép lạ chữa lành xẩy ra nữa.
Giống như vấn đề tại sao ngày nay Âu Châu là nơi đã từng là chiếc nôi Kitô Giáo và lan truyền Kitô Giáo khắp thế giới, nay lại là nơi xuất phát ra nền văn hóa sự chết và cần tái truyền bá phúc âm hóa hơn bao giờ hết. Phải chăng là vì Kitô Giáo đã lỗi thời, không còn tác lực cứu độ nữa? Vấn đề có thể đặt ngược lại là khoa học và kỹ thuật tân tiến hay văn minh của con người nếu quả thực là cứu tinh của con người, mang lại hạnh phúc thực sự và trọn vẹn cho con người, thì tại sao thế giới càng văn minh con người càng bạo loạn như thực tế không thể chối cãi ngày nay cho thấy! Như thế, vấn đề ở đây là phải chăng vì con người bỏ Thiên Chúa, bị khủng hoảng đức tin con người mới trở nên đáng thương như thế, cần phải được chữa lành cả về (nhất là về) phần hồn nữa vậy.
Kể từ ngày thành lập của mình, tiểu ban y khoa quốc tế này đã cứu xét 1300 vụ và đã nộp 29 vụ cho Giáo Hội và được thẩm quyền Giáo Hội công nhận 19. Tư năm 1858 tới nay, tức sau 150 năm, Giáo Hội mới chính thức công nhận 67 phép lạ Lộ Đức. Sau đây là hai phép lạ cuối cùng, phép lạ thứ 66 và 67.
Phép Lạ thứ 66
Phép Lạ thứ 66 xẩy ra cho ông Jean-Pierre Bély, một người Pháp, bị liệt bại, một chứng bệnh ông đã mắc từ năm 1972. Khi ông đi hành hương Lộ Đức năm ông 51 tuổi, tức vào năm 1987, bạn bè ông cho rằng ông không thể nào chịu nổi chuyến đi. Vào cuối cuộc hành hương, ông được lãnh nhận bí tích xức dầu kẻ liệt, để rồi, khi trở về đến nhà, ông đã bước đi được như một người bình thường. Hiện nay tất cả mọi dấu vết bệnh tật đã hoàn toàn biến mất. Bác sĩ Patrick Fontanaud, một nhà ngộ đạo thức, vẫn chăm sóc cho ông này đã phải thú nhận khoa học không thể nào cắt nghĩa được hiện tượng khỏi bệnh lạ lùng này. Vị làm đầu Văn Phòng Y Khoa Lộ Đức là bác sĩ Patrick Theillier đã nói với tờ Le Monde rằng còn hai phép lạ chữa bệnh nữa sẽ được nhìn nhận, đó là phép lạ xẩy ra cho một phụ nữ 25 tuổi người Pháp và một phụ nữ 60 tuổi người Ý, cả hai đều được khỏi bệnh vào năm 1995.
Phép Lạ thứ 67
Còn Phép Lạ thứ 67 thì ĐTGM Gerardo Pierro giáo phận Salerno đã chính thức công bố hôm Thứ Sáu 11/11/2005 là một “việc chữa lành lạ lùng” xẩy ra cho một người đàn bà chịu bệnh khổ đau lâu dài và đã đến viếng Đền Thánh Mẫu Lộ Đức ở Pháp quốc năm 1952.
Bệnh nhân này là bà Anna Santaniello ở giáo phận Salerno, nay đã 94 tuổi, đã chịu tật dị tim từ nhỏ, đã được các bác sĩ tuyên bố là không thể nào chữa khỏi.
Vào năm 40 tuổi, tình trạng sức khỏe của bà bị suy kiệt trầm trọng, và bất chấp lời khuyên của các vị bác sĩ và gia đình của mình, bà quyết định đi viếng Đền Thánh Mẫu Lộ Đức. Bà đã cho Đài Phát Thanh Vatican biết phản ứng của ba bấy giờ như thế này:
“Tôi nói với tất cả họ rằng: ‘Tôi muốn đi. Nếu tôi có chết đi chăng nữa thì tôi muốn chết khi trông thấy Đức Mẹ”.
Bà cảm thấy rất khó thở và những tình nguyện viên ở Lộ Đức đã không muốn đưa bà từ nhà trọ cho bệnh nhân xuống hang Đức Mẹ, bà cũng cho Đài Phát Thanh Vatican biết phản ứng của bá lúc ấy như sau:
“Tôi đã cầu nguyện lớn tiếng để Mẹ có thể nghe thấy tôi, ‘Đức Trinh Nữ ơi, Mẹ cần phải cứu giúp con. Con đã thấy một bóng tối, một bóng tối trên bầu trời thì thào bên tai tôi rằng: ‘Đừng có nghe họ, hãy cứ đi, hãy cứ đi’. Hết mọi người đều cầu nguyện cho tôi, nam cũng như nữ. Họ đã cho tôi hôn tượng Đức Mẹ họ đang có ở đó trên bàn thờ nhỏ”.
Tật di tim của bà làm cho bà khó khăn trong việc đi đứng và nói năng một cách rõ ràng. Nó đồng thời cũng làm cho mặt bà bị xanh tím cùng với những chỗ xưng ở hạ phần tứ chi.
Ở Lộ Đức, các nữ tu đã đưa bà vào trong hồ nước và theo bà cho biết là bấy giờ “nước lạnh buốt. Thế nhưng tôi lập tức cảm thấy một cái gì đó sôi lên trong ngực của mình, như thể sự sống trở lại với tôi. Sau mấy giây đồng hồ, tôi đứng lên một mình và bắt đầu bước đi, không cần những người mang cáng giúp nữa, làm cho họ nhìn tôi không thể nào tin được”.
“Tôi bảo họ rằng ‘Hãy đi giúp những người khác, vì tôi có thể tự làm lấy được rồi. Tôi bước ra và đi vào công trường, bắt đầu phục vụ bữa ăn trưa cho bệnh nhân. Vào lúc 4 giờ chiều, họ có một cuộc rước kiệu Thánh Thể và tôi đã tham dự, hát ca.
“Tôi rất biết ơn Đức Mẹ vì tôi đã mất đi một người anh và một người chị cũng vì một chứng bệnh này: anh ấy bấy giờ 29 tuổi và chị ấy 33 tuổi”.
