Bài Ðọc I: Gr 20,
10-13
"Người đã cứu thoát mạng sống người
bất hạnh khỏi tay kẻ dữ".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Ta đã nghe nhiều người thoá mạ và chế
nhạo rằng: "Người này gieo khủng bố khắp nơi: Hãy tố cáo nó, chúng ta hãy tố
cáo nó". Tất cả bạn hữu tôi rình tôi vấp ngã mà nói rằng: "Ước gì nó bị lừa
dối để chúng ta thắng nó và sẽ trả thù nó". Nhưng Chúa ở cùng tôi như người
lính chiến hùng dũng; vì thế, những kẻ bắt bớ tôi sẽ ngã quỵ và kiệt sức:
Chúng sẽ thất bại bẽ bàng, chuốc lấy sự hổ nhục muôn đời, không bao giờ quên
được. Còn Chúa, lạy Chúa các đạo binh, Ðấng xét xử người công chính, thấu
suốt tâm can, lạy Chúa, ước gì con sẽ được thấy Chúa trả thù nó cho con, vì
con đã tỏ bày công việc con cho Chúa. Hãy hát mừng Chúa, hãy ca tụng Chúa,
vì Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 68,
8-10. 14 và 17. 33-35
Ðáp: Lạy
Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi (c. 14c).
Xướng: 1) Sở dĩ vì Chúa mà con chịu
nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người anh em coi như
khách lạ, bị những người cùng con một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm
lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi, điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa đổ
trên mình con. - Ðáp.
2) Nhưng, lạy Chúa, con dâng lời
nguyện cầu lên Chúa, ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm
lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa. Lạy
Chúa, xin nhậm lời con vì lòng khoan nhân trắc ẩn, theo lượng cả đức từ bi
xin nhìn đến tấm thân con. - Ðáp.
3) Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và
hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe
những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân Người bị bắt cầm tù. Hãy ngợi
khen Chúa, hỡi trời và đất, biển khơi và muôn vật sống động bên trong. -
Ðáp.
Bài Ðọc II: Rm 5,
12-15
"Không phải như tội phạm thế nào,
thì ơn ban cũng thế ấy đâu".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín
hữu Rôma.
Anh em thân mến, cũng như do một người
mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự
chết đã truyền tới mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội. Trước khi có
lề luật, đã có tội trên thế gian; nhưng tội không bị bắt lỗi, khi không có
lề luật. Nhưng từ Ađam cho đến Môsê, sự chết ngự trị cả trên những kẻ không
phạm tội giống như sự lỗi phạm của Ađam, hình ảnh của người đến sau.
Nhưng không phải như tội phạm thế nào,
thì ơn ban cũng thế ấy đâu, vì nếu do tội của một người mà nhiều người phải
chết, thì ơn nghĩa của Thiên Chúa và ân huệ ban do ơn một người là Ðức Giêsu
Kitô, làm cho nhiều người được ơn dư đầy hơn bội phần.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 17,
17b và a
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Lời
Cha là chân lý; xin hãy thánh hoá chúng trong sự thật". - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 10,
26-33
"Các con đừng sợ những kẻ giết được
thân xác".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông
đồ rằng: "Các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không
bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Ðiều Thầy nói với
các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai,
hãy rao giảng trên mái nhà.
"Các con đừng sợ những kẻ giết được
thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn: Các con hãy sợ Ðấng có thể ném
cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một
đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không
biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con
đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần.
"Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt
người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên
trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt
Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm
Nghiệm
"Ánh
sáng chiếu trong tăm tối, một thứ tăm tối không thể át được ánh
sáng"
Tinh thần của Phụng
Vụ Lời Chúa hôm nay, bao gồm cả Bài Đọc 1, Đáp Ca, Bài Đọc 2 và Phúc Âm, đó
là "ánh sáng chiếu trong tăm tối, một thứ tăm tối không thể át được ánh
sáng" (Gioan 1:5), trái lại, tối tăm lại còn bị ánh sáng xua tan.
Thật vậy, chiều hướng
Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XII Thường Niên
Năm A "ánh sáng chiếu trong tăm tối, một thứ tăm tối không thể át được
ánh sáng" này đã được tỏ hiện ngay trong Bài Đọc 1 được trích từ Sách
của Tiên Tri Giêrêmia, đoạn nói về vai trò ngôn sứ và sứ vụ chứng nhân được
Chúa ủy thác cho vị tiên tri này, nhưng chính bản thân của vị tiên tri lại
trở nên cớ vấp phạm cho thành phần vị này được sai đến:
"Người này gieo khủng bố khắp nơi: Hãy tố cáo
nó, chúng ta hãy tố cáo nó", thế mà họ có dữ tợn đến đâu vẫn không làm
gì được người của Chúa, trái lại còn bị triệt hạ nữa:
"Tất cả bạn hữu tôi rình tôi vấp ngã mà nói
rằng: 'Ước gì nó bị lừa dối để chúng ta thắng nó và sẽ trả thù nó'. Nhưng
Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng; vì thế, những kẻ bắt bớ tôi
sẽ ngã quỵ và kiệt sức: Chúng sẽ thất bại bẽ bàng, chuốc lấy sự hổ nhục muôn
đời, không bao giờ quên được.
Còn Chúa, lạy Chúa các đạo binh, Ðấng xét xử
người công chính, thấu suốt tâm can, lạy Chúa, ước gì con sẽ được thấy Chúa
trả thù nó cho con, vì con đã tỏ bày công việc con cho Chúa. Hãy hát mừng
Chúa, hãy ca tụng Chúa, vì Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi
tay kẻ dữ".
"Chúa
trả thù nó cho con" ở chỗ nào, hay
bóng tối bị ánh sáng xua tan ra sao, đã được Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô
trong Thư gửi Giáo đoàn Rôma ở Bài Đọc 2 cho biết rất tuyệt vời, vượt ngoài
tất cả mọi dự tưởng và suy nghĩ của trần gian, của khuynh hướng đòi công
bằng của con người, như thế này:
"Nhưng không phải như tội phạm thế nào,
thì ơn ban cũng thế ấy đâu, vì nếu do tội của một người mà nhiều người phải
chết, thì ơn nghĩa của Thiên Chúa và ân huệ ban do ơn một người là Ðức Giêsu
Kitô, làm cho nhiều người được ơn dư đầy hơn bội phần".
Có nghĩa là, theo đường lối thần linh thật trọn lành
của Thiên Chúa, "trả thù" không phải là ở chỗ "mắt đền mắt, răng đền răng",
mà trái lại, lấy lành thắng dữ, lấy tình thương bù đắp hận thù, lấy thứ tha
bù đắp tội lỗi, nhờ đó mới có thể biến dữ thành lành, biến tội lỗi thành ân
sủng, biến sự chết thành sự sống, như trong mầu nhiệm và biến cố Vượt Qua
của Chúa Kitô.
Trong Bài Phúc Âm hôm nay, bài Phúc Âm tiếp bài Phúc
Âm Chúa Nhật XI vừa rồi, về Huấn Từ Truyền Giáo của Chúa Kitô, nhưng không
liên tục. Ở câu cuối cùng (câu 8 đoạn 10) của Phúc Âm Thánh Mathêu tuần
trước, Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ phải đi đến đâu và phải rao giảng những
gì:
"Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng
vào thành các người Samaritanô. Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên
lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: "Nước Trời đã đến gần". Hãy
chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ
ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không".
Ở câu đầu tiên trong Bài Phúc Âm hôm nay, (câu 26
cùng đoạn 10), Chúa Giêsu liền dặn các tông đồ thừa sai của Người rằng:
"Các
con đừng sợ những người đó". "Những người đó" đây là ai, Chúa Giêsu
muốn ám chỉ ai vậy? Chắc chắn không phải
"dân ngoại", không
phải "các người Samaritanô", thành phần
các tông đồ chưa được Chúa Kitô sai đến, mà là chính đám "chiên lạc
của nhà Israel", một đám "chiên lạc"
ám chỉ chung dân Do Thái và riêng thành phần lãnh đạo Do Thái giáo
đã từng ra tay bách hại và âm mưu sát hại các vị tiên tri nói chung (xem
Mathêu 23:29-32) và tiên tri Giêrêmia (trong Bài Đọc 1 hôm nay) nói riêng.
Có một điều lạ ở chỗ lý do được Chúa Giêsu sử dụng
để trấn an các tông đồ "đừng sợ những người đó", lý do dường như chẳng ăn
khớp gì với lời khuyên đừng sợ của Người, "đừng sợ những người đó"
là "vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm
mà không hề hay biết", như thế có nghĩa là gì? Có nghĩa là "không
có gì che giấu mà không bị thố lộ" ở nơi "những người đó", "và
không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết" ở nơi "những người đó".
Tức là khi "những người đó" bách hại hay giết hại các tông đồ
hay các vị tiên tri trong Cựu Ước, cả hai đều là thành phần được sai đến với
họ, thì họ đều chủ trương cho rằng những vị thừa sai ấy đều là thành phần
"gieo
khủng bố khắp nơi", như Bài Đọc 1 hôm
nay tiết lộ, nên họ chống lại và sát hại các vị.
Tuy nhiên, tâm tưởng của "những người đó"
không phải chỉ ám chỉ về thành phần chống đối, mà nhất là thành phần thiện
tâm, lầm lạc, cho đến khi nhận ra sự thật thì tỏ lòng ăn năn thống hối, đúng
như những gì xẩy ra trên Đồi Canve sau khi Chúa Kitô tử giá (xem Luca
23:47-48), ứng nghiệm lời tiên tri của vị tư tế lão thành Simêon khi ẵm hài
nhi Giêsu trên tay và nói cùng Mẹ Maria rằng: "Phần cô sẽ có một lưỡi
gươm đâm thấu tâm can, nhờ đó tâm tưởng nơi nhiều người sẽ được bộc lộ"
(Luca 2:35).
Thế nhưng, tự bản chất con người vốn yếu hèn với đầy
những khuynh hướng sợ sệt, nên muốn can trường, họ không thể nào không tin
tưởng vào Đấng đã sai mình, vào Đấng quan phòng thần linh, vào Đấng luôn ở
với mình, vào Đấng duy nhất có thể cứu mình khỏi bất cứ một quyền lực chết
chóc nào, Đấng có thể biến họ thành một dấu chỉ thần linh. Phải chăng đó là
lý do Chúa Kitô đã trấn an các tông đồ bằng những lý lẽ siêu nhiên thật là
bất diệt vô cùng thấm thía như trong Bài Phúc Âm hôm nay:
"Các con đừng sợ những kẻ giết được
thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn: Các con hãy sợ Ðấng có thể ném
cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một
đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không
biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con
đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần".
Thật sự tự mình "bóng tối không át được ánh sáng"
-
"vì
không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không
hề hay biết", nên Chúa Kitô đã chẳng những trấn an các
tông đồ thừa sai của Người mà còn phấn khích cùng thúc giục các vị hãy hiên
ngang bất khuất thực hiện vai trò chứng nhân tiên khởi của các vị nữa, ở
chỗ: "Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và
điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà".
"Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối"
đây là gì, và "điều các con nghe rỉ tai" đây là chi, những gì được
Chúa Kitô bảo các tông đồ thừa sai của Người cần phải "nói ra nơi ánh
sáng" và phải "rao giảng trên mái nhà", nếu không phải là
những mạc khải thần linh ("Ðiều Thầy nói") mà bản thân của từng vị
cảm nghiệm được ("nghe rỉ tai") bằng chính đức tin
("trong bóng tối") hơn là chỉ bằng cảm giác sôi nổi hay lý trí nông
cạn trước một Vị "Thiên Chúa là thần linh, mà kẻ tôn thờ Ngài phải tôn
thờ trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24).
Đúng thế, chỉ bao giờ con người thừa sai sống một
đời sống nội tâm, "nghe rỉ tai" "trong bóng tối", họ mới không cảm
thấy sợ hãi trước bất cứ một quyền lực đối kháng nào, trái lại, họ còn có
sức chịu đựng cho đến cùng vì họ biết tuyệt đối tin tưởng vào Đấng ở với họ
và sai họ đi, như nội dung, chiều hướng và cảm nhận thần linh của Bài Đáp Ca
hôm nay:
1) Sở dĩ vì Chúa mà con chịu
nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người anh em coi như
khách lạ, bị những người cùng con một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm
lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi, điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa đổ
trên mình con.
2) Nhưng, lạy Chúa, con dâng lời
nguyện cầu lên Chúa, ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm
lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa. Lạy
Chúa, xin nhậm lời con vì lòng khoan nhân trắc ẩn, theo lượng cả đức từ bi
xin nhìn đến tấm thân con.
3) Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và
hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe
những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân Người bị bắt cầm tù. Hãy ngợi
khen Chúa, hỡi trời và đất, biển khơi và muôn vật sống động bên trong.
Thứ Hai
Bài Ðọc I: (Năm
II) 2
V 17, 5-8. 13-15a. 18
"Chúa xua đuổi Israel khỏi mặt
Chúa và chỉ còn lại chi họ Giuđa".
Trích sách Các Vua quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, Salmanassar,
vua dân Assyria, xâm chiếm khắp miền và bao vây Samaria trong ba năm.
Năm thứ chín đời vua Hôsê, vua Assyria chiếm được Samaria, và đem dân
Israel sang Assyria, định cư họ ở Hala và ở Habor, gần sông Gozan, và
trong các thành thuộc nước Mêđia.
Xảy ra như thế, vì con cái Israel
phạm đến Chúa là Thiên Chúa họ, Ðấng đã đưa họ ra khỏi Ai-cập, khỏi
quyền lực Pharaon, vua nước Ai-cập. Họ đã thờ các thần ngoại bang; họ
noi theo các tập tục của dân ngoại mà Chúa đã xua đuổi trước bước tiến
của con cái Israel, và họ đã theo các nghi lễ mà vua Israel đã quy định.
Chúa đã dùng các tiên tri, các vị
tiên kiến mà khuyến cáo Israel và Giuđa rằng: "Các ngươi hãy cải tà quy
chính, hãy tuân giữ các điều răn và nghi lễ, theo đúng lề luật Ta đã
dùng các tiên tri tôi tớ Ta mà truyền cho cha ông các ngươi, và chuyển
lại cho các ngươi". Nhưng họ không muốn nghe. Họ cứ cứng đầu cứng cổ như
cha ông họ, không muốn vâng phục Chúa là Thiên Chúa. Họ chối bỏ các huấn
lệnh của Chúa và lời giao ước Người đã ký kết với cha ông họ, và cả
những mệnh lệnh rõ ràng Người đã truyền, nên Chúa nổi giận dân Israel,
và xua đuổi họ khỏi mặt Chúa. Chỉ còn lại chi họ Giuđa mà thôi.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 59,
3. 4-5. 12-13
Ðáp: Lạy Chúa,
xin Chúa ra tay hữu phù trợ và nhậm lời chúng con (c. 7b).
Xướng: 1) Ôi Thiên Chúa, Ngài đã
hất hủi chúng con, Ngài đã làm cho hàng ngũ chúng con tan rã, Ngài đã
thịnh nộ, nhưng xin cho chúng con được phục hồi! - Ðáp.
2) Ngài đã rung động đất nước và
xâu xé, xin hàn lại chỗ đổ vỡ, vì nó đang xiêu té. Chúa để dân Ngài gặp
những thử thách cam go, Ngài cho chúng con uống thứ rượu say mê choáng
váng. - Ðáp.
3) Ôi Thiên Chúa, há không phải
Ngài đã hất hủi chúng con ư? Ôi Thiên Chúa, Ngài đã không xuất trận cùng
quân đội chúng con. Xin Chúa giúp đỡ chúng con chống lại quân thù, vì sự
hỗ trợ của người trần là vộ hiệu quả. - Ðáp.
Alleluia: Ga
14, 5
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà
không qua Thầy". - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 7,
1-5
"Hãy lấy cái đà khỏi mắt ngươi
trước đã".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các
môn đệ rằng: "Các con đừng đoán xét để khỏi bị đoán xét. Các con đoán
xét thể nào thì các con cũng bị đoán xét như vậy. Các con dùng đấu nào
mà đong, thì cũng sẽ đong lại cho các con bằng đấu ấy. Sao ngươi thấy
cái rác trong mắt anh em, mà không thấy cái đà trong mắt ngươi? Hoặc sao
ngươi bảo anh em: "Ðể tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh", và này: cái đà
đang ở trong mắt ngươi. Ðồ giả hình, hãy lấy cái đà khỏi mắt ngươi trước
đã, rồi ngươi sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em ngươi".
Ðó là lời Chúa.

Sự
sống
mù quáng
Chủ đề "sự sống" của
Mùa Phục Sinh vẫn tiếp tục sang Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, một thời
điểm phụng niên kéo dài Mùa Phục Sinh liên quan đến tin mừng sự sống,
đến chính sự sống thần linh Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội để Giáo Hội là
thừa tác viên của Người trao ban cho chung thế giới loài người, như trong
phần phụng vụ Lời Chúa cho ngày Thứ Hai Tuần XII Thường Niên hôm nay cho
thấy.
"Sự
sống" đây là sự sống công chính, như giáo huấn Chúa Kitô dạy cho các
môn đệ của Người trong bài Phúc Âm hôm nay (Mathêu 7:1-5), một bài
phúc âm tiếp tục về Bài Giảng Trên Núi của Người cho các môn đệ của
Người liên quan đến các Phúc Đức Trọn Lành mà
các vị cần phải cảm nghiệm và theo đuổi mới xứng đáng làm môn đệ của
Người và nhờ đó mới
có
thể làm chứng nhân cho Người.
Vấn đề được đặt
ra ở đây là, với cương vị lãnh đạo sau này của mình trong Giáo Hội, các
vị không thể nào không đoán xét để bảo vệ Giáo Hội cũng như để phân xử
công minh, thế mà ở đây, Chúa Giêsu lại dạy các vị rằng: "Các
con đừng đoán xét để khỏi bị đoán xét".
Tuy nhiên,
lời khuyên của Chúa Giêsu ở đây không áp dụng vào việc quản trị Giáo Hội
của các vị mà chỉ nhắm đến đời sống đức ái trọn hảo của bản thân các vị
thôi. Đó là lý do Chúa Giêsu đã đề cập đến luật nhân quả, gieo gió gặt
bão: "Các
con đoán xét thể nào thì các con cũng bị đoán xét như vậy. Các con dùng
đấu nào mà đong, thì cũng sẽ đong lại cho các con bằng đấu ấy".
Trên
thế gian này đã xẩy ra đầy giẫy những chứng cớ về định luật "ác giả ác
báo" này. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng ở đây là phạm nhân có nhận ra lỗi
lầm cũ của mình để mà ăn năn thống hối và cải thiện đời sống hay chăng
mới là những gì đáng quan tâm. Trong đường tu đức cũng thế, Thiên Chúa
hay để cho những tâm hồn sốt sắng đạo đức mà lại hay khinh thường những
người khô khan hơn mình, xa tránh những người tội lỗi xấu xa ở chung
quanh mình, bị sa ngã phạm tội, cho dù cố gắng, nhờ đó họ biết cảm
thương những người họ vốn khinh bỉ và xa tránh.