Trở về nhà, bà đã lấy hẹn gặp một vị bác sĩ nổi tiếng về tim, và vị này “nói với tôi rằng tôi chẳng có bị gì cả, tôi rất khỏe mạnh và ông ta không hiểu tại sao lại có tất cả những thứ chứng thư và khám xét đã được thực hiện trước đó”.
Bà đã trở lại Lộ Đức vào một số dịp sau đó để tự nguyện giúp đỡ thành phần bệnh nhân. Bà, gia đình và bạn hữu bà đã đến tham dự lễ nghi công bố phép lạ của bà, lễ nghi được diễn ra tại Chủng Viện John Paul II Metropolitan ở Pontecagnano.
“Việc hiện diện của nhiều bệnh nhân hành hương ở Lộ Đức, cũng như thành phần thiện nguyện viên đi kèm với họ, khiến chúng ta suy nghĩ đến việc chăm sóc từ mẫu và êm ái mà Vị Trinh Nữ này bày tỏ đối với nỗi đớn đau và khổ đau của loài người” (ĐTC Biển Đức XVI, Sứ Điệp Ngày Thế Giới Bệnh Nhân 11/2/2008).
“Đấng Cứu Chuộc thần linh muốn đi sâu vào tâm hồn của hết mọi con người đau khổ bằng trái tim của Người Mẹ Thánh của Người, một con người cao cả đầu tiên và trên hết trong thành phần được cứu chuộc” (ĐTC John Paul II, Apostolic Letter, "Salvifici doloris," n. 26).
Phép Lạ thứ 70
Phép lạ cuối cùng được thẩm quyền Giáo Hội chính thức chấp nhận vào năm 2013, và là phép lạ thứ 70 trong hơn 7 ngàn phép lạ từ đầu cho tới nay. Phép lạ thứ 70 này xẩy ra cho một nữ tu người Pháp là Bernadette Moriau, vị nữ tu bị chứng đau cột xương sống, phải ngồi trên xe lăn và hoàn toàn bị tàn tật từ năm 2008, và trong chuyến hành hương Lộ Đức Năm 2008, không hề xin ơn được chữa lành gì hết, nhưng sau khi lãnh nhận phép lành Thánh Thể cho bệnh nhân tham dự thì cảm thấy một dấu lạ xẩy ra nơi thân thể của mình, và khi về phòng riêng thì nghe thấy tiếng nói "hãy bỏ cái nẹp bó ra". Thế là vị nữ tu này từ đó tự nhiên bước ra khỏi xe lăn và không còn sử dụng thuốc giảm đau là morphine nữa.
Hành Hương Thánh Mẫu Lộ Đức
Trong cuộc Hành Hương Năm Thánh 2000, tôi được dịp viếng thăm Linh Địa Thánh
Mẫu Lộ Đức, tôi chợt nghĩ ra một điều, một điều mà nếu không đến đây, tôi
nghĩ chắc chắn tôi không bao giờ nghĩ ra và nghĩ được. Thật vậy, trong các
Linh Địa Thánh Mẫu, kể cả Linh Địa Fatima, thì phải công nhận một điều không
thể chối cãi được là Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức thật là thơ mộng, thật là hữu
tình. Có dịp mà không đến thì đúng là mất nửa đời người! Tại sao? Cảm nghĩ
của tôi tự nhiên có được sau khi mới từ Linh Địa Thánh Mẫu Fatima tới, đó là
vì Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức là nơi duy nhất Đức Mẹ hiện ra tươi cười, chứ
không hoàn toàn nghiêm trọng đến buồn thảm như ở các nơi khác, nhất là ở
Fatima.
Sự Tích Mẹ Lộ Đức được bắt đầu từ 18 lần Đức Mẹ hiện ra với Bênađét, một
thiếu nữ quê mùa nghèo nàn 14 tuổi tại một hang đá ở Lộ Đức thuộc miền Nam
Nước Pháp. Trong 18 lần hiện ra này, những lần quan trọng nhất là những lần
Mẹ tỏ cho Bênađét biết Mẹ là ai và muốn gì, như lần thứ ba ngày 18/2, lần
thứ tám, 24/2, lần thứ chín, 25/2, lần thứ mười ba, 2/3 và lần thứ mười sáu,
25/3.
Vào lần hiện ra thứ ba ngày 18/2, để đáp lại việc Bênađét đưa giấy, bút và
mực cho Mẹ để xin Mẹ viết xuống cho biết tên của Mẹ và Mẹ muốn gì, Mẹ đã trả
lời như sau: “Những gì Mẹ muốn nói với con không cần phải viết ra. Con có
sẵn lòng trở lại đây 15 ngày không? Mẹ không hứa với con được hạnh phúc ở
đời này mà là ở đời sau”.
Vào lần hiện ra thứ tám ngày 24/2, Mẹ kêu gọi Bênađét: “Hãy ăn năn thống
hối! Hãy ăn năn thống hối! Hãy ăn năn thống hối!” “Hãy cầu xin Thiên Chúa
cho các tội nhân!”. “Con hãy bò bằng đầu gối vào hang đá và hãy hôn đất để
tỏ dấu hiệu ăn năn thống hối thay cho các tội nhân”.
Vào lần hiện ra thứ chín ngày 25/2, theo lời Bênađét kể lại thì “Vị hiện ra
bảo tôi hãy đi uống nước suối. Vì không thấy suối đâu, tôi đã đến uống nước
sông (đó là con sông Gave, nhỏ song nước trong vắt và chảy suốt ngày đêm,
theo trí nhớ của khách hành hương này). Người bảo tôi không phải nước tôi
uống ở chỗ đó, rồi lấy tay chỉ ở dưới tảng đá. Tôi lại đó và chỉ thấy có một
chút nước hơi mằm mặn. Tôi đặt bàn tay tôi vào chỗ đó song không thể lấy
được một chút nước nào. Đoạn tôi lấy hai tay đào bới và đã lấy được chút
đỉnh. Tôi đã đổ đi ba lần vì bẩn, cho đến lần thứ bốn tôi mới uống được.
Người bảo tôi ăn một chút cỏ mọc chung quanh mạch suối ấy”.
Vào lần hiện ra mười ba, ngày 2/3, Bênađét đã thuật lại thế này: “Người bảo
tôi đi nói với các vị linh mục là hãy xây cất một Ngôi Đền ở đó. Tôi đã đi
vị linh mục giáo xứ nói cho ngài hay. Ngài trơ mắt nhìn tôi một lúc đoạn nói
với tôi một cách chắc ăn là ‘Vậy thì tên của Bá đó là gì?’. Tôi trả lời ngài
rằng tôi không biết. Ngài bảo tôi hãy đi hỏi tên của Người. Ngày hôm sau tôi
hỏi Người thì Người chỉ nhoẻn miệng mỉm cười”.
Vào lần hiện ra mười sáu, ngày 25/3, Bênađét cho biết như sau: “Sau hai tuần
lễ tôi đã hỏi Người tất cả là ba lần. Người cứ tiếp tục mỉm cười nên tôi
không dám hỏi Người nữa. Tuy nhiên, lần này Người lại hướng mắt lên trời,
chắp tay trước ngực mà nói cùng tôi rằng: ‘Ta là Đấng Đầu Thai Vô Nhiễm
Tội’. Đây là những lời cuối cùng Người nói với tôi. Đôi mắt của Người mầu
xanh dương”.
Ở Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức có ba điều chuyên biệt: thứ nhất là mạch nước
lạ, thứ hai là ngôi đền thờ, và thứ ba là tước hiệu Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Thứ nhất là mạch nước lạ, mạch nước này ở ngay trong hang đá, về phía dưới ở
bên phải chỗ Mẹ hiện ra. Mạch nước lạ này được đậy bằng một tấm pha lê trong
và chảy về hai phía, một phía cho khách hành hương lấy phúc uống và một phía
cho họ tắm. Phía nước uống được hệ thống hóa xong từ năm 1949 và khu nước
tắm được hoàn thành từ năm 1955. ĐTC Gioan Phaolô II đã uống nước này vào
ngày 14/8/1983. Và vô số phép lạ đã thực sự xẩy ra tại đây, được hội đồng y
khoa địa phương được thành lập từ năm 1882 và hội đồng y khoa quốc tế thành
lập từ từ năm 1952 công nhận, trong số đó, từ lần xẩy ra đầu tiên ngày
1/3/1858 đến ngày 28/6/1989, tất cả có 65 phép lạ được Giáo Hội chính thức
công nhận.
Thứ hai là ngôi đền thờ, như Mẹ yêu cầu, đã được thực hiện, đó là Đại Thánh
Đường Vô Nhiễm. Đại Thánh Đường Vô Nhiễm này là một trong 4 đại thánh đường
tại Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức. Ba đại thánh đường khác là Đại Thánh Đường
Mân Côi, Đại Thánh Đường Thánh Giáo Hoàng Piô X, và Đại Thánh Đường Thánh
Bênađét được thánh hiến năm 1988. Đại Thánh Đường Vô Nhiễm được bắt đầu xây
vào năm 1866, lúc mà Ngôi Nhà Nguyện Hầm nhỏ được xây nằm ở phía bên trên
được hoàn tất cùng năm. Đại Thánh Đường Vô Nhiễm được hoàn tất năm 1871 và
được thánh hiến năm 1876. Đại Thánh Đường Vô Nhiễm này ở tầng hai, dưới Ngôi
Nhà Nguyện Hầm ở tầng nhất và trên Đại Thánh Đường Mân Côi ở tầng đất. Đại
Thánh Đường Mân Côi được xây cất 30 năm sau biến cố Thánh Mẫu Lộ Đức và được
thánh hiến vào năm 1901. Đại Thánh Đường Thánh Giáo Hoàng Piô X được thánh
hiến năm 1958, kỷ niệm bách chu niên Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức, được xây dưới
lòng đất theo hình chiếc tầu lật ngược, chứa được 27 ngàn người, nằm về phía
Tây hang Mẹ hiện ra ở bên kia sông Gave, phải đi qua một chiếc cầu. Đại
Thánh Đường Thánh Bênađét được thánh hiến năm 1988, chứa được 5000. Tổng
Thánh Đường chính của Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức gồm có ba tầng: tầng nhất là
Ngôi Nhà Nguyện Hầm nhỏ, tầng hai là Đại Thánh Đường Vô Nhiễm, và tầng ba là
Đại Thánh Đường Mân Côi. Tổng Thánh Đường này, phía Tây ở bên hông dính liền
với hang động chỗ Mẹ hiện ra, và phía Bắc trước mặt là Công Trường Lộ Đức
hình trái tim.
Thứ ba là tước hiệu Vô Nhiễm Nguyên Tội, một tước hiệu nói lên đặc ân vô
cùng cao cả của Mẹ đã được Giáo Hội, qua Á Thánh Giáo Hoàng Piô IX, chính
thức tuyên tín thành tín điều vào chính ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12/1854, gần
bốn năm trước Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức.
Ngoài ra, tại Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức, chúng ta còn có thể đi viếng 14
Đàng Thánh Giá ở ngọn đồi phía Đông của Khu Đền Thờ ba tầng. Cả một ngọn đồi
rộng được xây cất cho 14 Chặng Đường Thánh Giá, một chặng đường Thánh Giá vĩ
đại tôi chưa từng thấy, và tôi thích nhất là chặng cuối cùng ở mãi sâu dưới
chân đồi, hết sức tự nhiên, vì đó là một hang động đá hoàn toàn thiên nhiên,
có thể nói lên ý nghĩa đích thực của ngôi mộ đá Chúa Giêsu được táng xác như
Phúc Âm nhắc tới. Chưa hết, ngay trong khu Linh Địa, còn có Bảo Tàng Viện
lưu niệm tất cả mọi di tích lịch sử về Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức. Bên ngoài
khu Linh Địa, vế phía bắc, khách hành hương có thể ra khu phố có nhà ở của
chị Bênađét nữa.
Vì Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức, ngoài tiếng tăm về phép lạ chữa lành, vừa thơ
mộng hữu hình, vừa nguy nga tráng lệ nên thật sự đã thu hút khách hành hương
tuốn về hết sức đông đảo và nhộn nhịp.