Một khi chúng ta
xét đoán xấu cho người khác, chấp nhất người khác và chê trách người
khác về những gì tiêu cực của họ và nơi họ, hay những gì vô tội nơi họ (tính tình
hoặc tâm tưởng cùng lối sống của họ v.v.) nhưng chướng tai gai mắt chúng
ta, chúng
ta như thể ở trong trạng thái mù lòa không biết mình, đúng như lời Chúa
Giêsu nói với các môn đệ của Người, khi Người đi từ chất vấn đến trách
móc thành phần này trong
bài Phúc Âm hôm nay:
"Sao
ngươi thấy cái rác trong mắt anh em, mà không thấy cái đà trong mắt
ngươi? Hoặc sao ngươi bảo anh em: 'Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh',
và này: cái đà đang ở trong mắt ngươi. Đồ giả hình, hãy lấy cái đà khỏi
mắt ngươi trước đã, rồi ngươi sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh
em ngươi".
"Cái đà" trong mắt của chúng ta đây là gì, nếu không phải là thành kiến,
là ác cảm, là nghi kỵ... những gì khiến chúng ta không thể nào nghĩ tốt
cho người khác, nhất là thành phần đối phương của mình, trái lại, chỉ
toàn nghĩ xấu cho họ và luôn luôn nghĩ xấu về họ, thậm chí còn tự chế ra
những gì họ không có theo óc tự suy của mình để hận thù oán ghét họ, lên
án họ, nói hành nói xấu họ, ném đá họ...
Đối với tha nhân,
con người không được mù quáng đoán xét nhau, vì họ chẳng những không
biết được thâm tâm của nhau, mà
nhất là không
có quyền đoán xét nhau nữa. Thế
nhưng, đối với Thiên Chúa, Đấng vô cùng khôn ngoan và nhân hậu, con
người cần phải tỏ ra mù quáng hơn ai hết và hơn bao giờ hết, ở
chỗ hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Ngài ở mọi nơi, trong mọi lúc và
hết mọi sự.
Một trong những điều Chúa Giêsu dạy các tông đồ trong Bài Phúc Âm hôm
nay là "các
con dùng đấu nào mà đong, thì cũng sẽ đong lại cho các con bằng đấu ấy", thực
sự đã ứng nghiệm hơn bao giờ hết và hơn ai hết nơi trường hợp của thành
phần dân được Ngài tuyển chọn để tỏ mình ra cho họ, xuyên suốt giòng
lịch sử cứu độ của họ, Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ,
ngoài Ngài ra không còn một Chúa tể nào khác, và chỉ có mình Ngài mới
đáng họ tin tưởng và tôn thờ thôi. Thế nhưng, Ngài càng tỏ mình ra họ
lại càng bất xứng với Ngài, họ vẫn cứ tiếp tục ương bướng chối bỏ Ngài
mà gian dâm ngoại tình với các tà thần của dân ngoại hay như dân ngoại
hoặc với chính các thứ ngẫu tượng họ tạo ra. Và đó là lý do họ đong đấu
nào cho Thiên Chúa của họ thì họ cũng bị Ngài đong lại cho chính đấu ấy,
đúng hơn họ phải hứng chịu hậu quả của chính đấu họ đối xử với Vị Thiên
Chúa chân thật duy nhất của họ.
Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Các Vua quyển thứ hai, đã chứng
thực việc trao đổi đấu cho nhau rất tương xứng và công bằng giữa thành
phần dân được ưu tuyển với Thiên Chúa của họ, trước hết là thành phần
dân thuộc vương quốc Israel ở Miền Bắc (sau thời Vua Solomon, nước Do
Thái được chia thành đôi, vương quốc Giuđa chỉ còn 2 chi tộc Giuđa và
Lêvi ở miền nam) - biến cố lịch sử họ bị dân Assyria xâm chiếm và đầy ải
vô cùng khốn nạn gây ra bởi chính tội bỏ Chúa của họ như sau:
"Trong những ngày ấy, Salmanassar, vua dân Assyria, xâm chiếm khắp
miền và bao vây Samaria trong ba năm. Năm thứ chín đời vua Hôsê, vua
Assyria chiếm được Samaria, và đem dân Israel sang Assyria, định cư họ ở
Hala và ở Habor, gần sông Gozan, và trong các thành thuộc nước Mêđia.
Xảy ra như thế, vì con cái Israel phạm đến Chúa là Thiên Chúa họ, Ðấng
đã đưa họ ra khỏi Ai-cập, khỏi quyền lực Pharaon, vua nước Ai-cập. Họ đã
thờ các thần ngoại bang; họ noi theo các tập tục của dân ngoại mà Chúa
đã xua đuổi trước bước tiến của con cái Israel, và họ đã theo các nghi
lễ mà vua Israel đã quy định.
Thậm chí trước khi bất đắc dĩ phải ra tay trừng phạt họ để đánh động họ, Thiên Chúa đã nhẫn nại nhịn nhục sử
dụng đến các ngôn sứ của Ngài sai đến cảnh giác họ và kêu gọi họ trở về
với Ngài nhưng hoàn toàn vô hiệu trước tình trạng lòng chai dạ đá thật
là mù quáng ngông cuồng của họ:
"Chúa đã dùng các tiên tri, các vị tiên kiến mà khuyến cáo Israel và
Giuđa rằng: "Các ngươi hãy cải tà quy chính, hãy tuân giữ các điều răn
và nghi lễ, theo đúng lề luật Ta đã dùng các tiên tri tôi tớ Ta mà
truyền cho cha ông các ngươi, và chuyển lại cho các ngươi". Nhưng họ
không muốn nghe. Họ cứ cứng đầu cứng cổ như cha ông họ, không muốn vâng
phục Chúa là Thiên Chúa. Họ chối bỏ các huấn lệnh của Chúa và lời giao
ước Người đã ký kết với cha ông họ, và cả những mệnh lệnh rõ ràng Người
đã truyền, nên Chúa nổi giận dân Israel, và xua đuổi họ khỏi mặt Chúa.
Chỉ còn lại chi họ Giuđa mà thôi".
Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu đâu có vui thích gì khi thấy con
cái của mình phải khổ đau chết chóc, thế nhưng Ngài chỉ còn cách dùng "của
độc giải độc" cũng như bằng cách lấy "gậy ông đập lưng ông" mà thôi, theo đường lối loài
người. Chẳng những đối với thành phần dân ưu tuyển của Ngài, mà còn với
những tâm hồn nào bất chấp lương tâm và các ơn soi động của Ngài, đều đi
đến ngõ cụt "no way out", nơi một là họ thà tự tử chết, thà hư đi đời
đời chứ nhất định không chịu quay đầu trở lại, hai là hoàn toàn tuyệt
vọng không còn tin tưởng gì nữa, và ba là họ tỉnh giấc với những tâm
tình giác ngộ như Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Ôi Thiên Chúa, Ngài đã hất hủi chúng con, Ngài đã làm cho hàng
ngũ chúng con tan rã, Ngài đã thịnh nộ, nhưng xin cho chúng con được
phục hồi!
2) Ngài đã rung động đất nước và xâu xé, xin hàn lại chỗ đổ vỡ, vì
nó đang xiêu té. Chúa để dân Ngài gặp những thử thách cam go, Ngài cho
chúng con uống thứ rượu say mê choáng váng.
3) Ôi Thiên Chúa, há không phải Ngài đã hất hủi chúng con ư? Ôi
Thiên Chúa, Ngài đã không xuất trận cùng quân đội chúng con. Xin Chúa
giúp đỡ chúng con chống lại quân thù, vì sự hỗ trợ của người trần là vộ
hiệu quả.
Thứ Ba
Bài Ðọc I: (Năm
II) 2
V 19, 9b-11. 14-21. 31-35a. 36
"Ta sẽ che chở và cứu thành này
vì danh Ta cùng vì Ðavít".
Trích sách Các Vua quyển thứ hai.
Trong các ngày ấy, Sennakêrib, vua
dân Assyria, đã phái các sứ giả đến với vua Êdêkia và dặn rằng: "Các
ngươi hãy nói với Êdêkia, vua Giuđa như thế này: "Chớ để Thiên Chúa, mà
vua tin cậy, mê hoặc vua nghĩ rằng: Thành Giêrusalem sẽ không bị lọt vào
tay vua dân Assyria. Vì chưng chính đức vua đã nghe biết những gì các
vua Assyria đã làm khắp mọi nơi, đã tàn phá các nơi đó thế nào. Có lẽ
nào một mình vua sẽ thoát khỏi?". Vua Êdêkia đã nhận và đọc thư do các
sứ giả trao cho, vua lên đền thờ Chúa, trải bức thư đó ra trước mặt
Chúa, và cầu nguyện cùng Chúa rằng: "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel, Ðấng
ngự trên các Vệ Binh thần, chỉ một mình Chúa là Thiên Chúa các vua trên
mặt đất, Chúa đã dựng nên trời đất, xin lắng tai nghe; lạy Chúa, xin mở
mắt nhìn xem. Chúa hãy nghe các lời vua Sennakêrib đã gửi đến, để lăng
mạ Chúa hằng sống của chúng con. Lạy Chúa, quả thật các vua dân Assyria
đã huỷ diệt các dân và đất đai chúng, đã vất các tượng thần của chúng
vào lửa: vì các tượng thần đó không phải là Chúa, song là sản phẩm bằng
gỗ đá do tay người phàm làm ra, nên bị họ huỷ diệt. Vậy giờ đây, lạy
Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin cứu chúng con khỏi tay vua Sennakêrib,
để mọi vương quốc hoàn cầu biết rằng: chỉ có mình Chúa là Thiên Chúa".
Vậy Isaia con trai Amos sai người
đến tâu vua Êdêkia rằng: "Ðây là những điều Chúa là Thiên Chúa Israel
phán: Ta đã nghe các điều ngươi cầu xin Ta về Sennakêrib, vua dân
Assyria. Ðây là lời Thiên Chúa phán về vua ấy: Trinh nữ Sion khinh chê
và cười ngạo ngươi; thiếu nữ Giêrusalem chế diễu sau lưng ngươi. Từ
Giêrusalem sẽ còn lại một số người, và từ núi Sion sẽ có một số người
được cứu thoát: Ðó là điều mà lòng nhiệt thành của Chúa các đạo binh sẽ
thực hiện. Bởi thế, Chúa phán những điều này về vua dân Assyria: Vua sẽ
không vào được thành này, sẽ chẳng bắn được một mũi tên nào vào thành,
chẳng dùng thuẫn mà vây hãm thành, chẳng đắp lũy quanh thành: vua tới
lối nào thì sẽ về lối ấy, và sẽ không vào được thành này, đó là lời sấm
của Chúa. Ta sẽ che chở và cứu thành này, vì danh Ta cùng vì Ðavít tôi
tớ Ta".
Chính đêm ấy, thiên thần Chúa đến
giết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong trại quân Assyria.
Sennakêrib, vua dân Assyria, trở về và ở lại thành Ninivê.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 47,
2-3a. 3b-4. 10-11
Ðáp: Thiên
Chúa kiên thủ thành của Người tới muôn đời (c. 9d).
Xướng: 1) Chúa vĩ đại và rất đáng
ngợi khen, trong thành trì của Thiên Chúa chúng ta. Núi thánh của Ngài
là ngọn đồi duyên dáng, là niềm hoan lạc của khắp cả địa cầu. - Ðáp.
2) Núi Sion là cùng kiệt Phương
Bắc, là thành trì của Ðức Ðại Ðế. Thiên Chúa ngự trong thành quách của
Người, tự chứng tỏ Người là an toàn chiến luỹ. - Ðáp.
3) Ôi Thiên Chúa, chúng con tưởng
nhớ lại lòng thương của Chúa, ngay trong nơi đền thánh của Ngài. Ôi
Thiên Chúa, cũng như thánh danh Ngài, lời khen ngợi Ngài sẽ vang cùng
cõi đất. Tay hữu Ngài đầy đức công minh. - Ðáp.
Alleluia: Tv
118, 27
Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho
con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ
lùng của Chúa. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 7,
6. 12-14
"Tất cả những gì các con muốn
người ta làm cho các con, thì hãy làm cho người ta".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các
môn đệ rằng: "Ðừng lấy của thánh mà cho chó, và đừng vất ngọc trai trước
mặt heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con.
"Vậy tất cả những gì các con muốn
người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như
thế! Ðấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy.
"Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì
cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi
lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy".
Ðó là lời Chúa.

Con đường
sự sống
Bài
Phúc Âm cho Thứ
Ba Tuần XII Thường Niên hôm nay vẫn tiếp tục Bài Giảng Trên Núi của Chúa
Giêsu được Thánh ký Mathêu (7:6,12-14) ghi lại 3 nguyên tắc sống khôn
ngoan sau đây:
Nguyên
tắc thứ nhất: "Đừng
lấy của thánh mà đem cho
chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt loài heo,
kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con".
Tại
sao vậy? Tại vì chó hay heo là loài thú vật chẳng biết giá trị của những
gì loài người vốn trân quí.
Bởi
thế, "lấy
của thánh mà đem cho
chó, và vất ngọc trai trước mặt loài heo" là
một hành động hoàn
toàn ngu
xuẩn, phí
của và vô ích, thậm
chí còn nguy hiểm đến bản thân nữa là đàng khác, ở chỗ chúng cứ tưởng là
chúng bị tấn công bằng các viên ngọc trai chẳng khác gì những cục đá
vậy, nên chúng có thể "quay
lại cắn xé các con".
Ở đây,
nếu
chú ý chúng
ta thấy được hai con thú tiêu biểu được
Chúa Giêsu sử dụng trong bài Phúc Âm, đó là con chó và con heo: "chó" có
vẻ tinh khôn hơn nên liên quan đến "của thánh" linh thiêng và đến động
từ "cho" có vẻ trân trọng chứ không phải là động từ "quẳng" có vẻ khinh
bỉ; còn
"heo" có vẻ xác thịt hơn nên liên quan đến "ngọc trai" là
những gì thuần
vật chất và đến động
từ "quẳng".
Nhưng
dù tinh khôn như "chó" cũng chẳng biết "của thánh" là gì, cũng chẳng
nhờ đó mà được linh thiêng hơn, và cho dù xác thịt như "heo" cũng chẳng
cần trang điểm bằng "ngọc
trai" cho đẹp
hơn và hãnh diện hơn.
Phải
chăng ở đây Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng giáo huấn của Người
là những gì "thánh
hảo" vô
giá và quí
báu hơn cả vàng bạc và "ngọc trai", được ban cho các vị để các vị mặc
lấy và trang sức cho
xứng
với vai trò là môn đệ của Người?
Có thể áp dụng lời khuyên này của Chúa Giêsu về của thánh và loài thú
bất xứng với của thánh vào những hành động tục hóa của chúng ta. Chẳng
hạn chúng ta lên rước lễ chỉ vì cho người ta khen mình là đạo đức. Nghĩa
là chúng ta biến Thánh Thể là một Bí Tích Cực Thánh thành phương tiện
cho thỏa mãn đam mê nhục dục đê hèn như loài thú của chúng ta, lấy Thánh
Thể làm tòa cho chúng ta lên ngôi vinh hiển....
Nguyên tắc thứ hai: "Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm
cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế! Đấy là điều
mà lề luật và các tiên tri dạy".
Nguyên tắc thứ hai này là nguyên tắc "tri kỷ tri bỉ - biết mình biết
người", có vẻ tích cực hơn nguyên tắc của Khổng giáo: "đừng làm cho
người khác những gì mình không muốn họ làm cho mình".
Nguyên tắc thứ hai này thường được gọi là luật vàng - golden rule, vì nó
chất chứa trong tất cả "lề luật và các tiên tri dạy", vì nó
phản ảnh giới luật bác ái "yêu người như thể thương thân -ái nhân như
kỷ": yêu nhau như bản thân mình.
Nguyên tắc này thật sự là "của thánh", là viên "ngọc trai" quí báu đối
với những ai kính sợ Chúa, nhưng lại là những gì quái gở đối với những
kẻ gian ác bất chấp thủ đoạn trong mưu đồ thỏa mãn ý riêng và đam mê
nhục dục của họ, dù giá phải trả cho những gì họ muốn chiếm đoạt chính
là tha nhân.
Nguyên tắc thứ ba: "Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường
thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và
đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy".
Đúng
thế,
muốn sống
nguyên tắc thứ hai là yêu nhau như chính bản thân mình, con người cần
phải bỏ
mình đi,
thậm
chí cần phải coi
người
khác hơn mình. Như vậy thì chẳng khác nào con người cần phải "vào
qua cửa hẹp", hoàn
toàn đi
ngược
chiều với đa số phàm nhân luôn coi
mình hơn tha nhân, không bao giờ chịu thua thiệt, nếu bị thua thiệt thì
tìm cách triệt hạ đối phương hay lấy
lại.
Trong các lời dạy của Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay, có một lời
đã ứng nghiệm nơi câu chuyện của Bài Đọc 1 hôm nay, đó là lời: "Ðừng
lấy của thánh mà cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt heo, kẻo chúng
giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con". Đúng thế, nếu
"của thánh" và "ngọc trai" đây là chung thành phần dân tuyển chọn của
Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất, và riêng vị vua Edekia hoàn toàn tin
tưởng vào Ngài trong một thời điểm lịch sử vô cùng nguy biến bất khả
tránh cho vương quốc Giuđa của vua bấy giờ, thì có thể nói "chó" và
"heo" đây là thành phần sống theo bản năng thú tính của mình, vô thần và
hung ác, được tiêu biểu nơi nhân vật lịch sử "Sennakêrib,
vua dân Assyria", một nhân vật đầy ngạo mạn coi trời
bằng vung khi tung ra những lời đe dọa Vua Xứ Giuđa là Edekia thế này:
"Các ngươi hãy nói với Êdêkia, vua Giuđa như thế này: 'Chớ để Thiên
Chúa, mà vua tin cậy, mê hoặc vua nghĩ rằng: Thành Giêrusalem sẽ không
bị lọt vào tay vua dân Assyria. Vì chưng chính đức vua đã nghe biết
những gì các vua Assyria đã làm khắp mọi nơi, đã tàn phá các nơi đó thế
nào. Chẳng lẽ nào chỉ có một mình vua sẽ thoát khỏi hay sao?".
Biết sức mình bất khả thoát khỏi quyền lực hung tàn của nhân vật đầy bản
lãnh đệ nhất thiên hạ bấy giờ, Vua Edekia chỉ còn biết chạy đến với Vị
Thiên Chúa chân thật duy nhất của mình, hoàn toàn tin tưởng vào Ngài là
Đấng duy nhất có thể cứu vương quốc của vua khỏi bị xâm chiếm và đầy ải
như vương quốc Israel trong Bài Đọc 1 hôm qua, trái lại, qua vương quốc
của mình, Thiên Chúa còn có thể tỏ mình ra cho cả dân Assyria biết Ngài
là ai nữa:
"Vua Êdêkia đã nhận và đọc thư do các sứ giả trao cho, vua lên đền
thờ Chúa, trải bức thư đó ra trước mặt Chúa, và cầu nguyện cùng Chúa
rằng: 'Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel, Ðấng ngự trên các Vệ Binh thần,
chỉ một mình Chúa là Thiên Chúa các vua trên mặt đất, Chúa đã dựng nên
trời đất, xin lắng tai nghe; lạy Chúa, xin mở mắt nhìn xem. Chúa hãy
nghe các lời vua Sennakêrib đã gửi đến, để lăng mạ Chúa hằng sống của
chúng con. Lạy Chúa, quả thật các vua dân Assyria đã huỷ diệt các dân và
đất đai chúng, đã vất các tượng thần của chúng vào lửa: vì các tượng
thần đó không phải là Chúa, song là sản phẩm bằng gỗ đá do tay người
phàm làm ra, nên bị họ huỷ diệt. Vậy giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa
chúng con, xin cứu chúng con khỏi tay vua Sennakêrib, để mọi vương quốc
hoàn cầu biết rằng: chỉ có mình Chúa là Thiên Chúa'".