Đúng thế, những sinh hoạt hằng ngày chính yếu tại đây gồm có hai cuộc kiệu,
đó là kiệu Thánh Thể ban chiều, từ Lều Tạm ở bên kia bờ sông Gave vào hầm
Đại Thánh Đường Thánh Giáo Hoàng Piô X, các bệnh nhân ngồi trên xe lăn được
theo kiệu và lĩnh phép lành Thánh Thể, và cuộc rước nến vào buổi tối, từ
hang Mẹ hiện ra, qua công trường Lộ Đức, đến trước tiền đường Đại Thánh
Đường Mân Côi, cho chung khách hành hương, bằng việc lần hạt bằng các thứ
ngôn ngữ quốc tế. Riêng tại Đại Thánh Đường Thánh Giáo Hoàng Piô X còn có
Thánh Lễ Quốc Tế vào các ngày Thứ Tư và Chúa Nhật hằng tuần. Ngoài ra, tại
các Đại Thánh Đường khác, nhất là tại chính hang Mẹ hiện ra, lúc nào cũng có
Thánh Lễ của hết phái đoàn hành hương này đến doàn hành hương kia.
Đó chính là lý do, để kết thúc về Sự Tích Đức Mẹ Lộ Đức, tôi xin chia sẻ
kinh nghiệm hành hương tại Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức như sau. Muốn tránh
cảnh nhộn nhịp với đủ mọi thứ tổ chức ban ngày lẫn ban tối ở đủ mọi nơi và
mọi lúc như thế, nhất là để có thể thực sự cảm thấy cái linh thiêng được gần
gũi với Mẹ Maria hơn, chúng ta hãy cố dậy từ sáng sớm, đến chính hang Mẹ
hiện ra vào lúc 5 giờ sáng, giờ Mẹ thường hiện ra với chị Bênađét ngày xưa,
và hãy qùi trước hang Mẹ mà cầu nguyện bằng chuỗi hạt Mân Côi trong tay với
Mẹ, như Mẹ đã lần hạt với chị Bênađét xưa kia vậy. Amen.
Ngày Lễ Mẹ Lộ Đức hằng năm cũng đã được Giáo Hội chọn là Ngày Thế Giới Bệnh
Nhân. Để hiệp thông với Giáo Hội Hoàn Vũ đang cử hành Ngày Thế Giới Bệnh
Nhân lần thứ chín tại Giáo Đô Rôma vào Chúa Nhật ngày 11/2 kính Mẹ Lộ Đức
cuối tuần này, cũng như để thông cảm và an ủi quí thính giả bệnh nhân rất
thương mến của chúng ta, chúng ta hãy cùng nhau lắng nghe lại huấn từ Đức
Thánh Cha đã nhắn nhủ thành phần bệnh nhân trong ngày Thứ Sáu 11/2 Năm Thánh
2000, khi họ qui tụ về Rôma để Mừng Ngày Năm Thánh của họ, ngày mà 200 người
đại diện cho bao ngàn bệnh nhân được Đức Thánh Cha ban phép Xức Dầu Thánh
tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Sau đây là lời của ĐTC:
“Đau đớn và bệnh nạn là số phận nơi mầu nhiệm của con người trên trái đất
này. Dĩ nhiên con người vẫn có quyền chiến đấu với bệnh nạn, vì sức khỏe là
một tặng ân của Thiên Chúa. Thế nhưng, người ta cũng cần phải làm sao để có
thể nhận ra dự án của Thiên Chúa mỗi khi đau khổ đến gõ cửa nhà của chúng ta
nữa. ‘Chìa khóa’ để có thể nhận thức được điều này ở nơi Thập Giá của Chúa
Kitô. Lời nhập thể đã ôm lấy nỗi yếu đuối của chúng ta, mang lấy nó trong
mầu nhiệm Thập Giá. Từ bấy giờ, tất cả mọi khổ đau có một ý nghĩa khả dĩ làm
cho nó có một giá trị đáng kể. Từ ngày của Cuộc Khổ Nạn, qua 2000 năm rồi,
Thập Giá vẫn chiếu sáng như là một cuộc bộc lộ tối hậu mối tình của Thiên
Chúa yêu thương chúng ta. Những ai có thể chấp nhận nó trong đời sống của
mình đều cảm thấy rằng đau đớn theo ánh sáng đức tin đã trở thành nguồn hy
vọng và cứu độ” (đoạn 3.1).
“Quí bệnh nhân thân
mến, đây là giây phút tuyệt đỉnh của Cuộc Mừng Kỷ Niệm của các con! Bằng
việc bước qua ngưỡng Cửa Thánh, các con hợp với tất cả những ai trên khắp
thế giới đã bước qua đó và những ai sẽ bước qua đó trong Năm Mừng Kỷ Niệm
này. Chớ gì việc bước qua Cửa Thánh là dấu hiệu của việc các con thiêng
liêng tiến vào mầu nhiệm của Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc tử giá và phục sinh,
Đấng vì yêu đã mang lấy ‘những sầu thương và gánh chịu những buồn phiền của
chúng ta’ (Is 53:4)” (đoạn 4.2).(L’Osservatore Romano ấn bản Anh ngữ,
16/2/2000, trang 2)
(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL)
Thứ Bảy
THÁNH CYRILLO VÀ MÊTHÔĐÔ
Toàn cầu: Lễ Kính – Ở Âu châu: Lễ Buộc
14/2

17/6/2009 Bài 86 về Hai Thánh Cyril
và Methodius (ĐTC Biển Đức XVI)

Ngày lễ Kính thánh Cyrillô và Mêthôđô, được kính như các Tông đồ dân Slavơ và được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố năm 1980, như thánh Quan thầy Âu châu, cùng tước hiệu với thánh Bênêđictô, trùng với ngày qua đời của thánh Cyrillô, khi đến Rôma vào ngày 14.02.869.
Trong thế kỷ IX, Hội Thánh đã trải rộng khắp miền Đông Âu châu và trong vùng vịnh Địa Trung Hải, và bây giờ lại bành trướng sang những chân trời mới. Các dân tộc Slavơ tiếp nhận Tin Mừng được hai nhà đại truyền giáo đem đến: Là thánh Cyrillô và Mêtôđô. Các ngài sinh tại Thêxalônica (Đông Bắc Hy Lạp), được Hội Thánh chính thống Byzantium (Đế quốc La Mã phương Đông) sai đi rao giảng Tin Mừng Moravia (Vùng đất phía Đông của Cộng hòa Séc ngày nay) và đã gặt hái được những thành công.