Quả thực, Thiên Chúa đã áp dụng nguyên tắc được chính Con của Ngài dạy
trong Bài Phúc Âm hôm nay là "Ðừng lấy của thánh mà cho chó, và đừng
vất ngọc trai trước mặt heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại
cắn xé các con" - "cắn xé các con" ở chỗ nếu Ngài để
cho vua Assyria ngạo mạn chiếm Xứ Giuđa thì hắn lại càng ngạo mạn hơn
nữa, coi như hắn là chúa tể, không có chúa nào khác ngoài hắn, và vì thế
lại càng nhục cho Chúa. Do đó, Ngài đã ra tay bảo tồn "của thánh" là dân
của Ngài và "ngọc trai" là lòng tin tưởng của Vua Xứ Giuđa, bằng cách: "Chính
đêm ấy, thiên thần Chúa đến giết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong
trại quân Assyria. Sennakêrib, vua dân Assyria, trở về và ở lại thành
Ninivê", đúng như Ngài đã báo cho Vua Xứ Giuđa qua
miệng tiên tri Amos: "Vua dân Assyria sẽ không vào được
thành này, sẽ chẳng bắn được một mũi tên nào vào thành, chẳng dùng thuẫn
mà vây hãm thành, chẳng đắp lũy quanh thành: vua tới lối nào thì sẽ về
lối ấy, và sẽ không vào được thành này, đó là lời sấm của Chúa. Ta sẽ
che chở và cứu thành này, vì danh Ta (vốn là "của
thánh" - theo suy diễn của người viết) cùng vì Ðavít
tôi tớ Ta (quí như "ngọc trai" - theo suy diễn của
người viết)".
Bài Đáp Ca hôm nay là tâm tình nhận biết đầy tin tưởng và ngợi khen cảm
tạ của Thánh Vịnh gia, hoàn toàn phản ảnh tâm tình của những ai tin vào
Chúa như Vua Xứ Giuđa trong Bài Đọc 1 hôm nay nói riêng, cũng như của
chung thành phần dân được ưu tuyển, ở chỗ mỗi khi chứng kiến thấy bàn tay toàn năng của Chúa luôn ở với
mình cho dù mình bất trung với Ngài thì lại nhận biết tội lỗi của mình
mà ăn năn thống hối trở về
với Ngài:
1) Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, trong thành trì của Thiên Chúa
chúng ta. Núi thánh của Ngài là ngọn đồi duyên dáng, là niềm hoan lạc
của khắp cả địa cầu.
2) Núi Sion là cùng kiệt Phương Bắc, là thành trì của Ðức Ðại Ðế.
Thiên Chúa ngự trong thành quách của Người, tự chứng tỏ Người là an toàn
chiến luỹ.
3) Ôi Thiên Chúa, chúng con tưởng nhớ lại lòng thương của Chúa, ngay
trong nơi đền thánh của Ngài. Ôi Thiên Chúa, cũng như thánh danh Ngài,
lời khen ngợi Ngài sẽ vang cùng cõi đất. Tay hữu Ngài đầy đức công minh.
Thứ Tư
Bài Ðọc I: (Năm
II) 2
V 22, 8-13; 23, 1-3
"Vua đọc cho mọi người nghe lời
sách giao ước đã tìm thấy trong Nhà Chúa, ký kết giao ước trước mặt
Chúa".
Trích sách Các Vua quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, thượng tế
Helcia nói với thư ký Saphan rằng: "Tôi tìm thấy sách luật trong Nhà
Chúa". Helcia trao sách cho Saphan đọc. Rồi thư ký Saphan đến cùng vua,
và thuật lại cho vua rằng: Tôi tớ vua đã thu lượm số bạc dâng cúng trong
nhà Chúa, và trao cho đốc công nơi Ðền thờ Chúa, để phát lương cho thợ.
Thư ký Saphan cũng thuật cho vua rằng: "Tư tế Helcia đã trao cho tôi
cuốn sách". Thư ký Saphan đã đọc sách đó trước mặt vua. Khi nghe lời
sách luật Chúa, vua liền xé áo mình, rồi truyền cho tư tế Helcia và
Ahica con Saphan, Acôbor con Mica, và thư ký Saphan cùng Asaia người hầu
cận vua rằng: "Các ngươi hãy đi hỏi ý Chúa cho trẫm, cho toàn dân và cho
nhà Giuđa, về các lời sách vừa tìm thấy. Cơn thịnh nộ của Chúa đối với
chúng ta nặng nề lắm, vì cha ông chúng ta không tuân giữ các lời trong
sách này". Họ thuật lại cho vua các lời của Chúa.
Bấy giờ vua sai đi triệu tập các
trưởng lão Giuđa và Giêrusalem đến cùng vua. Vua lên Ðền thờ Chúa với
những người thuộc chi tộc Giuđa, toàn thể dân cư Giêrusalem, các tư tế,
các tiên tri và toàn dân lớn bé, ông đọc cho mọi người nghe lời sách
giao ước đã tìm thấy trong Nhà Chúa. Vua đứng trên bệ, ký kết giao ước
trước mặt Chúa, để ai nấy đi theo Chúa, cùng hết lòng hết sức tuân giữ
các huấn lệnh, các lề luật và nghi lễ của Chúa. Họ làm sống lại các lời
giao ước đã ghi chép trong sách này: cả dân đều chấp nhận bản giao ước.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 118,
33. 34. 35. 36. 37. 40
Ðáp: Lạy Chúa,
xin dạy bảo con đường lối thánh chỉ Ngài (c. 33a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, xin dạy bảo
con đường lối thánh chỉ Ngài, để con tuân giữ cho bằng triệt để. - Ðáp.
2) Xin dạy con để con vâng theo
luật pháp Ngài, và để con hết lòng tuân giữ luật đó. - Ðáp.
3) Xin hướng dẫn con vào đường lối
chỉ chị Ngài, vì chính trong đường lối này con sung sướng. - Ðáp.
4) Xin nghiêng lòng con theo lời
Ngài nghiêm huấn, và chớ để con sa ngã vào chỗ lợi danh. - Ðáp.
5) Xin cho con ngoảnh mặt, khỏi
thấy cảnh phù vân; xin cho con được sống noi theo đường lối Chúa. - Ðáp.
6) Này đây, con khao khát huấn
lệnh của Ngài, theo lượng công minh Ngài, xin cho con được sống. - Ðáp.
Alleluia: Ga
14, 23
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người
ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 7,
15-20
"Hãy xem quả thì các con sẽ
biết chúng".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các
môn đệ rằng: "Hãy coi chừng các tiên tri giả. Họ mặc lốt chiên đến cùng
các con, nhưng bên trong, họ là sói dữ hay cắn xé. Hãy xem quả thì các
con sẽ biết được chúng. Nào ai hái được trái nho nơi bụi gai, hoặc trái
vả nơi bụi găng sao? Cũng thế, cây tốt thì sinh trái tốt, còn cây xấu
thì sinh trái xấu. Cây tốt không thể sinh trái xấu, và cây xấu không thể
sinh trái tốt. Các cây không sinh trái tốt sẽ bị chặt đi và ném vào lửa.
Vậy coi trái thì các con sẽ nhận biết được chúng".
Ðó là lời Chúa.

Chân dung của những "con sói... cắn xé"
Suy Niệm
Chủ đề "sự sống" từ Mùa Phục Sinh vẫn được tiếp tục ở bài Phúc Âm
hôm nay, Thứ Tư Tuần XII Thường Niên, ở chỗ hoa trái của sự sống
này, một thứ hoa trái cho biết là sự sống đó thật hay giả, siêu
nhiên hay tự nhiên, dồi dào hay cằn cỗi. Chúa Giêsu đã sử dụng ngay
định luật tự nhiên về sự sống để áp dụng vào sự sống siêu nhiên, ở
chỗ căn cứ vào hoa trái của nó, như Người phán dạy như sau:
"Hãy coi chừng các tiên tri giả. Họ mặc lốt chiên đến cùng các con,
nhưng bên trong, họ là sói dữ hay cắn xé. Hãy xem quả thì các con sẽ
biết được chúng. Nào ai hái được trái nho nơi bụi gai, hoặc trái vả
nơi bụi găng sao? Cũng thế, cây tốt thì sinh trái tốt, còn cây xấu
thì sinh trái xấu. Cây tốt không thể sinh trái xấu, và cây xấu không
thể sinh trái tốt. Các cây không sinh trái tốt sẽ bị chặt đi và ném
vào lửa. Vậy coi trái thì các con sẽ nhận biết được chúng".
Căn cứ vào lời Chúa khẳng định trên đây thì thành phần "tiên
tri giả", được Người nhắc đến ngay ở đầu bài Phúc Âm hôm nay,
cho dù "mặc lốt chiên", "nhưng bên trong là sói dữ"
nên không thể sinh hoa trái tốt lành: "cây
xấu không thể sinh trái tốt", trái
lại, "cây xấu thì sinh trái xấu" là
thứ hoa trái "cắn xé", sát hại, chia rẽ, phá hoại, tiêu
diệt, hung tàn, bạo loạn v.v. những thứ hoa trái hiểm độc không thể
nào tồn tại như hoa trái của sự sống, những thứ hoa trái cuối cùng "sẽ
bị chặt đi và ném vào lửa" xứng với số phận bóng
tối không thể nào át được ánh sáng, mà còn bị ánh sáng xua tan nữa.
Thành phần "tiên tri giả" được Chúa
Giêsu đề cập đến ở đây, ở vào phần cuối của Bài Giảng Phúc Đức Trọn
Lành Trên Núi mà Người trực tiếp ngỏ cùng các tông đồ và gián tiếp
cho dân chúng, chắc Người không ám chỉ thành phần biệt phái và luật
sĩ sau này bị Người công khai và thậm tệ quở trách là "đồ
giả hình" ở đoạn 23 của cùng Phúc Âm Thánh Mathêu, mà
là chính các tông đồ hằng được nghe Người giảng dạy và thấy gương
sống của Người mà vẫn sống ngược lại với Người.
Một trường hợp điển hình cho thấy có thể Người ám chỉ thành phần "tiên
tri giả" là các tông đồ hay môn đệ của Người, bề ngoài có vẻ
hiền lành dễ thương như "chiên" nhưng bề trong vốn còn tính
chất "sói dữ... cắn xé", đó là trường hợp của chính tông đồ
Gioan, vị tông đồ đã có lần ngăn cản người khác không được lấy danh
Thày của mình mà trừ quỉ bởi không thuộc về nhóm của ngài (xem Luca 9:49), và
ngay sau đó ngài còn cùng tông đồ Giacôbê anh mình đã ngỏ ý xin Thày
sai lửa trời xuống thiêu rụi một thành Samaritano vì họ không tiếp
rước Người (xem Luca 9:54).
"Các tiên tri giả mặc lốt chiên đến cùng các con, nhưng bên
trong, họ là sói dữ hay cắn xé" ở đây còn có thể hiểu về các
chước cám dỗ: theo nguyên tắc thì mặc hình thức chiên hợp lý, tốt
lành và có lợi, nhưng bên trong lại là sói dữ cắn xé, điển hình là
trường hợp của người môn đệ mang tên Simon Phêrô đã tỏ ra nhanh nhảu và chân
tình ngăn can Thày khỏi biến cố Vượt Qua vừa được Người loan báo cho
chung các môn đệ, nhưng lại trở thành sói dữ "satan", chỉ vì người môn đệ
nhiệt tình này "không theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa" (Mathêu
16:23), cho dù hợp tình hợp lý theo "tiêu chuẩn loài người" (cùng
nguồn vừa dẫn).
Satan bao giờ cũng sử dụng độc chiêu "trái cấm" như ngay từ ban
đầu, ở chỗ, thoạt tiên, hắn nêu lên những gì hợp tình hợp lý nhất,
tốt đẹp nhất đúng như ước vọng hay tham vọng của con người, với mục
đích "sói dữ cắn xé" là sát hại kẻ nào nhẹ dạ dễ dàng tin tưởng vào
hắn và ngoan ngoãn làm theo những gì hắn xúi bẩy, mà hậu quả là bị
trúng độc, hối hận không kịp, nếu không được Thiên Chúa giải độc
bằng chính LTXC.
Sở dĩ có bài Phúc Âm hôm nay ở phần cuối của Bài Giảng Trên
Núi, là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến việc thực hành giáo huấn phúc
đức trọn lành của Người vừa giảng dạy cách riêng cho các tông đồ.
Những ai thực hành lời của Người thì sẽ sinh hoa trái tốt đẹp nhờ
lời của Người, bằng không sẽ chẳng sinh hoa trái gì, thậm chí còn
sinh hoa trái xấu theo bản tính và xu hướng tự nhiên hướng hạ của
mình.
Cảm Nghiệm
Như thế, bất kỳ ai, không phải chỉ ở nơi dân ngoại không biết Chúa
hay chưa biết Chúa, hoặc ở nơi những kẻ được coi là tội lỗi gian ác,
mà là chính thành phần mang danh môn đệ của Chúa Kitô, Đấng "hiền
lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mathêu 11:29), cũng có thể là
thành phần "tiên tri giả", ở vào một lúc nào đó hay ở một
nơi nào đó, nếu họ không sống trọn lành theo giáo huấn của Bài Giảng
Trên Núi được Chúa Giêsu truyền dạy suốt trong gần 3 tuần vừa qua ở
Tuần X, XI và XII Mùa Thường Niên này.
Thực tế quả thực cho thấy đúng như vậy. Như lịch sử Giáo Hội và đời
thường cho thấy, thành phần Kitô hữu nói chung và Công giáo nói
riêng đã có những thái độ "sói
... cắn
xé" còn
gian dối hơn cả lương dân, còn dữ dằn độc ác hơn cả dân ngoại, thậm
chí lấy chính chân lý hay nhân danh chân lý để sát hại nhau chứ
không phải để giải thoát nhau, để cứu giúp nhau như chính bản chất
của chân lý là soi sáng và giải phóng (xem Gioan 8:32), còn chia rẻ
nhau trong nội bộ Kitô giáo của mình, gây gương mù và tai hại trầm
trọng cho công cuộc truyền giáo là bản tính của Giáo Hội Chứng Nhân
của Chúa Kitô và cho Chúa Kitô.
Những trường hợp điển hình cho thấy thành phần "tiên tri giả" là
thành phần, như Chúa Kitô diễn tả, có 3 đặc tính: "mặc lốt chiên", nhưng
bên trong lại là "sói dữ" nên đời
sống của họ mang lại những hậu "cắn xé" tai
hại. Chẳng hạn các vị linh mục lạm dụng tình dục trẻ em, "mặc lốt
chiên" là cha cụ, nhưng lại thèm muốn hèn hạ đến độ như "sói dữ" dám
lén lút ăn thịt con chiên của mình, và vì thế các vị quả thực đã
"cắn xé" chẳng những biết bao nhiêu là giới trẻ đã bỏ đạo bởi gương
mù của các vị bị phanh phui mà còn "cắn xé" cả tài sản của giáo hội
địa phương là nơi các vị thuộc về liên quan đến việc bồi thường cái
hậu quả "cắn xé" của các vị như một con "sói dữ".
Hay trường hợp cha mẹ Kitô hữu đạo đức tốt lành, đọc kinh "xem" lễ
và rước lễ hằng ngày, nhưng con cái vẫn cứ hư đi, vẫn bỏ đạo, bởi vì
bên trong cái vỏ đạo đức như "mặc lốt chiên" ấy, họ vẫn chất chứa
tâm tưởng của loài "sói dữ" đầy những thành kiến xấu, những ác cảm,
những hận thù ghen ghét, những chấp nhất lặt vặt, những nghĩ bậy cho
nhau, được bộc lộ qua những lời nói hành nói xấu, phê bình chỉ trích
chủ quan, chửi rủa nguyền rủa nhau v.v., khiến con cái bị "cắn xé"
bởi gương mù gương xấu của họ, đến nỗi có những đứa bỏ đạo, không đi
thờ đi lễ như cha mẹ mong muốn và thúc giục nữa, bởi theo chúng,
việc đi thờ đi lễ của cha mẹ và như cha mẹ chúng là không gì không
mang lại lợi ích, trái lại, còn gây hại nữa... thì theo gương các vị
mà làm gì, chẳng có lợi thì chớ mà lại còn mất giờ và bị mang tiếng
là giả hình nữa.
Tuy nhiên, cho dù trong lòng Giáo Hội tự bản chất "thánh thiện" hằng
liên lỉ có những đứa con "sói dữ... cắn xé", dù vô tình hay chủ ý,
bằng cách này hay cách khác, ở thời này hay thời kia, Giáo Hội của
Chúa vẫn không thể bị hủy hoại, bởi Giáo Hội chính là công việc của
Chúa, chứ không phải là việc làm của con người thuần túy. Chúa sẽ ở
với Giáo Hội và qua những gian nan khốn khó thử thách cả trong lẫn
ngoài như thể bị nội công ngoại kích ấy, Giáo Hội lại càng trở thành
dấu chứng cho thấy Giáo Hội là Nhiệm Thể của Chúa Kitô có Chúa Kitô
là Đầu và càng hiệp nhật nên một với Người ở chỗ giống Người trong
việc bách hại và sát hại.
Đúng thế, không ai có thể phá hủy được Giáo Hội, cho dù là quyền lực
kinh khủng của hỏa ngục đi nữa, vì Chúa ở cùng Giáo Hội như Thiên
Chúa ở cùng dân Do Thái xưa, điển hình là lề luật Ngài ban cho
họ qua Mose, một lề luật thường bị họ bất trung nhưng vẫn nhận biết
thái độ bất xứng của mình với Chúa, nên có dịp là họ lại quay trở về
với Ngài, như Bài Đọc 1 năm chẵn hôm nay cho thấy:
"Trong những ngày ấy, thượng tế Helcia nói với thư ký Saphan rằng:
'Tôi tìm thấy sách luật trong Nhà Chúa'. Helcia trao sách cho Saphan
đọc. Rồi thư ký Saphan đến cùng vua... Bấy giờ vua sai đi triệu tập
các trưởng lão Giuđa và Giêrusalem đến cùng vua. Vua lên Ðền thờ
Chúa với những người thuộc chi tộc Giuđa, toàn thể dân cư
Giêrusalem, các tư tế, các tiên tri và toàn dân lớn bé, ông đọc cho
mọi người nghe lời sách giao ước đã tìm thấy trong Nhà Chúa. Vua
đứng trên bệ, ký kết giao ước trước mặt Chúa, để ai nấy đi theo
Chúa, cùng hết lòng hết sức tuân giữ các huấn lệnh, các lề luật và
nghi lễ của Chúa. Họ làm sống lại các lời giao ước đã ghi chép trong
sách này: cả dân đều chấp nhận bản giao ước".
Bài Đáp Ca hôm nay thực sự phản ảnh tinh thần, thiện chí và tâm tình
của dân Do Thái đối với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, qua
lề luật Ngài ban cho họ, như được Bài Đọc 1 hôm nay tường thuật:
1) Lạy Chúa, xin dạy bảo con đường lối thánh chỉ Ngài, để con tuân giữ
cho bằng triệt để.
2) Xin dạy con để con vâng theo luật pháp Ngài, và để con hết lòng tuân
giữ luật đó.
3) Xin hướng dẫn con vào đường lối chỉ chị Ngài, vì chính trong đường
lối này con sung sướng.
4) Xin nghiêng lòng con theo lời Ngài nghiêm huấn, và chớ để con sa ngã
vào chỗ lợi danh.
5) Xin cho con ngoảnh mặt, khỏi thấy cảnh phù vân; xin cho con được sống
noi theo đường lối Chúa.
6) Này đây, con khao khát huấn lệnh của Ngài, theo lượng công minh Ngài,
xin cho con được sống.
Thứ Năm
Bài Ðọc I: (Năm
II) 2
V 24, 8-17
"Vua Babylon dẫn về Babylon
Gioakim, và tất cả những binh sĩ thiện chiến làm tù binh".
Trích sách Các Vua quyển thứ hai.
Khi lên ngôi, vua Gioakim mới mười
tám tuổi, và trị vì ở Giêrusalem ba tháng. Tên mẹ vua là Naestha, ái nữ
của Elna-than, quê ở Giêrusalem. Vua làm điều mất lòng Chúa cũng như cha
vua đã làm xưa.
Khi ấy binh sĩ của Nabucôđônôsôr,
vua Babylon, tiến đến vây Giêrusalem. Nabucôđônôsôr, vua Babylon, thân
chinh điều khiển binh sĩ đến tận nơi để tấn công thành. Khi ấy Gioakim,
vua Giuđa, đầu hàng vua Babylon, cùng với mẹ, binh sĩ, quan tước và các
thái giám. Vua Babylon bắt họ làm tù binh, khi ấy là năm thứ tám triều
vua Babylon. Vua này mang về tất cả kho tàng của đền thờ Chúa, và đền
vua, ông đập vỡ tất cả các bình vàng mà Salomon, vua Israel, đã đúc cho
cung thánh của Chúa, như thế ứng nghiệm lời Chúa đã phán. Vua đã đem
toàn thể Giêrusalem đi đày, gồm các sĩ quan, mười ngàn binh lính cường
tráng, các thứ thợ thủ công, thợ rèn, không sót lại gì cả, ngoại trừ đám
dân nghèo. Vua cũng dẫn về Babylon làm tù binh vua Gioakim và thái hậu,
các hoàng hậu, các thái giám, những bậc vị vọng, bảy ngàn trai tráng,
một ngàn thợ làm nghề thủ công, thợ rèn, tất cả những binh sĩ thiện
chiến. Vua Babylon dẫn họ sang Babylon làm tù binh. Vua đặt hoàng thúc
Matthania làm vua thay Gioakim, và đổi tên ông là Seđecia.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 78,
1-2. 3-5. 8. 9
Ðáp: Lạy Chúa,
xin giải thoát chúng con vì vinh quang danh Chúa (c. 9bc).
Xướng: 1) Ôi Thiên Chúa, ngoại
bang đã xông vào gia nghiệp Chúa, họ làm ô uế thánh điện của Ngài, họ
biến Giêrusalem thành nơi đổ nát! Họ ném tử thi thần dân Chúa làm mồi
nuôi chim trời, và huyết nhục tín đồ Ngài cho muông thú đồng hoang. -
Ðáp.
2) Họ đổ máu chư vị đó dường như
nước lã quanh Giêrusalem mà không có kẻ chôn vùi. Chúng con bị bêu ra
cho láng giềng phỉ nhổ, cho lân bang chế diễu nhạo cười! Tới ngày nào,
lạy Chúa, Chúa còn giận mãi? Và lòng ghen hận Chúa còn như lửa nấu nung?
- Ðáp.
3) Xin đừng nhớ lỗi tiền nhân để
trị chúng con; xin kíp mở lòng từ bi đón nhận chúng con, vì chúng con
lầm than quá đỗi! - Ðáp.
4) Ôi Thiên Chúa, Ðấng cứu độ
chúng con, xin phù trợ chúng con vì vinh quang danh Chúa; xin giải thoát
và tha tội chúng con vì danh Ngài. - Ðáp.
Alleluia: Ga 1,
14 và 12b
Alleluia, alleluia! - Ngôi lời đã
làm người và đã ở giữa chúng ta. Những ai tiếp rước Người, thì Người ban
cho họ quyền làm con Thiên Chúa. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 7,
21-29
"Nhà xây trên nền đá và nhà xây
trên cát".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các
môn đệ rằng: "Không phải tất cả những ai nói với Thầy: "Lạy Chúa, Lạy
Chúa", là được vào nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Thầy ở
trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời. Trong ngày đó, nhiều người sẽ
nói với Thầy rằng: "Lạy Chúa, Lạy Chúa, nào chúng con đã không nhân danh
Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, và nhân danh Chúa mà
làm nhiều phép lạ đó ư?" Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với chúng rằng: "Ta
chẳng hề biết các ngươi, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi
mặt Ta".
"Vậy ai nghe những lời Thầy nói
đây và đem thực hành, thì giống như người khôn ngoan, đã xây nhà mình
trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió bão có thổi đến và lùa
vào nhà đó, nhà đó vẫn không sập, vì nhà ấy được xây trên đá. Và hễ ai
nghe những lời Thầy nói đây mà không đem ra thực hành, thì giống như
người ngu đần, xây nhà mình trên cát, khi mưa sa nước lũ, gió thổi và
lùa vào nhà đó, nhà sẽ sập và sẽ trở nên đống hoang tàn".
Khi Chúa đã nói xong những lời
trên, dân chúng kinh ngạc về giáo lý của Người: vì Người dạy dỗ họ như
Ðấng có quyền, chứ không như luật sĩ và các biệt phái của họ.
Ðó là lời Chúa.

Nền đá
sự sống
Bài
Phúc Âm
cho Thứ Năm Tuần XII Thường Niên hôm nay là
bài phúc âm (Mathêu 7:21-29) kết
thúc Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu. Qua bài
phúc âm kết thúc Bài Giảng Trên Núi này, Chúa Giêsu muốn nói với các
môn đệ của Người rằng:
1- Chỉ có ý Chúa được thể hiện qua việc con người tin tưởng chấp
nhận, đáp ứng và tuân hành mới mang lại ơn cứu độ cho họ: "Không
phải tất cả những ai nói với Thầy: 'Lạy Chúa, Lạy Chúa', là được vào
nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Thầy ở trên trời, kẻ ấy
mới được vào nước trời". Nghĩa
là chỉ có những ai sống kết hợp ý mình với ý Chúa, chứ không phải thành
phần theo ý riêng, dù là làm việc Chúa vẫn theo ý riêng, hay sống bôi
bác giả hình bề ngoài, sống không thật, không bằng tất cả tấm lòng của
mình.
2- Chứ không phải là những việc làm gì khác, cho dù là việc thu hút thế
gian nhất, như nói tiên tri có vẻ thông biết mọi sự, hay trừ quỉ hoặc
làm phép lạ với đầy
quyền năng: "Trong
ngày đó, nhiều người sẽ nói với Thầy rằng: 'Lạy Chúa, Lạy Chúa, nào
chúng con đã không nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ
quỷ, và nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó ư?' Và bấy giờ Thầy sẽ
tuyên bố với chúng rằng: 'Ta chẳng hề biết các ngươi, hỡi những kẻ làm
điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt Ta'".
Thành phần "nhân danh Thày" đây phải chăng là chính các tông đồ và các
vị thừa kế các ngài, và dù là các đấng bậc chăng nữa, có quyền giảng dạy
("tiên tri"), quyền trừ quỉ và làm phép lạ, như được Chúa Giêsu ban cho
khi Người sai các vị đi rao giảng (xem Mathêu 10:1), cũng nguy hiểm và
càng nguy hiểm nếu không biết sống trọn ý Chúa nơi mình.
3- Đời
sống thiêng liêng cũng chỉ vững chắc khi được căn cứ vào lời của Người,
vào giáo huấn vô cùng chân thật và trọn hảo của Người, vào tất cả
những gì Người đã truyền dạy mà
thôi: "Vậy
ai nghe những lời Thầy nói đây và đem thực hành, thì giống như người
khôn ngoan, đã xây nhà mình trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào,
gió bão có thổi đến và lùa vào nhà đó, nhà đó vẫn không sập, vì nhà ấy
được xây trên đá. Và hễ ai nghe những lời Thầy nói đây mà không đem ra
thực hành, thì giống như người ngu đần, xây nhà mình trên cát, khi mưa
sa nước lũ, gió thổi và lùa vào nhà đó, nhà sẽ sập và sẽ trở nên đống
hoang tàn".
Ở đầu
Bài Giảng Trên Núi, Thánh
ký Mathêu cho biết là "thấy đoàn lũ dân chúng thì Chúa Giêsu lên núi;
khi Người ngồi xuống thì các môn đệ đến cùng Người". Có nghĩa là giáo
huấn về phúc đức trọn lành của Người trực tiếp ngỏ cùng thành phần được
Người kêu gọi theo Người, nhờ đó họ có thể trở thành "muối đất", thành
"ánh sáng thế gian".
Thế nhưng, kết thúc
Bài Giảng Trên Núi này, Thánh ký Mathêu lại cho thấy là chính dân chúng
cũng được nghe "ké" giáo huấn phúc đức trọn lành này
của Chúa Giêsu nữa,
hay cũng có thể tiếng của Người nói với các môn đệ càng lúc càng vang to
hơn khi Người thấy dân chúng tiếp tục kéo đến gần ngay chỗ qui tụ của
Người và các môn đệ bấy giờ: "Khi
Chúa đã nói xong những lời trên, dân chúng kinh ngạc về giáo lý của
Người: vì Người dạy dỗ họ như Đấng có quyền, chứ không như luật sĩ và
các biệt phái của họ".
Qua lời
diễn tả ngay sau Bài Giảng Trên Núi này
của Thánh ký Mathêu, chúng
ta thấy 2 điều: 1- về phía dân chúng, cho dù ở tầm mức bình dân, không
thông thái
như thành phần luật sĩ và biệt phái, cũng có thể cảm nhận được giáo huấn
cao siêu của Chúa Giêsu; 2- về phía Chúa Giêsu, giáo huấn phúc đức trọn
lành của Người tuy cao
siêu "chật hẹp" nhưng
hoàn toàn hợp với lòng người, hợp với nhân bản, và nếu được mang
ra áp
dụng thực
hành con người
sẽ được
biến đổi và thăng
hóa theo đúng ơn gọi cùng thân phận làm
người của họ.
Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy những gì xây trên cát tự nhiên trần gian hơn
là xây trên đá đức tin chân thật sẽ bị sụp đổ khi gặp gian nan thử
thách. Điển hình là trường hợp của vị vua trẻ Xứ Giuđa là Gioakim, "khi
lên ngôi vua mới 18 tuổi và trị vì ở Giêrusalem ba tháng", nhưng "vua
làm điều mất lòng Chúa cũng như cha vua đã làm xưa", mà "khi
binh sĩ của Nabucôđônôsôr, vua Babylon, tiến đến vây Giêrusalem.
Nabucôđônôsôr, vua Babylon, thân chinh điều khiển binh sĩ đến tận nơi để
tấn công thành", thì "Gioakim, vua
Giuđa, đầu hàng vua Babylon, cùng với mẹ, binh sĩ, quan tước và các thái
giám".
Để rồi hậu quả vô cùng tai hại là "Vua (Babylon) đã đem toàn thể
Giêrusalem đi đày, gồm các sĩ quan, mười ngàn binh lính cường tráng, các
thứ thợ thủ công, thợ rèn, không sót lại gì cả, ngoại trừ đám dân nghèo.
Vua cũng dẫn về Babylon làm tù binh vua Gioakim và thái hậu, các hoàng
hậu, các thái giám, những bậc vị vọng, bảy ngàn trai tráng, một ngàn thợ
làm nghề thủ công, thợ rèn, tất cả những binh sĩ thiện chiến. Vua
Babylon dẫn họ sang Babylon làm tù binh".
Biến cố bị đi đầy sang Babylon của dân thuộc Vương quốc Giuđa trong Bài
Đọc 1 hôm nay, và biến cố bị đi đầy sang Ninivê của dân thuộc Vương quốc
Israel trước đó, như trong Bài Đọc 1 hôm Thứ Hai tuần này cho biết, đối
với dân chúng là một tai họa vô cùng khủng khiếp, còn hơn là bị ngoại
bang đô hộ khi họ còn sống trong đất nước của họ. Thế nhưng, họ không
thể nào kêu trách Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ được, bởi Ngài
đã từng sai các vị ngôn sứ của Ngài đến với họ để cảnh tỉnh họ và cảnh
báo cho họ nhưng họ vẫn không chịu lắng nghe và đáp ứng, họ ưa nặng hơn
ưa nhẹ, cho tới khi họ không ngờ phải hứng chịu một hậu quả mà họ đã
được báo trước nhưng vẫn bất chấp, và cho tới bấy giờ họ mới chịu thống
hối ăn năn, cho dù không còn kịp nữa, nhưng vẫn chưa muộn màng đối với
LTXC và quyền toàn năng cứu độ của Vị Thiên Chúa là Chúa của họ.
Bài Đáp Ca hôm nay là tất cả tâm tình than van khóc lóc cùng thống hối
ăn năn của họ:
1) Ôi Thiên Chúa, ngoại bang đã xông vào gia nghiệp Chúa, họ làm ô
uế thánh điện của Ngài, họ biến Giêrusalem thành nơi đổ nát! Họ ném tử
thi thần dân Chúa làm mồi nuôi chim trời, và huyết nhục tín đồ Ngài cho
muông thú đồng hoang.
2) Họ đổ máu chư vị đó dường như nước lã quanh Giêrusalem mà không
có kẻ chôn vùi. Chúng con bị bêu ra cho láng giềng phỉ nhổ, cho lân bang
chế diễu nhạo cười! Tới ngày nào, lạy Chúa, Chúa còn giận mãi? Và lòng
ghen hận Chúa còn như lửa nấu nung?
3) Xin đừng nhớ lỗi tiền nhân để trị chúng con; xin kíp mở lòng từ
bi đón nhận chúng con, vì chúng con lầm than quá đỗi!
4) Ôi Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng con, xin phù trợ chúng con vì
vinh quang danh Chúa; xin giải thoát và tha tội chúng con vì danh Ngài.
Thứ Sáu
Bài Ðọc I: (Năm
II) 2
V 25, 1-12
"Cả dân Giuđa bị di chuyển khỏi
lãnh thổ mình".
Trích sách Các Vua quyển thứ hai.
Ngày mồng mười tháng mười năm thứ
chín triều đại Sêđêcia đã xảy ra như thế này: Nabucôđônôsor vua Babylon
kéo cả đạo quân tấn công Giêrusalem, dựng trại quanh thành và đào hầm
quanh tường thành. Thành bị bao vây cho tới năm thứ mười một đời vua
Sêđêcia. Ngày mồng chín tháng tư, nạn đói hoành hành trong thành, dân
chúng không còn bánh ăn. Tường thành bị chọc thủng một khoảng, thừa đêm
tối tất cả các chiến sĩ chạy trốn qua lối cửa giữa hai tường, gần vườn
vua. Khi ấy, quân Calđê vẫn bao vây thành. Vậy vua Sêđêcia chạy trốn qua
con đường đi Araba. Nhưng quân Calđê đuổi theo kịp vua tại cánh đồng
Giêricô: tất cả các chiến sĩ hộ tống vua đều bỏ vua mà chạy tứ tán.
Sêđêcia bị bắt và điệu về cho vua
Babylon đang ngự tại Rebla: vua này tuyên án xử ngài; rồi truyền giết
các con của Sêđêcia ngay trước mặt ngài, truyền khoét mắt vua và xiềng
vua dẫn về Babylon.
Ngày mồng bảy tháng năm, chính là
năm thứ mười chín triều đại vua Babylon, Nabuzarđan tướng quân, cận thần
vua Baby-lon, đến Giêrusalem: đốt đền thờ Chúa, đền vua, và tất cả các
nhà ở Giêrusalem. Tất cả các nhà đồ sộ, ông nổi lửa đốt hết. Quân binh
Calđê đang ở với tướng quân, triệt hạ tường thành bao quanh Giêrusalem.
Nabuzarđan tướng quân bắt đi phần
dân còn sót trong thành, cả những kẻ trốn theo vua Babylon và tất cả
những người khác. Còn hạng cùng đinh chỉ để lại (làm) những kẻ trồng nho
và những người làm ruộng.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 136,
1-2. 3. 4-5. 6
Ðáp: Lưỡi tôi
dính vào cuống họng, nếu tôi không nhớ đến ngươi (c. 6a).
Xướng: 1) Trên bờ sông Babylon,
chúng tôi ngồi khóc nức nở khi tưởng nhớ đến núi Sion. Trên những cây
dương liễu miền đó, chúng tôi treo các cây lục huyền cầm của chúng tôi.
- Ðáp.
2) Vì nơi này, quân canh ngục đòi
chúng tôi vui vẻ hát lên. Họ giục chúng tôi rằng: "Hãy vui mừng; hãy hát
cho chúng ta nghe điệu ca Sion". - Ðáp.
3) Lẽ nào chúng tôi ca hát ngợi
khen Thiên Chúa trên đất khách quê người? Hỡi Giêrusalem, nếu tôi lại
quên ngươi, thì cánh tay tôi sẽ bị khô đét. - Ðáp.
4) Lưỡi tôi dính vào cuống họng
nếu tôi không nhớ đến ngươi, nếu tôi không đặt Giêrusalem trên tất cả
mọi niềm vui thoả. - Ðáp.
Alleluia: Ga 8,
12
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống". -
Alleluia.
Phúc Âm: Mt 8,
1-4
"Nếu Ngài muốn, Ngài có thể
chữa tôi được sạch".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi Chúa Giêsu ở trên núi xuống,
đám đông dân chúng theo Người. Có một người cùi đến lạy Người mà thưa
rằng: "Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa tôi được sạch". Chúa
Giêsu giơ tay ra chạm đến anh ta và phán: "Ta muốn. Anh hãy lành bệnh".
Tức thì anh ta liền lành khỏi bệnh phong cùi. Chúa Giêsu phán bảo anh
ta: "Hãy ý tứ, đừng nói với ai. Hãy đi trình diện với tư tế và dâng của
lễ theo luật Môsê để minh chứng cho họ biết".
Ðó là lời Chúa.

Giao ước
sự sống
Bài
Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần XII Thường Niên, Thánh
ký Mathêu (8:1-4) đã cho biết ở ngay câu đầu của đoạn 8 là: "Khi
Chúa Giêsu ở trên núi xuống, đám đông dân chúng theo Người".
Tức
là, sau Bài
Giảng Trên Núi của Người, một bài giảng đã gây một tác dụng mãnh liệt
nơi dân chúng như câu kết của đoạn 7 sau bài Giảng Trên Núi ở bài
Phúc Âm hôm qua cho thấy: "Khi
Chúa đã nói xong những lời trên, dân chúng kinh ngạc về giáo lý của
Người: vì Người dạy dỗ họ như Đấng có quyền, chứ không như luật sĩ và
các biệt phái của họ".
Nhưng
có một cái lạ là hình như trong đám đông dân chúng ấy có một người cùi,
không biết nặng hay nhẹ, chắc là nhẹ thôi nên không ai chú ý lắm, bằng
không anh ta đâu có thể lẻn vào đám đông như vậy được mà đến xin Chúa
Giêsu chữa lành cho một cách dễ dàng như thế: "Có
một người cùi đến lạy Người mà thưa rằng: 'Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài
có thể chữa tôi được sạch'".
Còn
một cái lạ hơn nữa, đó là, sau khi chữa cho người cùi được lành rồi,
Chúa Giêsu chẳng những bảo anh ta đi trình diện các vị tư tế
theo đúng luật định mà trước hết căn dặn anh ta phải giữ kín chuyện được
chữa lành nữa: "Chúa
Giêsu giơ tay ra chạm đến anh ta và phán: 'Ta muốn. Anh hãy lành bệnh'.