Trước khi đi truyền giáo vùng Moravia, Méthôđô là Tổng trấn một tỉnh người Slavơ và Cyrillô, nhỏ tuổi hơn, nhưng lại sáng chói hơn, đã chu toàn những sứ vụ tôn giáo và ngoại giao quan trọng. Cả hai nói lưu loát tiếng Slavơ.
Sứ vụ làm cho hai vị nổi tiếng là sứ vụ do Thượng phụ Photios sai đi từ năm 862-963 với mục đích dạy dỗ và Phúc Âm hóa dân Slavơ ở Moravia trong ngôn ngữ của họ. Vì thế Cyrillô và Mêthôđô bắt đầu dạy ngữ vựng đầu tiên, được gọi là “Cyrillique” và họ cũng đã dịch các văn bản tôn giáo ra tiếng Slavơ: Thánh vịnh, các Phúc Âm, các thư Tông đồ, kinh nguyện…
Để ghi chép tiếng của các dân tộc này và viết lại Kinh Thánh bằng tiếng nói của họ, hai anh em ruột đi truyền giáo này đã hoàn thành bảng mẫu tự mới. Trong ngôn ngữ Slavơ, các ngài không những đã cử hành phụng vụ, mà còn thiết lập một nền tảng cho nền văn hóa Kitô hữu mới. Những khó khăm nghiêm trọng, nhất là cuộc chiến tranh giữa những người Đức và những người Slavơ, đã gây cản trở cho việc Tông đồ của các ngài. Đàng khác Giáo hội Byzantin không nâng dỡ đủ mức cho công cuộc truyền giáo nên các ngài đã kêu xin sự trợ giúp và nâng đỡ từ Giáo Hội Rô-ma. Đức Thánh Cha Ađrianô II đã chấp thuận công cuộc truyền giáo và phương pháp mục vụ của các ngài. Thánh Cy-ril-lô qua đời tại Rôma năm 869; thánh Mêtôđô sau khi được tấn phong Giám mục tại Rôma, đã trở lại rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng chịu đựng biết bao mệt nhọc ghê gớm ở cả một miền truyền giáo mênh mông gồm Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slovác, và hầu như toàn bộ vùng Nam Tư cũ như Slovenia và Croatia.
Truyền thuyết nói rằng, trong một giai đoạn cực kỳ hăng say, Ðức Mêthôđiô đã chuyển dịch toàn bộ Phúc Âm sang tiếng Slavơ chỉ trong vòng tám tháng. Ngài từ trần vào ngày thứ Ba Tuần Thánh, với các môn đệ tụ tập chung quanh. Sau khi Thánh Mêthôđiô qua đời năm 885 tại Veherad thuộc Tiệp Khắc, sự chống đối vẫn chưa dứt, và công trình của hai anh em thánh nhân ở Moravia đã đi vào chỗ tận tuyệt, các môn đệ của hai ngài phải phân tán khắp nơi. Nhưng sự trục xuất ấy đã có ảnh hưởng tốt đẹp trong việc phổ biến các công trình về phụng vụ, về tâm linh và văn hóa của hai anh em thánh nhân đến các vùng Bulgaria, Bohemia và nam Ba Lan.
Sau cái chết của người em, Méthôđô được gọi làm Giám mục ở Pannonie và Sứ thần Toà Thánh cho dân Slavơ; ngài gặp nhiều khó khăn do sự chống đối của hàng giáo sĩ Đức; nhưng điều này không ngăn cản được công trình Phúc Âm hoá và hội nhập văn hóa mà ngài đã theo đuổi cho đến chết (885).
Các môn đệ ngài đã rao giảng Tin Mừng miền Bohême, ông hoàng Bozyvojd được rửa tội theo nghi thức Slavơ, sau đó là dân Serbie và Lusace (vùng Croatia), tiếp đến là Ba Lan, Bulgarie, Roumanie và vùng Kiev.
Với công trình như thế, chúng ta mới thấy được công khó của hai thánh Cyrillô và Mêthôđô trong việc thiếp lập các cộng đoàn Kitô giáo trong nhiều vùng Đông Âu. Việc này đã tạo một bước tiến để thành lập Âu châu, không những về mặt tôn giáo, nhưng cả về mặt chính trị và văn hóa.
Mỹ thuật trình bày thánh Cyrillô với bản ngữ vựng, và thánh Mêthôđô với một quyển Phúc Âm mở ra, được ghi bằng tiếng Slavơ.
Thánh Cyrillô ngã bệnh và biết trước giây phút cuối cùng của mình, vẫn nhận ra ơn gọi cao cả: “Xưa tôi chưa hiện hữu, bây giờ tôi đã hiện hữu và tôi sẽ hiện hữu mãi mãi.” Ngài cầu nguyện cùng Thiên Chúa: “Lạy Chúa, xin gìn giữ đàn chiên trung thành này… Xin triển khai Giáo hội với số lượng cao và qui tụ mọi thành phần vào trong sự hiệp nhất. Xin thu tóm tất cả thành một dân được tuyển chọn, kết hiệp mọi người trong đức tin và giáo lý chính thống…” (Phụng vụ giờ Kinh).
Được giao nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô, Cyrillô và Mêthôđô đã giảng dạy “Đức tin chân thật và giáo lý chính thống”, nhưng hai ngài còn hoàn tất công tác Phúc Âm hóa khi hội nhập sứ điệp Kitô giáo vào trong văn hóa các dân Slavơ. Nhờ thế, khi công trình của hai vị được hoàn tất, đã cho phép ngôn ngữ Slavơ xứng đáng trở thành văn tự phổ biến. Nhờ việc đề cao ngôn ngữ và văn hóa, các dân tộc Slavơ đã có thể chống cự lại thứ chính trị thống trị và đồng hóa của người Đức và người Hy Lạp.