Tức thì anh ta liền lành khỏi bệnh phong cùi. Chúa Giêsu phán bảo anh
ta: 'Hãy ý tứ, đừng nói với ai. Hãy đi trình diện với tư tế và dâng của
lễ theo luật Môsê để minh chứng cho họ biết'".
Nếu
Chúa Giêsu đã chữa cho người cùi này lành mạnh ngay giữa đám đông dân
chúng theo Người bấy giờ thì Người còn căn dặn "'Hãy
ý tứ, đừng nói với ai" đây
nghĩa là gì, trong khi đó bao nhiêu người bấy giờ đã biết chuyện anh
ta được chữa lành và sẽ đồn ra khắp nơi, cho dù anh ta không nói. Hay là
Chúa Giêsu đã gặp riêng người cùi này khi dân chúng đã tự động giải tán
vào một lúc nào đó, vì Người cùng với các môn đệ đi vào một nơi hoang
vắng nào đó, nơi ẩn náu của thành phần bị cùi hủi
sống xa
tránh dân chúng?
Thật
ra, ngay trước Bài Giảng Trên Núi, theo Thánh ký Mathêu (4:23-25), Chúa
Giêsu đã nổi tiếng tới tận Syria về các phép lạ Người chữa
lành
cho các thứ bệnh nạn tật nguyền rồi. Nhưng ngay sau Bài Giảng Trên Núi
thì người cùi này là trường hợp cá nhân đầu tiên được kể đến bởi quyền
năng chữa lành của Người.
Thái độ khiêm cung
("đến lạy Người") và
hoàn
toàn tin
tưởng phó
thác tùy ý Chúa muốn ("Lạy
Ngài nếu Ngài muốn, Ngài
có thể chữa tôi được sạch") của
nạn nhân phong cùi đã được
Chúa Giêsu đáp ứng, bằng cách Người "giơ
tay chạm đến anh ta và phán: 'Ta muốn. Anh hãy lành bệnh'".
Bệnh
phong cùi là chứng bệnh làm hư hoại hình dạng của con người, một chứng
bệnh tiêu biểu cho tác dụng của nguyên tội đã làm cho con người được
dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27) không
còn nguyên vẹn hình hài tốt lành như thuở ban đầu nữa.
Thế nhưng, Thiên
Chúa đã hứa cứu độ con người ngay sau khi nguyên tổ của họ sa ngã (xem
Khởi Nguyên 3:15), để họ có thể lấy lại dung nhan hình hài thần linh của
mình, bằng cách được trở nên giống Chúa Giêsu Kitô Con của Ngài "là
hình ảnh Thiên Chúa vô hình" (Colose 3:15).
Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy một vương quốc Giuđa nói chung và Thành Thánh
Giêrusalem nói riêng bị phong cùi đến độ hoàn toàn biến dạng và trở
thành dị dạng gây ra bởi bàn tay của đế quốc dân ngoại Babylon. Chỉ vì
sau đợt lưu đầy sang Babylon thứ nhất, vua Sêđêcia là chú của vua Gioakim, được
Vua Babylon đặt lên thay người cháu bị bắt
đầy sang Babylon, nhưng bất chấp biến cố người cháu làm vua trước mình
có bị đi đầy sang Babylon và vương quốc của mình đang bị Babylon đô hộ,
vẫn tiếp tục sống một cách gian ác. Để rồi cuối cùng phải hứng chịu một
hậu quả còn ghê gớm hơn cháu của mình, liên quan đến bản thân vua, gia
đình vua, dân của vua và thành trì của vua nữa, thật là tan hoang, chẳng
còn hình thù gì nữa, chẳng khác gì như bị một chứng phong cùi rùng rợn:
"Vua Sêđêcia chạy trốn qua con đường đi Araba. Nhưng quân Calđê đuổi
theo kịp vua tại cánh đồng Giêricô: tất cả các chiến sĩ hộ tống vua đều
bỏ vua mà chạy tứ tán. Sêđêcia bị bắt và điệu về cho vua Babylon đang
ngự tại Rebla: vua này tuyên án xử ngài; rồi truyền giết các con của
Sêđêcia ngay trước mặt ngài, truyền khoét mắt vua và xiềng vua dẫn về
Babylon. Ngày mồng bảy tháng năm, chính là năm thứ mười chín triều đại
vua Babylon, Nabuzarđan tướng quân, cận thần vua Baby-lon, đến
Giêrusalem: đốt đền thờ Chúa, đền vua, và tất cả các nhà ở Giêrusalem.
Tất cả các nhà đồ sộ, ông nổi lửa đốt hết. Quân binh Calđê đang ở với
tướng quân, triệt hạ tường thành bao quanh Giêrusalem. Nabuzarđan tướng
quân bắt đi phần dân còn sót trong thành, cả những kẻ trốn theo vua
Babylon và tất cả những người khác".
Và cũng chỉ khi nào thành phần dân ưu tuyển này phải hứng chịu gian nan
khốn khổ đến tận cùng như thế, xứng với thái độ quá ư là mù quáng và
cứng đầu cứng cổ ương ngạnh của họ, họ mới nhận biết tội lỗi mình mà kêu
khóc xin Chúa đoái thương, như tâm tình ai oán than thân trách phận nơi
lưu đầy tha hương ở đất khách quê người của Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Trên bờ sông Babylon, chúng tôi ngồi khóc nức nở khi tưởng nhớ
đến núi Sion. Trên những cây dương liễu miền đó, chúng tôi treo các cây
lục huyền cầm của chúng tôi.
2) Vì nơi này, quân canh ngục đòi chúng tôi vui vẻ hát lên. Họ giục
chúng tôi rằng: "Hãy vui mừng; hãy hát cho chúng ta nghe điệu ca Sion".
3) Lẽ nào chúng tôi ca hát ngợi khen Thiên Chúa trên đất khách quê
người? Hỡi Giêrusalem, nếu tôi lại quên ngươi, thì cánh tay tôi sẽ bị
khô đét.
4) Lưỡi tôi dính vào cuống họng nếu tôi không nhớ đến ngươi, nếu tôi
không đặt Giêrusalem trên tất cả mọi niềm vui thoả.
Thứ Bảy
Bài Ðọc I: (Năm
II) Ac
2, 2. 10-14. 18-19
"Trên tường thành thiếu nữ
Sion, lòng họ kêu vang lên Thiên Chúa".
Trích sách Ai Ca.
Chúa phá tan các báu vật nhà
Giacóp chẳng nương tay: trong cơn thịnh nộ, Chúa phá huỷ thành luỹ thiếu
nữ Giuđa. Người quật xuống đất và làm sỉ nhục cả vương quốc, cả quan
chức cao sang.
Các kỳ lão của thiếu nữ Sion ngồi
dưới đất thinh lặng, mình mang áo nhặm và rắc tro trên đầu. Còn các
trinh nữ Giêrusalem gục đầu xuống đất. Mắt tôi hao mòn vì quá khóc than,
lòng tôi bàng hoàng thổn thức, gan tôi đổ tràn trên đất, vì các tai hoạ
của thiếu nữ dân tôi: các trẻ thơ, hài nhi măng sữa, xỉu la liệt giữa
phố phường. Chúng xin mẹ: "Bánh mì rượu tốt ở đâu?" Chúng ngã xỉu ngoài
đường phố như bị gươm đao. Chúng tắt thở ngay nơi lòng mẹ.
Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, ta sánh
ngươi cùng ai, ta ví ngươi như kẻ nào? Hỡi trinh nữ Sion, ta sánh ngươi
cùng ai để an ủi? Vì nỗi khổ ngươi man mác tựa biển khơi, nào ai chữa
nổi ngươi? Các tiên tri của ngươi nói bậy nói sai, chẳng vạch cho ngươi
một vài gian ác, cùng chẳng giục ngươi khóc lóc ăn năn, mà chỉ tiên kiến
những điều giả dối, khiến ngươi bị trục xuất và lưu đày.
Trên tường thành thiếu nữ Sion,
lòng họ kêu vang lên Chúa. Hãy chan hoà suối lệ đêm ngày, đừng để mắt
ngươi yên nghỉ. Hãy chỗi dậy, hãy ca ngợi mỗi đầu canh đêm, hãy giốc đổ
lòng ra như nước trước Nhan Chúa, hãy giơ tay cầu khẩn Chúa cho lũ trẻ
thơ, chúng ngã xỉu vì đói ở góc đường xó chợ.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 73,
1-2. 3-5a. 5b-7. 20-21
Ðáp: Ðời sống
con người cơ khổ, xin Chúa đừng nỡ quên hoài (c. 19b).
Xướng: 1) Lạy Chúa, tại sao Chúa
ruồng bỏ chúng con hoài? Tại sao Chúa nung nấu lửa hận với đoàn chiên
Chúa? Xin nhớ lại cộng đồng Chúa thiết lập tự thuở xa xưa, xin nhớ bộ
lạc Chúa đã chuộc để làm phần tư hữu, xin nhớ lại núi Sion, nơi Chúa đã
đặt ngai toà! - Ðáp.
2) Xin Chúa dời gót tới nơi hoang
tàn vĩnh viễn: tên thù đã tàn phá hết trong thánh điện của Ngài. Trong
hội đường của Chúa, quân nghịch đã rống lên, chúng đã đặt cờ hiệu của
chúng trên đài chiến thắng. - Ðáp.
3) Chúng giống như kẻ trong rừng
rậm vung lưỡi rìu! Chúng cũng dùng rìu búa bổ vào cửa hội đường như thế,
chúng đã châm lửa đốt thánh điện của Ngài, chúng chà đạp cung lâu danh
Ngài tận đất! - Ðáp.
4) Xin Chúa nhìn lại lời minh ước,
vì nơi hang hốc và đồng ruộng đầy dẫy bạo hành. Xin đừng để người khiêm
cung trở về tủi hổ, xin cho người cơ hàn nghèo khổ được ngợi khen danh
Chúa. - Ðáp.
Alleluia: 1 Sm
3, 9
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa,
xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống
đời đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 8,
5-17
"Những người từ phương đông và
phương tây sẽ đến trong nước trời".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu vào thành
Capharnaum, thì có một đại đội trưởng đến thưa Chúa rằng: "Lạy Thầy,
thằng nhỏ nhà tôi đau nằm ở nhà, nó bị tê liệt đau đớn lắm!" Chúa Giêsu
phán bảo ông rằng: "Tôi sẽ đến chữa nó". Nhưng viên đại đội trưởng thưa
Người rằng: "Lạy Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi,
nhưng xin Thầy chỉ phán một lời, thì thằng nhỏ của tôi sẽ lành mạnh. Vì
chưng, cũng như tôi chỉ là người ở dưới quyền, nhưng tôi cũng có những
người lính thuộc hạ, tôi bảo người này đi thì anh đi, tôi bảo người kia
đến thì anh đến, tôi bảo gia nhân làm cái này thì nó làm!" Nghe vậy,
Chúa Giêsu ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người rằng: "Quả thật, Ta
bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel.
Ta cũng nói cho các ngươi biết rằng: nhiều người từ phương đông và
phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước trời.
Còn con cái trong nước sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải
khóc lóc nghiến răng". Ðoạn Chúa nói với viên sĩ quan rằng: "Ông cứ về,
ông được như ông đã tin". Và ngay giờ ấy, gia nhân ông đã được lành
mạnh.
Khi Chúa Giêsu vào nhà ông Phêrô,
thấy bà mẹ vợ ông đang sốt rét liệt giường. Chúa chạm đến tay bà và cơn
sốt biến đi. Bà chỗi dậy tiếp đãi các ngài.
Ðến chiều, họ đưa đến cho Chúa
nhiều người bị quỷ ám: Chúa dùng lời đuổi quỷ, và chữa lành tất cả các
bệnh nhân, để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia nói rằng: "Người đã gánh lấy
các bệnh tật của chúng ta, và đã mang lấy những nỗi đau thương của chúng
ta".
Ðó là lời Chúa.

Giao ước
sự sống
(tiếp)
Bài
Phúc Âm của
Thánh ký Mathêu (8:5-17) cho Thứ Bảy Tuần XII Thường Niên hôm nay tiếp
tục bài phúc âm hôm qua, cả hai bài đều được vị thánh ký này ghi lại về
2 trường hợp chữa lành khác nhau, nhưng bài phúc âm hôm qua việc chữa
lành của Người liên quan đến một người Do Thái, còn bài phúc âm hôm nay
việc chữa lành của Người liên quan đến một người dân ngoại, đó là "một
đại đội trưởng".
Thế
nhưng, phải công nhận là viên đại đội
trưởng Roma này có
lòng bác ái yêu thương nên vừa nghe ông yêu cầu: "Lạy
Thầy, thằng nhỏ giúp
việc cho nhà
tôi - my serving boy - đau nằm ở nhà, nó bị tê liệt đau đớn lắm!" nên đã được
Chúa Giêsu đáp ứng liền: "Tôi
sẽ đến chữa nó".
Đúng
thế,
viên đại đội trưởng Roma này đã tỏ ra chăm sóc cho cả thằng nhỏ đầy tớ
giúp việc nhà cho ông, chứ không phải là con của ông. Nếu có máu đế quốc
thì ông chẳng để ý đến nó làm gì, có thể đã bảo nó về nhà của nó để nghỉ
ngơi cho đến khi nào khỏi bệnh thì trở lại.
Ngoài ra, có thể ông
cũng biết
nói cả tiếng
Do Thái để
sống với họ là thành phần sống dưới
quyền đô hộ của đế quốc Rôma. Do đó,
không thấy Thánh ký Mathêu nói có người thông dịch hay ông bảo ai nói
thay ông. Thánh ký Luca, trong cùng câu chuyện, lại thuật rằng ông "sai một
số vị
trưởng lão Do Thái đến với Người"
(7:3), chứ ông không đích thân đến như trong bài Phúc Âm của Thánh ký
Mathêu hôm nay.
Ở Phúc Âm Thánh ký
Luca, chúng ta còn thấy 1 chi tiết nữa cho thấy viên đại đội trưởng này
sống bác ái yêu thương dân chúng bị đô hộ
của mình nên được họ thương mến, đó là chi tiết được chính các vị trưởng
lão do ông sai đến với Chúa Giêsu bày tỏ cho Người biết rằng: "Ông ta
yêu thương dân chúng tôi, thậm chí xây dựng hội đường cho chúng tôi nữa"
(Luca 3:5).
Tuy nhiên,
không thể bác ái yêu thương nếu không có lòng khiêm nhượng. Viên đại đội
trưởng này quả thực có cả một tấm lòng khiêm nhượng trong vai trò
làm đại đội trưởng
khá nhiều quyền lực trong vùng trách
nhiệm của ông.
Trước hết, theo Thánh ký Mathêu, chính ông có
thể đã
biết tiếng
Do Thái (nhờ
học hỏi giao tiếp) để
sống hòa đồng với thành
phần dân
bị đế
quốc ông đô hộ,
chứ không cần nhờ người phụng dịch cho ông. Sau nữa, chính ông đích
thân đến xin Chúa Giêsu chữa lành cho thằng nhỏ đầy tớ Do Thái của ông,
chứ không sai bảo ai dưới quyền ông. Sau hết, chính ông đích
thân bày tỏ
cái
cảm giác bất
xứng trong việc được
diễm phúc đón
rước vào
nhà của ông một vị ông
rất coi trọng, ngưỡng phục và đầy lòng tin tưởng là
Chúa Giêsu:
"Lạy
Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi, nhưng xin Thầy chỉ
phán một lời, thì thằng nhỏ đầy
tớ của
tôi sẽ lành mạnh. Vì chưng, cũng như tôi chỉ là người ở dưới quyền,
nhưng tôi cũng có những người lính thuộc hạ, tôi bảo người này đi thì
anh đi, tôi bảo người kia đến thì anh đến, tôi bảo gia nhân làm cái này
thì nó làm!"
Đó
là lý
do, không lạ gì, sau khi đối diện với viên đại đội trưởng này, nhất là
sau khi nghe ông bày tỏ cả lòng bác ái lẫn khiên nhượng như vậy,
Chúa
Giêsu đã không ngớt lời khen tặng ông, như Thánh ký Mathêu đã ghi lại
trong bài Phúc Âm hôm nay:
"Nghe
vậy, Chúa Giêsu ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người rằng: 'Quả
thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong
Israel. Ta cũng nói cho các ngươi biết rằng: nhiều người từ phương đông
và phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước
trời. Còn con cái trong nước sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó
sẽ phải khóc lóc nghiến răng".
Lòng
bác ái yêu thương và khiêm nhượng của viên đại đội trương dân ngoại Rôma
này phát xuất từ một đức tin hữu thần, dù sống trong một thế giới vô
thần, một đức tin còn mãnh liệt hơn cả dân Do Thái của Người, một đức
tin được bày tỏ với chính vị Thiên Chúa Làm Người, Đấng đã "nói
với viên sĩ quan rằng: 'Ông cứ về, ông được như ông đã tin'. Và ngay giờ
ấy, gia nhân ông đã được lành mạnh".
Việc
Chúa Giêsu chữa lành cho thằng nhỏ đầy tớ của viên đại đội trưởng dân
ngoại Rôma
cho thấy
rằng Người đến không phải chỉ cứu dân Do Thái mà là để cứu chuộc cả loài
người nói chung và những ai tin vào Người nói riêng. Bởi vì, Người tuy
mang giòng máu Do Thái nhưng lại mặc lấy bản tính chung của loài người,
một bản tính đã bị hư hoại bởi nguyên tội, và vì thế, đúng như câu cuối
của bài Phúc Âm hôm nay trích lại lời tiên
tri Isaia: "Người
đã gánh lấy các bệnh tật của chúng ta, và đã mang lấy những nỗi đau
thương của chúng ta".
"Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy
trong Israel. Ta cũng nói cho các ngươi biết rằng: nhiều người từ phương
đông và phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước
trời. Còn con cái trong nước sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ
phải khóc lóc nghiến răng". Lời
Chúa Giêsu phán trong bài Phúc Âm hôm nay quả thực đã ứng nghiệm nơi thân
phận lưu đầy của dân Do Thái là thành phần "con cái trong nước", vì họ không
tin vào Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của mình hơn dân ngoại, trái lại,
còn liên lỉ bất trung phản bội Ngài, cho đến khi họ "phải khóc lóc nghiến
răng" như những gì được Sách Ai Ca diễn tả ở Bài Đọc 1 hôm nay:
"Chúa phá tan các báu vật nhà Giacóp chẳng nương tay: trong cơn thịnh
nộ, Chúa phá huỷ thành luỹ thiếu nữ Giuđa. Người quật xuống đất và làm sỉ
nhục cả vương quốc, cả quan chức cao sang.... các trẻ thơ, hài nhi măng sữa,
xỉu la liệt giữa phố phường. ... Chúng ngã xỉu ngoài đường phố như bị gươm
đao. Chúng tắt thở ngay nơi lòng mẹ...."
Cũng trong lúc "khóc lóc" như thế, họ đồng thời cũng "nghiến răng" khi nghĩ
đến các tay tiên tri giả mà họ đã nghe theo, phủ nhận và bách hại tiên tri
thật do Thiên Chúa sai đến cảnh báo và kêu gọi họ, bởi không hợp với xu
hướng buông tuồng phản bội của họ, và vì hùa theo những tên tiên trỉ giả ấy
đã khiến họ phải lâm vào cảnh khốn cùng ấy: "Các tiên tri
của ngươi nói bậy nói sai, chẳng vạch cho ngươi một vài gian ác, cùng chẳng
giục ngươi khóc lóc ăn năn, mà chỉ tiên kiến những điều giả dối, khiến ngươi
bị trục xuất và lưu đày".
Thế nhưng, trong cảnh khốn cùng ấy họ mới có thể thức tỉnh mà nhận ra chân
lý và tha thiết cầu xin cho được cứu độ: "Trên tường thành thiếu nữ
Sion, lòng họ kêu vang lên Chúa. Hãy chan hoà suối lệ đêm ngày, đừng để mắt
ngươi yên nghỉ. Hãy chỗi dậy, hãy ca ngợi mỗi đầu canh đêm, hãy giốc đổ lòng
ra như nước trước Nhan Chúa, hãy giơ tay cầu khẩn Chúa cho lũ trẻ thơ, chúng
ngã xỉu vì đói ở góc đường xó chợ".
Họ đặt vấn đề với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, chứ không dám
trách móc Ngài, xin Ngài nhớ lại giao ước của Ngài mà thương cứu họ cho khỏi
tay quân thù là thành phần chẳng những hành khổ họ mà còn phạm đến cả Thiên
Chúa của họ ở những nơi thánh điện của Ngài, như tâm tình của Bài Đáp Ca hôm
nay cho thấy:
1) Lạy Chúa, tại sao Chúa ruồng bỏ chúng con hoài? Tại sao Chúa nung nấu
lửa hận với đoàn chiên Chúa? Xin nhớ lại cộng đồng Chúa thiết lập tự thuở xa
xưa, xin nhớ bộ lạc Chúa đã chuộc để làm phần tư hữu, xin nhớ lại núi Sion,
nơi Chúa đã đặt ngai toà!
2) Xin Chúa dời gót tới nơi hoang tàn vĩnh viễn: tên thù đã tàn phá hết
trong thánh điện của Ngài. Trong hội đường của Chúa, quân nghịch đã rống
lên, chúng đã đặt cờ hiệu của chúng trên đài chiến thắng.
3) Chúng giống như kẻ trong rừng rậm vung lưỡi rìu! Chúng cũng dùng rìu
búa bổ vào cửa hội đường như thế, chúng đã châm lửa đốt thánh điện của Ngài,
chúng chà đạp cung lâu danh Ngài tận đất!
4) Xin Chúa nhìn lại lời minh ước, vì nơi hang hốc và đồng ruộng đầy dẫy
bạo hành. Xin đừng để người khiêm cung trở về tủi hổ, xin cho người cơ hàn
nghèo khổ được ngợi khen danh Chúa.
HẠNH THÁNH TRONG TUẦN
Thánh Lu-y
Gon-da-ga, tu sĩ
lễ nhớ bắt buộc
Ngày 21
tháng 6 - Chúa Nhật

Sinh năm 1568, gần Man-tu-a miền Lom-bác-đi-a, trong một gia đình
Cát-ti-di-ô-nê quyền quý, hấp thụ lòng đạo đức của thân mẫu, Lu-y
sớm có khuynh hướng sống đời tu. Sau khi trao lại cho anh (em) phần
đất người được tổ tiên giao cho để cai quản, người gia nhập dòng
Chúa Giê-su. Trong khi phục vụ bệnh nhân đang kỳ dịch, thánh nhân bị
lây và qua đời lúc mới hai mươi ba tuổi (năm 1591).
Bài đọc 2
Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng
Trích thư thánh Lu-y Gon-da-ga gửi cho thân mẫu.
Thưa mẹ khả kính, con cầu xin Chúa Thánh Thần luôn ban xuống cho
mẹ ân sủng và niềm an ủi của Người. Khi nhận được thư của mẹ thì
con vẫn còn ở trên chốn
tử vong này. Nhưng đã đến lúc phải hướng về trời, nơi chúng
ta sẽ ca ngợi Thiên Chúa hằng hữu trong
cõi đất dành cho kẻ sống. Con cứ tưởng mình đã hoàn tất được
cuộc hành trình này trước đây rồi. Nếu bác ái là vui
với người vui, khóc với người khóc như thánh
Phao-lô nói, thì thưa mẹ khả kính, hẳn là mẹ phải hết sức vui
mừng vì Chúa đã tỏ cho con thấy niềm hoan lạc đích thực và sự
bảo đảm không bao giờ sợ mất Người nữa ; sở dĩ con được ơn này
cũng là vì tình thương và ân sủng Chúa dành cho mẹ.
Thưa mẹ khả kính, con thú thật với mẹ là khi suy nghĩ về lòng
nhân hậu của Thiên Chúa, bao la như biển cả không đáy không bờ,
thì tâm trí con bàng hoàng, hầu như lạc lõng, không sao hiểu
nổi. Quả thật, dù con chẳng vất vả bao nhiêu trong một thời gian
vắn vỏi, thế mà Chúa cũng mời con đến nghỉ yên muôn đời. Từ trời
cao, Người gọi con đến hưởng hạnh phúc vô biên, hạnh phúc mà con
đã không mấy thiết tha tìm kiếm, và Người hứa ban thưởng cho con
vì những giọt nước mắt ít ỏi con đã đổ ra.
Thưa mẹ khả kính, xin mẹ hết sức cẩn thận, đừng khóc thương con
như khóc thương người chết, kẻo xúc phạm đến lòng nhân từ vô
biên của Chúa. Thật ra, con vẫn sống trước nhan Thiên Chúa và
những khi cần thiết, con có thể dùng lời cầu nguyện mà giúp đỡ
mẹ hữu hiệu hơn cả lúc con còn sống ở trần gian. Cuộc chia ly
này sẽ không lâu, vì trên trời chúng ta sẽ gặp lại nhau, và một
khi cùng kết hợp với Đấng cứu độ chúng ta, chúng ta sẽ được
hưởng niềm vui bất diệt mà hết lòng ngợi khen Chúa và ca tụng
tình thương Chúa đến muôn đời. Chúa lấy lại cái Người đã ký thác
nơi chúng ta không ngoài ý định là đặt nó vào nơi an toàn chắc
chắn hơn và dùng chính những thứ mà chúng ta ước mong có được để
làm cho chúng ta nên phong phú.
Thưa mẹ khả kính, sở dĩ con nói những điều đó là vì lòng những
ước mong mẹ và toàn thể gia đình coi cuộc ra đi của con như một
ân huệ đáng mừng. Xin mẹ lấy tình mẫu tử mà chúc lành cho cuộc
hành trình này của con cho đến khi đạt tới bến bờ con vẫn hằng
hy vọng. Con đã tự ý viết thư này vì không còn cách nào khác để
bày tỏ lòng kính yêu mà một người con phải có đối với mẹ mình.
Lời nguyện
Lạy Chúa là Đấng ban phát mọi ơn thiêng, Chúa đã cho thánh Lu-y
Gon-da-ga vừa sống một cuộc đời trong trắng, lại vừa biết hy sinh hãm
mình. Vì công đức và lời chuyển cầu của thánh nhân, xin Chúa rủ lòng
thương nâng đỡ, để chúng con, dầu không được trong trắng như người, thì
cũng biết noi gương người mà hãm mình đền tội. Chúng con cầu xin
Thánh Luy Gonzaga
(1568-1591)
Thánh Lu-y là một người nổi tiếng thời bấy giờ vì ngài sinh trong một gia
đình quý tộc, nhưng đời sống như thiên thần, và cái chết thật thánh thiện.
Lu-y là con cả của Hầu Tước Ferrante ở Castiglione nước Ý, phục vụ dưới
triều Philip II của Tây Ban Nha. Cha ngài mong cho con mình trở nên một nhà
lãnh đạo quân sự tài ba, do đó ngay từ khi bốn tuổi Lu-y đã được tự do tung
tăng trong trại lính, làm quen với các vũ khí. Nhưng khi lên bảy, đời sống
tâm linh Lu-y thay đổi lạ lùng và hàng ngày cậu đã đọc kinh sách, thánh vịnh
và đặc biệt kính mến Ðức Maria. Lúc 13 tuổi, cùng với người em, Lu-y theo
cha mẹ lên triều đình và cả hai giữ nhiệm vụ phục dịch cho Don Diego, thái
tử người Asturias ở Tây Ban Nha. Càng nhìn thấy sinh hoạt triều đình bao
nhiêu, Lu-y càng chán ngán bấy nhiêu và tìm cách khuây khỏa qua hạnh các
thánh.
Chính trong thời gian này, khi nghe biết về công cuộc truyền giáo của các
cha dòng Tên ở Ấn Ðộ, Lu-y đã có ý định đi tu và tập sống kham khổ cũng như
tụ tập các trẻ em nghèo để dạy giáo lý cho chúng. Mơ ước đi tu của Lu-y phải
trải qua bốn năm tranh đấu với chính người cha của mình cũng như sự dụ dỗ
của rất nhiều chức sắc trong triều. Sau cùng, Lu-y đã chinh phục được tất cả
và được nhận vào đệ tử viện dòng Tên lúc 17 tuổi.
Vì nhận thấy sức khỏe yếu kém của Lu-y, các cha giám đốc đã buộc Lu-y phải
chấm dứt sự kham khổ, phải ăn nhiều hơn, phải sinh hoạt với các đệ tử khác
và không được cầu nguyện ngoài những giờ ấn định. Lu-y được gửi lên Milan đi
học, nhưng vì sức khỏe yếu kém nên đã phải trở về Rôma.
Vào năm 1587, Lu-y tuyên khấn. Ðược vài năm sau, trận dịch hạch tấn công
Rôma. Các tu sĩ dòng Tên mở một bệnh viện của nhà dòng. Chính cha bề trên
cũng như nhiều linh mục đích thân chăm sóc bệnh nhân. Dù sức khỏe yếu kém,
Lu-y cũng tận tình phục vụ bệnh nhân và bị lây bệnh. Sau ba tháng bệnh hoạn,
Lu-y đã từ trần ngày 21 tháng Sáu 1591, lúc ấy mới 23 tuổi.
Ðời sống thánh thiện của Lu-y được cha linh hướng Robert Bellarmine (sau này
là thánh) minh xác. Và ngài được Ðức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIII phong thánh
năm 1726 và được đặt làm quan thầy các học sinh Công Giáo.
Lời Bàn
Thánh Lu-y dường như không thích hợp là quan thầy của các người trẻ trong
một xã hội mà sự khổ hạnh chỉ tìm thấy trong các đội thể thao hay võ thuật.
Có thể nào một xã hội luôn dư thừa và đầy tiện nghi lại tự ý khép mình vào
kỷ luật? Ðiều đó chỉ có thể xảy ra nếu nó tìm thấy một lý do, cũng như Thánh
Lu-y trước đây. Ðộng lực để Thiên Chúa thanh luyện chúng ta là phải cảm
nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa qua sự cầu nguyện.
Lời Trích
“Anh em thân mến, khi cầu nguyện chúng ta phải tỉnh thức và tha thiết với
tất cả tâm hồn, sốt sắng cầu nguyện. Hãy gạt bỏ tất cả những ý tưởng trần
tục, cũng như đừng để linh hồn chúng ta lo lắng về bất cứ điều gì ngoại trừ
đối tượng của sự cầu nguyện là Thiên Chúa” (Về Kinh Lạy Cha, Thánh Cyprian).
https://dongten.net/2019/06/20/hanh-cac-thanh-21-06-thanh-luy-gonzaga/
Lu-y Gonzaga sinh ngày 9 tháng 3 năm 1568, là con trưởng của hầu tước xứ
Castiglione, miền bắc nước Ý. Danh tiếng gia đình và kỳ vọng của hầu tước
đều được đặt cả vào Lu-y. Lên bốn tuổi, Lu-y đã bắt đầu cùng bố sống trong
quân đội, cậu mặc đồ lính, đeo súng và học hỏi nghiệp binh đao.
Ông
hầu tước ắt hẳn hài lòng về những gì cậu quý tử đang theo đuổi và hy vọng
cậu sẽ làm rạng danh dòng họ Gonzaga hơn nữa. Lên 9 tuổi, Lu-y và cậu em
Rudolpho được gởi đến cung điện của hầu tước Francesco de’Medici ở Firenze
để học hỏi những nghi lễ của lối sống vương giả. Cũng ở nơi ấy, Lu-y nhìn ra
mặt trái của lối sống xa hoa và phóng khoáng; nơi mà người ta luôn có những
âm mưu và sẵn sàng lừa gạt nhau, họ giải quyết vấn đề bằng dao và thuốc độc.
Nhưng ngay trong môi trường nhiều cạm bẫy đe dọa, bàn tay Chúa bắt đầu hướng
dẫn Lu-y theo con đường yêu thương của Ngài.
Mặc dù cuộc sống bên ngoài của Lu-y mang nhiều vẻ khác nhau, nội tâm của cậu
vẫn hướng về điều thiện bằng việc cầu nguyện và thích thú đọc Thánh vịnh.
Nhờ vậy, Lu-y khám phá ra rằng chỉ còn cách rút lui khỏi những cuộc vui và
bàn tiệc để tránh phạm tội. Sau thời gian ở Firenze, Lu-y được gởi tới
Mantua sống với những người họ hàng. Tại đây, cậu tình cờ đọc được cuốn Tóm
lược Giáo lý của
Cha Phêrô Canisiô, trong đó có cả phần suy niệm. Lu-y liền dùng tập sách này
làm đề tài cầu nguyện hàng ngày và cảm nếm những an ủi lớn lao. Cậu ăn chay
3 ngày mỗi tuần, suy niệm cả ban sáng lẫn ban tối, tham dự thánh lễ hành
ngày.
Trong một chuyến đi với gia đình đến Tây Ban Nha, Lu-y gặp một cha giải tội
dòng Tên ở Madrid và cậu ngày càng muốn trở thành Giêsu hữu. Ngày 15 tháng 8
năm 1583, đang khi cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ trong nhà thờ, từ nội tâm,
Lu-y cảm thấy mình được Chúa gọi theo bậc sống tu trì và mong ước gia nhập
dòng Tên. Ý đã quyết, Lu-y nguyện theo đuổi đến cùng ơn gọi của mình.
Tin này đến tai vị hầu tước và ngay lập tức ông nổi trận lôi đình khiển
trách Lu-y nặng lời và tìm đủ mọi cách ngăn cản với hy vọng cậu đổi ý. Nhưng
tất cả mọi cách ông hầu tước áp dụng chẳng đem lại thay đổi gì bởi Lu-y một
mực xin được từ bỏ tất cả để gia nhập dòng Tên. Ông hầu tước, mặc dù đặt mọi
kỳ vọng vào cậu quý tử sẽ là người thừa kế mình trong gia tộc, đành phải để
Lu-y ra đi. Tròng lòng hầu tước chẳng hề muốn điều này, nhưng vì thương con,
ông đành chiều ý cậu. Đối với ông, Lu-y là “kho tàng quý báu nhất trên cõi
đời này”.
Tháng 11 năm 1585, Lu-y nhường lại ngôi thế tử cho em trai và lên đường
hướng về nhà Tập thánh Anrê ở Rôma. Cùng đi với anh là cả một đoàn tuỳ tùng:
cha tuyên uý của gia đình, viên thái sư, một tu sĩ, những người hầu cận.
Trên đường, nhắc đến chuyện nhường ngôi thế tử, một người trong đoàn tuỳ
tùng nói với anh: “Chắc
công tử Rudolpho vui lắm”, Lu-y
trả lời:“Tôi
còn vui hơn”.
Khi vào nhà Tập, Lu-y tâm niệm rằng: “Tôi
là thanh sắt cong, phải vào nhà Dòng để được uốn lại cho thẳng”. Trong
thực tế, Lu-y nhận thấy rằng nếp sống nhà Tập lại ít đòi hỏi hơn những gì
cậu tự đặt ra cho mình khi còn ở nhà. Thực vậy, theo sự hướng dẫn của Cha
giám tập, Lu-y không được tiếp tục việc đánh tội như đã quen làm, cậu cũng
không được ăn chay thường xuyên như đã thực hành trước đây. Trên hết, Lu-y
từ bỏ chính mình để tuân thủ cách tỉ mỉ tiến trình đào luyện trở thành Giêsu
hữu. Lu-y bắt đầu tập làm những việc nhỏ nhặt trong nhà như rửa chén, lau
nhà, quét mạng nhện… những việc mà trước đây anh chưa từng đụng đến. Hết
thời gian nhà Tập, Lu-y tuyên khấn lần đầu ngày 25 tháng 11 năm 1587 và
chuyển đến Đại học Rôma để tiếp tục chương trình thần học.
Đầu năm 1591, nước Ý lâm nạn đói kém và dịch bệnh hoành hành. Cùng với các
anh em khác, Lu-y đi quyên góp thực phẩm, quần áo giúp những bệnh nhân. Lu-y
đưa những người bệnh đang hấp hối ngoài đường phố đến bệnh viện, tắm rửa và
cho họ ăn, sau đó chuẩn bị cho họ lãnh nhận các bí tích sau cùng. Một lần
sau khi trở về từ bệnh viện, Lu-y nói với Cha linh hướng Roberto Bellarmino
rằng: “Con tin rằng mình chẳng sống thêm bao lâu nữa. Con cảm thấy nơi mình
một khao khát mãnh liệt để làm việc và phục vụ Chúa nơi các bệnh nhân. Con
nghĩ rằng Chúa đã không cho con cơ hội này nếu Ngài không muốn đưa con về
với Ngài.”
Những ngày sau đó, nhiều anh em trẻ bị ngã bệnh, Cha bề trên buộc phải yêu
cầu các học viên hạn chế tiếp xúc với người bệnh và chỉ cho phép anh em đến
giúp ở bệnh viện Đức Mẹ An Ủi, nơi có những người bệnh nhẹ và ít lây. Một
hôm, Lu-y đến bệnh viện, bế một người bệnh và chăm sóc cẩn thận. Về nhà anh
ngã bệnh ngay và nằm liệt giường từ ngày 3 tháng 3 năm 1591.
Những ngày sau đó, Lu-y đón nhận tất cả những khó chịu thể xác với tâm hồn
phó thác kiên vững. Qua cầu nguyện, anh được biết mình sẽ được đưa về với
Chúa vào ngày cuối của tuần bát nhật kính Mình Thánh Chúa. Thời gian ấy đến,
ngày 21 tháng 6 năm 1591, Lu-y xin được lãnh các bí tích sau cùng. Vào
khoảng 11 giờ, Lu-y, tay nắm chặt tượng thánh giá, mắt nhìn thẳng vào Chúa
Giêsu chịu đóng đinh và môi miệng anh cố gắng thốt lên Danh Thánh Giêsu lần
cuối cùng. Anh ra đi trong bình an khi chỉ mới 23 tuổi.
Ngài được Đức Phaolô V tuyên phong chân phước vào ngày 19.10.1605 và được
Đức Bênêđictô XIII nâng lên hàng hiển thánh vào ngày 31.12.1726. Anh em Dòng
Tên kính nhớ ngài vào ngày 21 tháng 6 hàng năm. Ngài được nhiều người chọn
làm đấng cầu bầu cho giới trẻ, sinh viên, những người chăm sóc các bệnh
nhân. Anh em Dòng Tên chọn ngài làm đấng cầu bầu cho các học viên thần học.
Thánh Lu-y Gonzaga là một tấm gương cho chúng ta, nhất là các bạn trẻ, về sự
quảng đại từ bỏ vinh hoa phú quý để bước theo Đức Giêsu Kitô nghèo khó, chịu
sỉ nhục, khiêm hạ và hiến thân phục vụ cho anh chị em mình.