Công trình của Cyrillô và Mêthôđô vô cùng to lớn, đánh dấu bằng sự can đảm trí thức và sự khiêm tốn, vì trong thời gian mà người ta chỉ được cầu nguyện ca tụng Thiên Chúa bằng tiếng Do Thái, Hy Lạp hay Latinh, hai vị thánh Tông đồ của dân Slavơ đã đáp trả bằng tiếng Slavơ, và qua đó cho thấy mọi người có thể đến gần với Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của mình.
Bên cạnh các tác phẩm tôn giáo, cả hai đã dịch và suy diễn “Bộ luật Justinien”, được xem như bộ luật cổ nhất của Slavơ (Zakon Sudnyj). Người ta cũng cho rằng thánh Mêthôđô đã dịch quyển Nomokanon [Luật của Giáo hội], thu tập các luật Giáo hội và luật dân sự Byzantin.
Phúc Âm được chọn cho Thánh lễ này là dụ ngôn người gieo giống (Mc 4,1-20). Các khó khăn mà vị Tông đồ đã phải gánh chịu (Mêthôđô cũng đã phải vào tù) không ngăn cản được hạt giống rơi vào đất tốt và mang lại nhiều hoa trái.
Công trình Phúc Âm hóa vẫn chưa kết thúc. Chính vì thế Hội Thánh, trong ngày lễ kính hai vị thánh Tông đồ này, đã hát trong Thánh lễ Thánh vịnh 95: Từ ngày này sang ngày khác, hãy công bố ơn cứu độ của Người / hãy thuật lại cho muôn dân vinh quang của Người / cho muôn dân kỳ công của Người. Chúng ta có thể nhắc lại những lời cuối cùng của Cyrillô nói với anh mình là Mêthôđô: “Anh ơi, chúng ta đã chia sẻ cùng một số phận, cùng dắt một cái cày trên cùng một luống. Em biết anh vẫn thích Núi thánh của anh (sự cô tịch), nhưng đừng bỏ trách nhiệm giảng dạy để trở về với núi đó. Thật vậy, anh tìm được nơi nào để hoàn tất ơn cứu độ của anh?”
Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB
http://loichua.donboscoviet.org/ngay-14-thang-2-thanh-cyrillo-va-thanh-methodio/
Thánh Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô là hai anh em ruột, sinh tại Tê-xa-lô-ni-ca, trong một gia đình quyền quý đạo giáo.
Lớn lên, hai anh em theo học tại Công-tăn-ti-nốp. Và sau khi tốt nghiệp, các ngài đã chiếm địa vị cao trong xã hội. Nhưng các ngài đã từ bỏ hư danh trần thế, dâng mình đi tu làm linh mục, phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn.
Lúc đó, vua nước Mô-ra-vi mến mộ đạo Chúa, tin các vị thừa sai và mời vào nước giảng đạo. Hai anh em Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô biết tiếng Sla-vơ, nên được chọn đến rao giảng Tin Mừng cho nước này, Các ngài sốt sắng nhiệt thành rao giảng đạo Chúa, đem nhiều người trở lại đạo.
Để giúp họ dễ dàng học hỏi giáo lý và tham dự các Bí tích nhất là Thánh lễ, các ngài dịch Kinh Thánh và các bản văn phụng vụ ra tiếng Sla-vơ. Và vì họ chưa có chữ viết nên thánh Sy-ri-lô sáng tạo ra 38 chữ cái cho họ viết.
Nhờ đó, người theo đạo Chúa ngày càng đông, nhất là tham dự Thánh lễ đông hơn các nhà thờ hành lễ bằng tiếng Latin. Các linh mục theo La Ngữ thấy vậy thì tố cáo các ngài lạc đạo, buộc lòng các ngài phải đến Roma biện minh với Đức Giáo Hoàng.
Đức Giáo Hoàng chấp nhận bản dịch của các ngài. Nhưng trong lúc ở đó, thánh Sy-ri-lô lâm bệnh và qua đời, ngày 14 tháng 2 năm 869. Trước khi chết, ngài sốt sắng cầu xin Chúa gìn giữ đoàn chiên ngài đã dày công sáng lập, và cho Hội thánh đồng tâm nhất trí và lan rộng khắp nơi. Ngài cầu nguyện: – Lạy Chúa là Thiên Chúa con, Chúa đã dựng nên các phẩm thiên thần và các đạo binh thần trí vô hình; Chúa đã mở rộng bầu trời và đã đặt đất trên nền tảng vững vàng. Chúa đã kéo mọi vật từ vô hữu sang hiện hữu. Chúa luôn luôn nghe lời những người làm theo ý Chúa. Xin Chúa nhậm lời con nguyện và gìn giữ đoàn chiên trung thành này mà Chúa đã đặt con đây là kẻ bất xứng lên đứng đầu. Xin Chúa cứu họ khỏi lòng độc dữ và ngoại đạo của những kẻ hằng lộng ngôn tới Chúa; Xin Chúa làm cho Hội thánh thêm đông số và đoàn tụ tất cả nên một. Xin Chúa làm cho Hội thánh trở thành dân được chọn, đồng tâm nhất trí trong đức tin chân thật và giáo lý chân chính; xin Chúa đặt lời giáo huấn của Chúa vào lòng họ; vì chính nhờ ơn Chúa, chúng con đã được lãnh nhận sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô, nhờ được khuyến khích làm các việc lành và mọi sự đẹp lòng Chúa.. Chúa dùng sức mạnh tay hữu Chúa mà hướng dẫn họ và cho họ nấp bóng Chúa, để mọi người ca ngợi Chúa và chúc tụng thánh danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.
Đức Giáo Hoàng truyền cho mọi người Hy Lạp có mặt ở Rôma phải họp với dân thành Rôma cầm nến đi đưa đám ngài như có thói quen làm cho chính các vị Giáo Hoàng. Và mọi người đã làm như thế.
Còn lại thánh Mê-tô-đi-ô, ngài được Đức Giáo Hoàng phong chức Giám mục cai quản miền Mô-ra-vi và Pan-nô-ni.
Khi trở lại Mô-ra-vi, thánh nhân đã bị những người dâng lễ theo tiếng Latin bắt giam.. Và ngài đã qua đời tại đây ngày 6 tháng 4 năm 885.
* Quyết tâm: Noi gương thánh Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô, hằng ngày lo giúp người dốt nát biết chữ, biết Chúa, và cầu nguyện cho Hội thánh là đoàn chiên Chúa ngày càng thêm đông số và hiệp nhất.
* Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã dùng hai anh em thánh Sy-ri-lô và thánh Mê-tô-đi-ô để đưa các dân tộc Xi-la-vô-ni-a tới ánh sáng Tin Mừng. Xin mở lòng chúng con đón nhận Lời Chúa dạy, và biến đổi chúng con thành dân riêng của Chúa, luôn đồng tâm nhất trí với nhau để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng.
GPVL
http://giaoxutanviet.com/ngay-14-thang-2-thanh-sy-ri-lo-dan-si-thanh-me-to-di-o-giam-muc/
Valentine Day 14/2
Có thể bạn đã từng nghe câu chuyện này, nhưng chắc rằng không phải tất cả mọi người đều biết hết về câu chuyện của thánh Valentine, nếu các bạn muốn nghe câu chuyện này thì hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng theo câu chuyện do chính thánh Valentine kể cho các bạn về điều gì đã xảy ra với ngài và tại sao trên khắp thế giới người ta lại kỷ niệm ngày lễ của Tình Yêu.
Tôi
xin được tự giới thiệu về mình. Tên của tôi là Valentine, là Giám mục
sống ở Rome vào thế kỷ thứ 3. Vào thời đó, Rome nằm dưới sự cai trị của
Hoàng đế Claudius. Tôi không thích Hoàng đế Claudius và mọi người dân
thành Rome cũng không thích ông hoàng Claudius.
Vào thời đó, Hoàng đế Claudius muốn xây dựng một đội quân hùng mạnh. Ông muốn tất cả đàn ông phải tham gia vào đội quân. Nhưng đa số người dân không muốn chiến tranh, họ không muốn phải chém giết lẫn nhau và phải rời xa gia đình mình. Và như các bạn có thể đoán, rất nhiều người đã không nhập ngũ. Điều này làm Hoàng đế Claudius rất giận dữ. Ông ta cho rằng nếu những người đàn ông không lấy vợ thì họ sẽ không phản đối việc tham gia vào quân đội.
Thế là, ông Hoàng Claudius quyết định không cho phép bất cứ một người đàn ông nào được kết hôn. Những thanh niên trai tráng rất tức giận với cái luật mới này của ông ta. Tôi cũng không ủng hộ luật này. Bởi vì, các bạn có biết không, tôi là một linh mục và công việc yêu thích nhất của tôi là se duyên cho các cặp tình nhân đấy. Vậy là, sau khi Hoàng đế Claudius ban hành điều luật của ông ta thì tôi vẫn tiếp tục đứng ra tổ chức các đám cưới và tất nhiên là một cách bí mật. Mà điều này lại dường như là rất thú vị. Các bạn hãy tưởng tượng xem trong một không gian nhỏ với một cây nến chỉ có cô dâu, chú rể và tôi. Tôi thì thầm đọc những lời nguyện cho đám cưới trong những tiếng bước chân rình rập của những tên lính.
Và một đêm khi đang làm đám cưới cho một đôi tình nhân tôi nghe thấy tiếng bước chân. Thật là kinh hoàng. Nhờ ơn Chúa, đôi tình nhân đã kịp trốn thoát, nhưng tôi đã bị bắt (có lẽ tại bước chân của tôi đã không còn nhanh nhẹn như trước đây). Tôi bị đưa ra toà và bị kết án tử hình. Những ngày còn lại trong tù chờ án tử hình tôi cố gắng sống một cách vui vẻ. Các bạn có biết điều gì xảy ra với tôi không? Mọi việc thật là tuyệt vời. Rất nhiều thanh niên đã đến nhà tù để thăm tôi. Họ ném hoa và những lá thư qua cửa sổ cho tôi. Họ muốn tôi biết rằng họ sẽ luôn luôn tin vào tình yêu. Một cô gái em của người cai tù được anh trai cho phép cô vào nhà tù thăm tôi. Chúng tôi đã ngồi và nói chuyện với nhau hàng giờ liền. Cô gái đã giúp tôi luôn giữ vững tinh thần. Vào ngày tôi phải lên đoạn đầu đài, tôi đã chuyển một lá thư cảm ơn đến cô gái vì tình bạn và lòng trung thành mà cô gái đã dành cho tôi, và tôi ký dưới bức thư dòng chữ: “Tình yêu của Valentine dành cho con.” Tôi tin rằng lời nhắn ấy đã dẫn đến phong tục trao đổi những bức thông điệp tình yêu vào ngày Valentine.
Bức thông điệp của tôi được viết vào ngày 14 tháng 2 năm 269 sau Công nguyên. Giờ đây, hàng năm vào ngày này mọi người lại tưởng nhớ tôi, nhưng tôi cho rằng điều quan trọng nhất là mọi người luôn nghĩ về tình yêu và tình bạn vào ngày này. Và mọi người nghĩ đến Hoàng đế Claudius, người đã cố sức ngăn cản tình yêu nhưng tình yêu đã luôn luôn chiến thắng. Khoảng hai thế kỷ sau đó, vào năm 496 sau Công nguyên, Giáo Hoàng Gelaius đã quyết định lấy ngày 14-2 là ngày lễ cho các cặp tình nhân gặp gỡ và tìm bạn trăm năm và ông đã chọn một Thánh để đại diện cho những người yêu nhau. Giám mục Valentine đã được chọn là Thánh quan thầy của Lễ hội này. Bây giờ bạn đã biết được câu chuyện về ngày Thánh Valentine. Và nếu bạn không biết làm gì vào ngày này, thì có lẽ bạn có thể kể câu chuyện về Thánh Valentine cho bạn bè của bạn, gia đình hoặc một người nào đó bạn muốn gây ấn tượng.
Hải Âu
http://suyniemhangngay.net/2020/02/21/cau-chuyen-cua-thanh-valentine/
https://www.songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=2955
Ngày Valentine 14/2 là ngày lễ đặc biệt dành cho các đôi tình nhân trên toàn thế giới. Đây là dịp đôi lứa dành cho nhau các món quà lãng mạn như hoa hồng, chocolate, trao cho nhau những nụ hôn "tình củm". Cùng chúng tớ tìm hiểu về vị thánh trong truyền thuyết và ngày lễ đặc biệt này nhé!