Cầu nguyện: Lạy
Cha, xin giúp chúng con biết noi gương thánh Lu-y Gonzaga, người anh em của
chúng con đã từ bỏ vinh hoa phú quý để nên người môn đệ Chúa Giê-su hiền
lành và khiêm nhường. Xin đừng để chúng con lây nhiễm tinh thần thế tục,
nhưng xin dạy chúng con biết tôn vinh Cha trong mọi sự. Chúng con cầu xin
nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.**R
https://ditimchanly.org/sach-kinh-thanh/truyen-cac-thanh/thanh-luy-gonzaga-tu-si-2106.html
(có thể tài liệu trên đây được lấy từ tài liệu dưới đây, chỉ thêm vào 3
đoạn cuối cùng mà thôi, vì tài liệu dưới đây mang tên tác giả, còn tài liệu
trên không thấy tên ai viết!)
THÁNH LUY GONZAGA TUỔI TRẺ DÂNG HIẾN
Luy Gonzaga sinh ngày 9 tháng 3 năm 1568, là con trưởng của hầu tước xứ
Castiglione, miền bắc nước Ý. Danh tiếng gia đình và kỳ vọng của hầu tước
đều được đặt cả vào Luy. Lên bốn tuổi, Luy đã bắt đầu cùng bố sống trong
quân đội, cậu mặc đồ lính, đeo súng và học hỏi nghiệp binh đao. Ông hầu tước
ắt hẳn hài lòng về những gì cậu quý tử đang theo đuổi và hy vọng cậu sẽ làm
rạng danh dòng họ Gonzaga hơn nữa. Lên 9 tuổi, Luy và cậu em Rudolpho được
gởi đến cung điện của hầu tước Francesco de’Medici ở Firenze để học hỏi
những nghi lễ của lối sống vương giả. Cũng ở nơi ấy, Luy nhìn ra mặt trái
của lối sống xa hoa và phóng khoáng; nơi mà người ta luôn có những âm mưu và
sẵn sàng lừa gạt nhau, họ giải quyết vấn đề bằng dao và thuốc độc. Nhưng
ngay trong môi trường nhiều cạm bẫy đe dọa, bàn tay Chúa bắt đầu hướng dẫn
Luy theo con đường yêu thương của Ngài.
Mặc dù cuộc sống bên ngoài của Luy mang nhiều vẻ khác nhau, nội tâm của cậu
vẫn hướng về điều thiện bằng việc cầu nguyện và thích thú đọc Thánh vịnh.
Nhờ vậy, Luy khám phá ra rằng chỉ còn cách rút lui khỏi những cuộc vui và
bàn tiệc để tránh phạm tội. Sau thời gian ở Firenze, Luy được gởi tới Mantua
sống với những người họ hàng. Tại đây, cậu tình cờ đọc được cuốn tóm lược
giáo lý với phần suy niệm của Cha Phêrô Canisiô. Luy liền dùng tập sách này
làm đề tài cầu nguyện hàng ngày và cảm nếm những an ủi lớn lao.
Trong một chuyến đi với gia đình đến Tây Ban Nha, Luy gặp một cha giải tội
dòng Tên ở Madrid và cậu ngày càng muốn trở thành Giêsu hữu. Ngày 15 tháng 8
năm 1583, đang khi cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ trong nhà thờ, từ nội tâm,
Luy cảm thấy mình được Chúa gọi theo bậc sống tu trì và mong ước gia nhập
dòng Tên. Ý đã quyết, Luy nguyện theo đuổi đến cùng ơn gọi của mình.
Tin này đến tai vị hầu tước và ngay lập tức ông nổi trận lôi đình khiển
trách Luy nặng lời và tìm đủ mọi cách ngăn cản với hy vọng cậu đổi ý. Nhưng
tất cả mọi cách ông hầu tước áp dụng chẳng đem lại thay đổi gì bởi Luy một
mực xin được từ bỏ tất cả để gia nhập dòng Tên. Ông hầu tước, mặc dù đặt mọi
kỳ vọng vào cậu quý tử sẽ là người thừa kế mình trong gia tộc, đành phải để
Luy ra đi. Tròng lòng hầu tước chẳng hề muốn điều này, nhưng vì thương con,
ông đành chiều ý cậu. Đối với ông, Luy là “kho tàng quý báu nhất trên cõi
đời này”.
Tháng 11 năm 1585, Luy nhường lại ngôi thế tử cho em trai và lên đường hướng
về nhà Tập thánh Anrê ở Rôma. Cùng đi với anh là cả một đoàn tuỳ tùng: cha
tuyên uý của gia đình, viên thái sư, một tu sĩ, những người hầu cận. Trên
đường, nhắc đến chuyện nhường ngôi thế tử, một người trong đoàn tuỳ tùng nói
với anh: "Chắc công tử Rudolpho vui lắm", Luy trả lời:"Tôi còn vui hơn".
Khi vào nhà Tập, Luy tâm niệm rằng: “Tôi là thanh sắt cong, phải vào nhà
Dòng để được uốn lại cho thẳng”. Trong thực tế, Luy nhận thấy rằng nếp sống
nhà Tập lại ít đòi hỏi hơn những gì cậu tự đặt ra cho mình khi còn ở nhà.
Thực vậy, theo sự hướng dẫn của Cha giám tập, Luy không được tiếp tục việc
đánh tội như đã quen làm, cậu cũng không được ăn chay thường xuyên như đã
thực hành trước đây. Trên hết, Luy từ bỏ chính mình để tuân thủ cách tỉ mỉ
tiến trình đào luyện trở thành Giêsu hữu. Luy bắt đầu tập làm những việc nhỏ
nhặt trong nhà như rửa chén, lau nhà, quét mạng nhện… những việc mà trước
đây anh chưa từng đụng đến. Hết thời gian nhà Tập, Luy tuyên khấn lần đầu
ngày 25 tháng 11 năm 1587 và chuyển đến Đại học Rôma để tiếp tục chương
trình thần học.
Đầu năm 1591, nước Ý lâm nạn đói kém và dịch bệnh hoành hành. Cùng với các
anh em khác, Luy đi quyên góp thực phẩm, quần áo giúp những bệnh nhân. Luy
đưa những người bệnh đang hấp hối ngoài đường phố đến bệnh viện, tắm rửa và
cho họ ăn, sau đó chuẩn bị cho họ lãnh nhận các bí tích sau cùng. Một lần
sau khi trở về từ bệnh viện, Luy nói với Cha linh hướng Roberto Bellarmino
rằng: “Con tin rằng mình chẳng sống thêm bao lâu nữa. Con cảm thấy nơi mình
một khao khát mãnh liệt để làm việc và phục vụ Chúa nơi các bệnh nhân. Con
nghĩ rằng Chúa đã không cho con cơ hội này nếu Ngài không muốn đưa con về
với Ngài.”
Những ngày sau đó, nhiều anh em trẻ bị ngã bệnh, Cha bề trên buộc phải yêu
cầu các học viên hạn chế tiếp xúc với người bệnh và chỉ cho phép anh em đến
giúp ở bệnh viện Đức Mẹ An Ủi, nơi có những người bệnh nhẹ và ít lây. Một
hôm, Luy đến bệnh viện, bế một người bệnh và chăm sóc cẩn thận. Về nhà anh
ngã bệnh ngay và nằm liệt giường từ ngày 3 tháng 3 năm 1591.
Những ngày sau đó, Luy đón nhận tất cả những khó chịu thể xác với tâm hồn
phó thác kiên vững. Qua cầu nguyện, anh được biết mình sẽ được đưa về với
Chúa vào ngày cuối của tuần bát nhật kính Mình Thánh Chúa. Thời gian ấy đến,
ngày 21 tháng 6 năm 1591, Luy xin được lãnh các bí tích sau cùng. Vào khoảng
11 giờ, Luy, tay nắm chặt tượng thánh giá, mắt nhìn thẳng vào Chúa Giêsu
chịu đóng đinh và môi miệng anh cố gắng thốt lên Danh Thánh Giêsu lần cuối
cùng. Anh ra đi trong bình an khi mới 23 tuổi.
Thánh Luy Gonzaga
Tu sĩ Dòng Tên
Sinh : 09.03.1568 – tại Castiglione, Bắc Ý.
Qua đời : 21.06.1591
Lễ mừng ngày 21.6
ĐẶNG THẾ NHÂN
http://www.memaria.org/default.aspx?LangID=0&tabId=392&ArticleID=21820
22/6
Thánh Phaolino Nolano Giám Mục,
Thánh Gioan Fisher Giám Mục và
Thánh Toma More Tử Đạo
Lịch Rôma hiện hành ghi danh sách ba vị thánh mừng kính ngày 22 tháng
Sáu. Chúng tôi xin trình bày ngắn gọn tích truyện các ngài ở đây, lần
lượt từng vị một.
Thánh Paulinô Nôla
Thánh Paulinô Nôla được sinh vào khoảng năm 353 tại Boócđô, nước Pháp.
Thân phụ ngài là một quan chức nhà nước và là một địa chủ giàu có.
Paulinô học hành đỗ đạt. Ngài trở thành luật sư và thi sĩ. Ngài đi du
lịch khắp các nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý và ở bất kỳ nơi nào mà công việc
hoặc thú vui khoái lạc đòi hỏi. Năm 381, lúc hai mươi tám tuổi, Paulinô
Nôla trở thành quan chức miền Campania, nước Ý.
Năm ba mươi sáu tuổi, thánh Paulinô Nôla trở thành tín hữu Công giáo.
Thánh nhân và người vợ Têrêsia của ngài sinh được một cậu con trai. Sau
khi đứa con qua đời, đôi vợ chồng bố thí tài sản mình cho những người
nghèo đói. Họ chỉ giữ lại những gì cần thiết để nuôi sống bản thân.
Paulinô và Têrêsia, cả hai đều bằng lòng muốn sống một đời đơn sơ bình
dị. Hai người cùng cầu nguyện, hy sinh và làm những công việc hữu ích.
Các ngài cũng quyết định tuân giữ lời khấn trong sạch để minh chứng tình
yêu của các ngài dành cho Thiên Chúa. Cộng đoàn Kitô hữu hết sức nể
trọng Paulinô và người vợ của ngài. Họ rất hài lòng khi Paulinô trở
thành linh mục vào năm 394. Sau đó, thánh Paulinô và Têrêsia thiết lập
một cộng đoàn nhỏ dành cho các đan sĩ ở Nôla, nước Ý. Các ngài cũng mở
một nhà tế bần cho những người nghèo và các lữ khách.
Paulinô và Têrêsia quyết định ở lại Nôla. Paulinô muốn ở gần đền thánh
Phêlích Nôla, một trong các đấng thánh mà ngài yêu mến. Thánh Phêlích,
mất năm 260, đã làm linh mục và giám mục. Thánh nhân đã can đảm bảo vệ
bổn đạo của mình trong suốt cuộc khủng bố bách hại của hoàng đế Đêsiô.
Thánh giám mục Phêlích Nôla nổi tiếng về đời sống cầu nguyện, về tình
yêu đối với đàn chiên và về lối sống đơn sơ nghèo khó. Qua một thế kỷ
sau, Paulinô Nôla cầu nguyện với thánh nhân và viết sách về ngài.
Paulinô Nôla cảm thấy hết sức tin tưởng vào quyền năng của thánh
Phêlích. Vậy điều gì đã có thể làm cho cựu quan chức Rôma này trở nên
giống như thánh Phêlích? Ngoài thánh Paulinô ra, hẳn là chẳng ai trong
chúng ta có thể phỏng đoán được. Năm 409, Paulinô Nôla được chọn làm
giám mục thành Nôla. Dân chúng rất sung sướng vui mừng. Paulinô Nôla là
vị giám mục khôn ngoan, dịu dàng, hiền lành giống như thánh Phêlích
trước đây. Nhiều vị thánh sống vào thời ấy đã ca ngợi Paulinô Nôla như
thánh Ambrôsiô, thánh Augustinô, thánh Giêrônimô, thánh Martinô thành
Tua và nhiều vị khác. Dù một số tác phẩm hay của Paulinô Nôla đã bị thất
lạc nhưng hiện vẫn còn lại 32 bài thơ và 51 lá thơ.
Thánh Paulinô làm giám mục thành Nôla cho tới khi qua đời năm 431.
Thánh Paulinô Nôla đã trở nên một tín hữu Công giáo tuyệt vời như vậy
bởi vì ngài rất quý trọng ơn đức tin. Chúng ta hãy khẩn cầu cùng thánh
Paulinô Nôla và xin ngài giúp chúng ta tăng triển lòng biết ơn đối với
đức tin đã lãnh nhận.
Thánh Gioan Phítsơ
Thánh Gioan Phítsơ sinh tại Gioócsi, nước Anh vào năm 1469. Gioan học
tại trường đại học Cambrít và được làm linh mục. Cha Phítsơ cũng dạy học
tại Cambrít. Ngài là một nhà giáo ưu tú chuyên giúp các sinh viên tăng
triển và đào sâu thêm tri thức về đức tin của họ. Cha Phítsơ cũng là một
thần học gia. Cha đặc biệt giúp ích trong việc chỉ ra những nhầm lẫn tôn
giáo của thời đại mà những nhầm lẫn này đã làm cho một số người bối rối.
Năm 1504, cha Gioan Phítsơ trở thành giám mục thành Rôchétxtơ, nước Anh.
Đó là một giáo phận nghèo và giám mục Phítsơ đã lưu lại với đàn chiên
của ngài suốt ba mươi năm. Vì thế, giám mục Phítsơ kiêm một lúc hai
nhiệm vụ quan trọng. Ngài vừa là giám mục của giáo phận vừa là hiệu
trưởng của trường đại học Cambrít. Năm 1514, Phítsơ được chỉ định làm
hiệu trưởng trường đại học vì sự sống còn của nó. Giám mục Phítsơ cũng
là cha giải tội của thân mẫu vua Henri VIII. Tên của bà là Êlizabeth
Gioóc.
Giám mục Gioan Phítsơ có nhiều bạn bè, gồm cả học giả danh tiếng Êrasmô
và thánh cả Tôma Môrê. Ít người biết được thánh giám mục Gioan Phítsơ và
thánh Tôma Môrê cùng được mừng kính chung một ngày lễ trong niên lịch
kính nhớ các thánh.
Chắc chắn chưa có cuộc mừng khi đức giám mục Phítsơ bị giam tù năm 1533.
Ngài bị bắt giam tù vì đã nhất định minh chứng cuộc hôn nhân giữa nhà
vua và hoàng hậu Catarina là đúng đắn. Sau đó, vua Henri VIII ly dị
Catarina và kết hôn với Annê Bôlây trong một nghi thức dân sự. Ông yêu
cầu thần dân ký tên vào văn bản thề hứa trung thành với ông. Ông tự
phong cho mình là thủ lãnh Giáo hội Anh quốc. Giám mục Phítsơ không ký
tên. Và liền sau đó, ngài bị đem tới tháp đài Luânđôn, một chiếc tháp
thật ẩm ướt và cách đối xử ở đó rất ư khắc nghiệt. Thánh giám mục Gioan
Phítsơ tuy phải chịu đựng rất nhiều đau khổ nhưng ngài đã không phản bội
niềm tin của mình. Thậm chí dù chưa có tivi và máy thu thanh nhưng người
ta vẫn nhận biết được những việc mà giám mục Phítsơ, ngài Tôma Môrê và
những người khác, đã thực hiện. Họ xúc động và đau buồn. Ngày 12 tháng
Sáu năm 1535, đức thánh cha Phaolô III đã đặt giám mục Gioan Phítsơ làm
hồng y. Đức thánh cha hy vọng rằng việc này sẽ làm cho Henri VIII trả
lại tự do cho Phítsơ. Nhưng vua càng thêm tức giận và độc ác. Ông yêu
cầu hồng y Phítsơ phải chết. Gioan Phítsơ bị giết chết ngày 22 tháng Sáu
năm 1535.
Cùng với người bạn Tôma Môrê, hồng y Gioan Phítsơ được đức thánh cha Piô
XI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1935.
Đôi lúc bạn dễ đồng tình với đám đông hơn là đứng ra bênh vực chân lý.
Khi thấy mình lâm vào tình trạng như vậy, bạn hãy cầu nguyện xin thánh
Gioan Phítsơ ban cho một chút lòng can đảm của ngài.
Thánh Tôma Môrê
Thánh Tôma Môrê là một luật sư và là một văn gia danh tiếng. Ngài sinh
tại Luânđôn vào năm 1477. Thân phụ của Tôma Môrê cũng từng là một luật
gia và là một quan tòa. Tôma hằng biết ơn cha mình vì đã hết sức yêu
thương và đã không làm ngài hư hỏng.
Người vợ thứ nhất của Tôma, bà Giên Côn, đã qua đời khi còn rất trẻ. Bà
để lại cho Tôma bốn người con nhỏ. Tôma Môrê kết hôn lần nữa với một quả
phụ, một quả phụ đơn sơ chất phác chẳng biết viết cũng chẳng biết đọc gì
cả. Người chồng đã gắng công dạy dỗ vợ mình. Tôma làm cho bầu khí gia
đình trở nên vui tươi dễ chịu bởi vì ngài có tính vui vẻ hòa nhã đối với
mọi người. Có một trẻ đọc trích đoạn Kinh Thánh suốt bữa ăn. Sau đó, cả
nhà vui đùa và nói chuyện khôi hài với nhau. Thánh Tôma Môrê cũng hay
mời những người láng giềng nghèo khó xấu số hơn tới nhà ngài dùng bữa
tối. Ngài luôn luôn giúp đỡ người nghèo theo khả năng có thể. Thánh nhân
thích tạo sự ngạc nhiên bất ngờ cho các vị khách của ngài. Thậm chí Tôma
Môrê cũng nuôi vài chú khỉ làm những con vật cưng trong nhà. Nhưng ít
người có thể hình dung ra thánh Tôma Môrê thật đã sống nội tâm sâu xa
đến độ nào. Ban đêm, ngài đã cầu nguyện hàng giờ và thực hành nhiều việc
khổ chế. Thánh nhân ý thức rõ rằng để trở nên một Kitô hữu đích thực thì
cần phải có ơn Thiên Chúa giúp đỡ.
Thánh Tôma Môrê nắm giữ những chức vụ chính trị quan trọng. Suốt ba năm,
thánh nhân làm đại chưởng ấn (ngày nay gọi là thủ tướng). Vua Henri VIII
thường khoác tay mình trên vai của Tôma Môrê cách yêu thương trìu mến.
Tuy nhiên, dù Tôma Môrê là một thần dân rất trung thành, thì đối với
Thiên Chúa, thánh nhân vẫn trung thành hơn. Thật sự là khi nhà vua cố
làm cho Tôma Môrê vi phạm lề luật của Thiên Chúa, Tôma Môrê đã không
chịu nhượng bộ. Henri VIII muốn được ly dị người vợ của ông để cưới một
người đàn bà khác. Tuy nhiên, đức thánh cha không thể ban phép vì đi
ngược lại luật Thiên Chúa dạy. Henri VIII thật bướng bỉnh và ngoan cố;
và sau cùng, ông đã rời bỏ Giáo hội. Ông muốn mọi người tôn nhận ông là
thủ lãnh của Giáo hội Anh quốc. Tôma không đồng ý chuyện đó. Ngài kiên
quyết luôn trung thành với đức tin Công giáo và với Thiên Chúa. Và Tôma
Môrê bị kết án tử vì lý do đó. Tuy vậy, Tôma Môrê đã tha thứ cho các kẻ
xét xử ngài. Thậm chí thánh nhân còn nói rằng ngài sẽ gặp lại họ trên
nước thiên đàng. Tôma Môrê thật sự có ý như vậy.