Có lẽ châu Âu là nơi có nhiều dị bản nhất xung quanh vị thánh này. Trong đó,
truyền thuyết phổ biến nhất kể về Thánh Valentine là một người xuất thân từ
trần gian thời La Mã cổ đại. Dưới thời kì trị vì của hoàng đế Claudius đệ
nhị, đế chế La Mã tham gia vào rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược đẫm máu.
Nhà vua rất khó khăn trong việc tuyển mộ quân lính. Claudius bạo chúa nghĩ
rằng đó là do đàn ông còn bận tâm về gia đình vợ con nên mất hết ý chí; thay
vào đó, những người đàn ông trẻ độc thân thì chiến đấu sẽ tốt hơn. Kết quả
là một đạo luật hà khắc ra đời: ông đã cấm tất cả đàn ông được kết hôn. Đạo
luật đi trái với ý Chúa và dân tình nên gây ra nhiều phẫn nộ.
Trước tình cảnh đó, một vị linh mục nhân ái tên Valentine đã bí mật tổ chức
hôn lễ cho nhiều cặp tình nhân trong nhà thờ. Sự việc bại lộ, vị linh mục
tốt bụng bị bắt giam trong ngục trước khi bị xử tử bởi hình phạt dã man là
chém đầu, kéo lê xác khắp thành. Điều kì diệu là thời gian sống trong ngục
tối, linh mục đã giúp chữa khỏi mắt cho con gái quản ngục vốn mù lòa bẩm
sinh tên Julia. Trước khi ra pháp trường ngày 14/2 khoảng năm 270 TCN, ông
đã gửi cho Julia một tấm thiệp kí tên “dal vostro Valentino” - “from your
Valentine”. Cảm động trước lòng tốt của vị linh mục tốt bụng này, ngày lễ
Valentine ra đời với ý nghĩa tưởng nhớ những công lao của ông trong việc bảo
trợ tình yêu con người.
Một dị bản khác về xuất xứ của ngày Valentine đó là từ các lễ hội Công giáo.
Cụ thể ở đây là xuất phát từ lễ hội Lupercalia chỉ có tại Rome cổ đại được
tổ chức vào khoảng ngày 13-15/2 hàng năm nhằm tưởng nhớ nữ thần La Mã Juno.
Trong ngày này, các cặp đôi sẽ được se duyên thông qua hình thức rút thăm
tựa như một hệ thống quay số tình yêu. Những cặp đôi được se duyên sẽ làm
quen và nếu thực sự có tình cảm với nhau sẽ trở thành tình nhân. Sau đó,
ngày này được các mục sư chuyển thành ngày tình nhân Valentine 14/2.
Một điều thú vị không kém khi tìm hiểu về lễ tình nhân ở các nước châu Âu đó
là quan niệm của họ về tình yêu. Với người phương Tây, họ cho rằng vào giữa
tháng 2, chim chóc bắt đầu bước vào mùa tìm bạn tình nên khoảng thời gian
này là đẹp nhất trong năm cho các đôi lứa tìm hiểu và yêu nhau, dành cho
nhau những gì tốt đẹp nhất. Ý niệm về một ngày lễ tình yêu giữa tháng 2 có
lẽ xuất phát từ đây.
Ở các nước châu Mĩ, ngày lễ tình nhân còn có những cái tên khác. Ở Brazil,
Valentine không diễn ra vào 14/2 như các nước khác. Nó diễn ra vào ngày 12/6
hàng năm và mang tên “Dia dos namorados” có nghĩa là "Ngày của tình yêu".
Còn ở Colombia, Valentine được tổ chức vào ngày thứ 7 tuần thứ ba của tháng
9 với cái tên “Dia del amor y amistad” (Ngày tình yêu và tình bạn).

Người ta nghĩ rằng Thánh Valentine đã từng là linh mục ở Rôma cũng như là một y sĩ. Vì không chịu từ вỏ đức tin, ngài được тử đạo vào ngày 14 tháng Hai. Chúng ta không biết gì nhiều về ngài, nhưng ngay vào khoảng năm 350, một nhà thờ đã được xây cất nơi ngài тử đạo.
Truyền thuyết nói rằng ngài là một linh mục thánh thiện đã cùng với Thánh Marius giúp đỡ các vị тử đạo trong thời Claudius II. Ngài bị вắт và bị gửi cho tổng trấn Rôma xét χử. Sau khi dụ ∂ỗ mọi cách nhưng đều vô hiệu, quan tổng trấn đã ra ℓệин cho lính dùng gậy đáин đập ngài, sau đó đưa đi ᑕᕼéᗰ đầu vào ngày 14 tháng Hai, khoảng năm 269. Người ta nói rằng Ðức Giáo Hoàng Julius I đã cho xây một nhà thờ gần Ponte Mole để kính nhớ ngài.
Nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc việc cử hành ngày Valentine. Một số cho rằng người Rôma có một tập tục vào giữa tháng Hai, trong ngày ấy các con trai tô điểm tên các cô con gái để tỏ lòng tôn kính nữ thần ᗪâᗰ ᗪụᑕ là Februata Juno.
Các tu sĩ thời ấy muốn ᗪẹᑭ ᗷỏ tập tục này nên đã thay thế bằng tên các thánh tỉ như Thánh Valentine. Một số khác cho rằng thói quen gửi thiệp Valentine vào ngày 14 tháng Hai là vì người tin tin rằng các con chim bắt đầu sống thành cặp vào ngày này, là ngày Thánh Valentine bị ᑕᕼéᗰ đầᑌ.
Dường như chắc chắn hơn cả là vào năm 1477, người Anh thường liên kết các đôi uyên ương với ngày lễ Thánh Valentine, vì vào ngày này, 14 tháng Hai, “mọi chim đực đi tìm chim mái .” Tục lệ này trở thành thói quen cho các đôi trai gái viết thư tình cho nhau vào ngày Valentine. Và ngày nay, các cánh thiệp, quà cáp và thư тử trao cho nhau là một phần của việc cử hành Ngày Valentine.
https://conggiaovn.com/thanh-valentine-va-lich-su-ngay-tinh-yeu-14-2-21/