Trên đoạn đầu đài nơi ngài sắp sửa phải lìa đời, thánh Tôma Môrê đã hôn
lên mặt của người đao phủ. Sau đó, thánh nhân nói đùa rằng không nên
chém đứt bộ râu của ngài bởi vì nó chẳng làm điều gì nên tội. Thánh nhân
được phúc tử vì đạo vào hôm thứ Ba ngày mùng 6 tháng Bảy năm 1533, thọ
năm mươi bảy tuổi. Cùng với hồng y Gioan Phítsơ, Tôma Môrê được đức
thánh cha Piô XI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1935.
Vị thánh này được mọi người ngưỡng mộ vì ngài đã hết lòng tin tưởng vào
chân lý đức tin; và ngài đã sẵn lòng hy sinh mạng sống vì chân lý ấy.
Thánh Tôma Môrê đã liều mất hết mọi thứ: tài sản, địa vị, sự an toàn của
bản thân và của những người ngài thương yêu nhất. Thánh Tôma Môrê đã giữ
vững đức tin dù phải hy sinh cả mạng sống của mình. Thánh nhân thách đố
chúng ta tự vấn lương tâm xem chúng ta sẽ làm gì nếu ở trong hoàn cảnh
giống như ngài
tinmung.net
https://ungsinhdongten.net/ngay-2206-thanh-paulino-nola-thanh-gioan-phitso-va-thanh-toma/
Thánh Gioan Fisher, Thánh Tôma More và Thánh Paulinô Nôlanô
22/6 Thứ Hai
Thánh GIOAN FISHER
Giám Mục (1469 – 1535)
Thánh
Gioan Fisher sinh tại Beverly, Yorkshire là con của một thương gia giàu
có. Cha Ngài đã qua đời năm 1477. Khoảng năm 1482, Ngài được Mẹ gởi tới
đại học Cambriage và đã trở thành một học giả nổi danh. Năm 1941, Ngài
thụ phong linh mục. Sau mười năm học thần học. Năm 1501, và sau này Ngài
được coi như một trong các nhà thần học hàng đầu của Âu Châu.
Đại học sớm nhận ra khả năng quản trị của Ngài, lần lượt Ngài đã giữ
chức vụ giám thị, phó chưởng ấn, rồi chưởng ấn. Năm 1514, Ngài được chọn
làm chưởng ấn suốt đời.
Ngài được đặt làm giám mục Rochester năm 1504 và Ngài đã là một mục tử
chân chính, lo khích lệ các linh mục bằng sự quan tâm tới cuộc sống của
các Ngài. Là một nhà giảng thuyết thời danh, Ngài làm hết sức để có thể
cung ứng cho Giáo hội các linh mục đầy đủ khả năng giảng dạy dân chúng.
Do ảnh hưởng của Ngài mà Erasnius được đưa vào giảng dạy tiếng Hy lạp ở
đại học Cambrige Erasmus. Tôma More cũng đã trở thành bạn thân của Gioan
Fisher. Năm 1516, có bản văn ghi chép về cả ba nhân vật này ở Rochester.
Ngài Tôma More làm Tổng quản lý đại học Cambrige. Từ năm 1525 đến những
năm sau đó Tôma và Gioan Fisher hợp tác với nhau để đáp ứng người chống
lại lạc thuyết của Lutherô. Đức giám mục Gioan Fisher đã viết cuốn
Confutatio (1523) bằng tiếng Latinh. Đó là cuốn sách của thần học gia
viết cho các thần học gia. Người tín hữu (More) viết cuốn Dialogue
concerning Heresies (1528) cho giới bình dân.
Năm 1527, năm định mệnh cho nước Anh vì là lúc, Henri VIII đi bước đầu,
tới việc tiêu hủy hôn nhân của ông với Catarina miền Atagon. Năm 1501 bà
thành hôn với Arthur, anh của vua. Nhưng được sáu tháng thì Athur từ
trần. Năm 1509, đức Giáo hoàng cho phép vua được thành hôn với người vợ
goá của anh mình. Về sau, vì không có con trai để nối dõi, ông tìm cách
phá hủy hôn nhân này vịn cớ là phép chuẩn của Đức Giáo hòang không
thành. Đức Hồng y Wolsey hỏi ý kiến Đức cha Gioan Fisher. Sau khi nghiên
cứu đầy đủ đức giám mục kết luận là phép chuẩn của Đức Giáo hoàng thành.
Ngài giữ vững lập trường này mãi. Henry coi sự chống đối này là như một
hành vi bội phản.
Năm 1534 có luật thừa kế. Luật này tuyên bố rằng hôn phối với Catatina
là vô hiệu và hôn nhân với Anna Boleyn là hợp pháp. Quyền kế vị thuộc về
con bà ta. Mọi người phải thề nhận trọn đạo luật này. Đức giám mục Gioan
Fisher từ chối. Tôma More cũng vậy, bởi vì đạo luật bao hàm việc coi
phép chuẩn của đức giáo hoàng là bất thành.
Ngày 17 tháng 4 năm 1534, đức giám mục Gioan Fisher và Sir Tômas More bị
xử tại Tower và bị giam biệt ra. Ngày 20 tháng 5 năm 1535 đức giám mục
Gioan Fisher được phong làm hồng y . Điều này làm nhà vua giận dữ và vội
vã lập toà án chống lại đức tân hồng y.
Ngày 17 tháng 4 năm 1535, Ngài bị xử là bội phản. Ngày 17 tháng 6 năm
1535, Ngài bị xử là bôi phản. Ngày 22, Ngài bị chém đầu, thân xác trần
trụi của Ngài bi bỏ lại pháp trường cho đến khi được chôn cất vội vã
không một nghi thức tang lễ trang Hallows. Đầu Ngài bị treo ở Lôndôn
Bridge cho tới ngày 6 tháng 7 rồi bị ném xuống sông Thames … nhường chỗ
cho đầu bạn Ngài là Tomas More
Thánh TOMA
MORE
(1478 – 1535)
Quan thầy của
các chính trị gia
Thánh
Toma More sinh tại Luân Đôn ngày 06 tháng 2 năm 1478 trong một gia đình
mà chính Ngài đã nói: “Không danh giá nhưng lại lương thiện”. Lên 12
tuổi, Ngài giúp việc Đức Hồng Y Morton tổng giám mục giáo phận
Canterbury. Hai nămsau, Ngài được gởi học tại Ozford. Để cho Ngài chăm
chú học hành, cha Ngài đã giới hạn việc cung cấp tiền bạc đến nỗi Ngài
không có tiền để sửa đổi giày. Vào tuổi 15, Ngài bỏ Ozford tới Luân Đôn.
Ba năm sau, tức năm 1493, Ngài gặp Eramus trong khi ông thăm viếng nước
Anh lần đầu tiên. Vừa học, vừa trắc nghiệm ơn kêu gọi tu trì trong bốn
năm sống tại Luân Đôn.
Cuối cùng More quyết định rằng: Ngài không có ơn gọi sống bậc tu trì.
Ngài bước vào hôn nhân một cách đặc biệt, Ngài chọn cô em gái thứ xinh
đẹp và dễ thương. Nhưng rồi thấy rằng người chị sẽ đau khổ và xấu hổ nếu
cô em lập gia đình trước. Vì thế Ngài cưới cô chị. Họ sống với nhau được
4 năm thì bà vợ qua đời. Một năm sau Tôma More tái hôn với người khác mà
không có con. Người vợ mới hay nóng giận, nhưng gia đình thật êm thắm.
Ba người con gái cũng như người con trai của Ngài đều được giáo dục rất
cẩn thận. “Trong gia đình này không có ai làm biếng cả…”
Thực tế các cô con gái Ngài thông minh đến nỗi được mời tới trước mặt
vua để tranh luận về triết học. Bầu khí gia đình hạnh phúc còn là nơi tụ
tập của nhiều loại người, từ những người yếu đau già cả tới những kẻ
thông thái. Erasmus cũng là một người bạn thân của gia đình này. Lần
kia, khi được tin kho lúa bị thiêu rụi Tôma có viết thư cho vợ: “Có lẽ
chúng ta có lý do để cảm tạ Chúa vì sự mất mát này hơn là về những cái
chúng ta tích lũy được”.
Và Ngài cũng lo lắng cho hàng xóm.- “Anh không muốn còn đầy muỗm nếu một
trong số họ chịu thiệt thòi vì tai nạn xảy đến cho chúng ta”.
Toma More cũng viết cuốn Utophia, nói về một hòn đảo hạnh phúc đầy tưởng
tượng. Ngài cũng viết cuốn “Dialogue concerning Heresies” (Đối thoại về
các lạc thuyết). Danh tiếng của Ngài như một luật sư đã lôi kéo được sự
chú ý của vua Henry III. Vua thúc ép Ngài phục vụ triều đình. More bằng
lòng và trở nên giàu có. Được phong làm hiệp sĩ và năm 1523 được đặt làm
phát ngôn viên của thư viện thứ dân.
Tuy nhiên năm 1527, nhà vua muốn chấm dứt đời sống hôn nhân với hoàng
hậu Catarina và cưới Anna Boleyn. Toma More trách cứ nhà vua và bị thải
hồi. Một ngày kia bá tước Norfolk thấy rằng: Ngài sẽ bị nguy hiểm nếu
chống lại nhà vua. Nhưng bình tĩnh Ngài trả lời: – Thưa Đức ông, tất cả
có thể thôi sao ? Thực sự có điều này khác biệt giữa Ngài và tôi là: Hôm
nay tôi chết, nhưng Ngài cũng sẽ chết ngày mai.
Ngày 12 tháng 4 năm 1534, Toma More được mời để tuyên thệ nhận Anna More
Boleyn và từ bỏ uy quyền của đức giáo hoàng, Ngài từ khước. 14 tháng tù
ở là những ngày tháng cầu nguyện chẳng khác gì nơi tu viện. Trước toà án
Ngài nói : – Vương quốc Anh không thể bất phục tòa thánh như một người
con không thể bất phục cha mình.
Khi nghe tuyên án tử hình Ngài nói: – Thánh Phaolô đồng loã với cái chết
của Stêphanô lại chẳng hợp nhất với Ngài trong cuộc sống vĩnh cửu sao ?
Vậy, tôi sẽ cầu nguyện tha thiết cho các lãnh Chúa đã kết án tôi, để ít
ra chúng ta sẽ gặp nhau trên trời sau này. Tôi cũng cầu xin Chúa toàn
năng bảo vệ đức tin và gởi tới cho Ngài một lời khuyên tốt đẹp.
Bình thản, Ngài lên đường tới pháp trường, khi bước lên đoạn đầu đài,
Ngài còn khôi hài nói : – Lúc xuống, chỉ mình tôi thủ lợi.
Ngài ôm người đao phủ và bảo : – Can đảm lên đừng sợ. Cổ tôi ngắn quá
hãy cẩn thận vì danh dự của anh ở đó.
Tự bịt mắt, Ngài nằm lên đoạn đầu đài, vén râu lên Ngài nói : – Nó không
phạm tội phản bội. Thánh Toma More đã chịu chết như vậy ngày 6 tháng 7
năm 1535 với tất cả trịnh trọng, vui tươi và đơn thành.
Thánh PAULINÔ NÔLANÔ
(355 – 431)

Thánh Paulinô sinh tại Bordeax khoảng năm 355. Cha Ngài là một pháp
quan. Ngài được thụ huấn với nhà hùng biện và thi sĩ Ausônô. Ngài được
thừa hưởng rất nhiều đất đai ở Gaule và Italia. Năm 378, Ngài trở nên
danh tiếng trước pháp đình và được đặt làm chánh án. Khi sang Tây Ban
Nha thăm các lãnh địa của gia đình Ngài kết hôn với Therasia, một thiếu
nữ Tây Ban Nha và được hưởng thêm nhiều đất đai như của hồi môn. Khoảng
năm 389, Ngài lãnh phép rửa tội ở Bordeauz và bắt đầu một cuộc đổi mới.
Trước sự chán nản của Ausôniô và cơn thịnh nộ của gia đình, Ngài và vợ
cũng không ngần ngại sống tiết độ: lần lượt bán đất đai và phân phát lợi
nhuận cho dân nghèo. Chính Ngài chỉ mặc áo quần nghèo khó và ăn chay
kham khổ.
Một biến cố đau lòng dẫn Ngài tới sự thánh thiện lớn lao hơn đó là cái
chết của đứa con trai Ngài, Paulinô và Therasia toàn hiến cho Thiên
Chúa. Họ giải phóng nô lệ, bán hết của cải và phân phát cho người nghèo.
Còn Paulinô từ giã nghị trường và năm 394 hay là 395 chịu chức linh mục
tại Barcelôna. Nhưng vì được kính phục ở Tây Ban Nha, nên ít lâu s au,
Ngài đã ẩn mình sang Nôla miền nam nước Ý. Còn một ít đất đai ở đây,
Ngài bán để xây một thánh đường dâng kính thánh Fêlixita.
Cuộc sống khắc khổ của Ngài bị chê cười. Thánh Anmbrôsiô ghi nhận: – “Có
nhiều người theo thị hiếu của họ đã không ngạc nhiên gì khi chịu những
thay đổi rất kỳ dị. Vậy mà khi có một Kitô hữu quan tâm tới sự trọn lành
mà thay đổi thói quen của mình thì họ la lối giận dữ”.
Thánh Paulinô thường nói : – Phật lòng người để được lòng Chúa quả là
một cuộc chạm trán hồng phúc.
Thánh Augustuinô cũng viết vào thời này: – Hãy đến Campania xem con
người dòng dõi quý quyền tài ba và giầu có; hãy xem lòng đại độ mà người
tôi tớ Chúa Kitô đã tự thoát để chiếm hữu Thiên Chúa. Hãy xem Ngài đã từ
khước sự kiêu hãnh để ôm ấp sự khiêm tốn của thập giá thế nào.
Để trả lời những người thán phục đời nghèo khó tự nguyện của mình, thánh
Paulinô viết:
– “Tôi ngạc nhiên khi người ta cho là có công một người mua ơn cứu rỗi
đời đời bằng những cái mau tàn, khi người ta ca tụng hắn vì việc đổi đất
lấy trời.
Ngài kêu gọi mọi người rộng tay bố thí : – “Sự nghèo khó của anh em bạn
là một vốn liếng cho bạn, nếu bạn lo lắng chi người nghèo khó túng
thiếu.
Và Ngài giải thích thêm : – Một người phải qua sông sẽ bơi tới bờ bên
kia nếu biết rũ bỏ áo quần và dùng mọi năng lực để chống lại dòng nước
chảy.
Dầu vậy còn phải biết tự chế nữa : – Hy sinh bề ngoài chẳng đáng kể. Hy
sinh mà Chúa đòi chính là sự hy sinh trong lòng .
Thán phục, nhiều người muốn bắt chước thánh nhân. Nhà Paulinô trở thành
một tu viện. Ngài viết một cách đầy thú vị: – Chúng tôi tiến tới một đời
sống tốt đẹp hơn và khi lột bỏ gánh nặng trần gian, chúng tôi thấy như
được gieo vào lòng một cái gì thần linh và được mọc cánh như các thiên
thần.
Năm 409, Paulinô được đặt làm giám mục Nôla. Cuộc xâm lược của người
Goth gieo kinh hoàng cho nước Ý. Họ cướp phá Rôma và bây giờ tàn phá
Nola. Thánh Paulinô lấy tiền của Giáo hội để mua chuộc các tù nhân, nâng
đỡ những người bất hạnh. Rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, Ngài chỉ còn biết
cầu nguyện: – Lạy Chúa, xin đừng để con bị dày vò bởi tiền bạc vì chưa
biết rõ của cải con hiện ở đâu.
Thánh Gregoriô Cả còn gán cho thánh nhân một hành vi bác ái đầy quả cảm
là bán mình để chuộc lại đứa con bị tù đày của một bà góa. Nhưng có lẽ
Ngài đã lầm với Đức Paulinô III, giám mục Nôla thời chinh phục của người
Vandales.
Cái chết năm 431 của thánh Paulinô được nhân chứng Uraniô kể lại. Từ
giường chết, Ngài đã cử hành thánh lễ với hai giám mục đến thăm. 32 bài
thơ và 51 lá thư của Ngài vẫn còn tới ngày hôm nay.
https://www.giaophanbaria.org/phung-vu/hanh-cac-thanh/2013/06/22/thanh-gioan-fisher-thanh-toma-more-thanh-paulino-nolano.html
THÁNH PAULINO NOLANÔ, (355–431)
Thánh Paulinô sinh tại Bordeax khoảng năm 355. Cha Ngài là một pháp quan.
Ngài được thụ huấn với nhà hùng biện và thi sĩ Ausônô. Ngài được thừa hưởng
rất nhiều đất đai ở Gaule và Italia. Năm 378, Ngài trở nên danh tiếng trước
pháp đình và được đặt làm chánh án. Khi sang Tây Ban Nha thăm các lãnh địa
của gia đình Ngài kết hôn với Therasia, một thiếu nữ Tây Ban Nha và được
hưởng thêm nhiều đất đai như của hồi môn. Khoảng năm 389, Ngài lãnh phép rửa
tội ở Bordeauz và bắt đầu một cuộc đổi mới. Trước sự chán nản của Ausôniô và
cơn thịnh nộ của gia đình, Ngài và vợ cũng không ngần ngại sống tiết độ: lần
lượt bán đất đai và phân phát lợi nhuận cho dân nghèo. Chính Ngài chỉ mặc áo
quần nghèo khó và ăn chay kham khổ.
Một biến cố đau lòng dẫn Ngài tới sự thánh thiện lớn lao hơn đó là cái chết
của đứa con trai Ngài, Paulinô và Therasia toàn hiến cho Thiên Chúa. Họ giải
phóng nô lệ, bán hết của cải và phân phát cho người nghèo. Còn Paulinô từ
giã nghị trường và năm 394 hay là 395 chịu chức linh mục tại Barcelôna.
Nhưng vì được kính phục ở Tây Ban Nha, nên ít lâu s au, Ngài đã ẩn mình sang
Nôla miền nam nước Ý. Còn một ít đất đai ở đây, Ngài bán để xây một thánh
đường dâng kính thánh Fêlixita.
Cuộc sống khắc khổ của Ngài bị chê cười. Thánh Anmbrôsiô ghi nhận: – "Có
nhiều người theo thị hiếu của họ đã không ngạc nhiên gì khi chịu những thay
đổi rất kỳ dị. Vậy mà khi có một Kitô hữu quan tâm tới sự trọn lành mà thay
đổi thói quen của mình thì họ la lối giận dữ".
Thánh Paulinô thường nói : – Phật lòng người để được lòng Chúa quả là một
cuộc chạm trán hồng phúc.
Thánh Augustuinô cũng viết vào thời này: – Hãy đến Campania xem con người
dòng dõi quý quyền tài ba và giầu có; hãy xem lòng đại độ mà người tôi tớ
Chúa Kitô đã tự thoát để chiếm hữu Thiên Chúa. Hãy xem Ngài đã từ khước sự
kiêu hãnh để ôm ấp sự khiêm tốn của thập giá thế nào.
Để trả lời những người thán phục đời nghèo khó tự nguyện của mình, thánh
Paulinô viết:
–"Tôi ngạc nhiên khi người ta cho là có công một người mua ơn cứu rỗi đời
đời bằng những cái mau tàn, khi người ta ca tụng hắn vì việc đổi đất lấy
trời.
Ngài kêu gọi mọi người rộng tay bố thí : – "Sự nghèo khó của anh em bạn là
một vốn liếng cho bạn, nếu bạn lo lắng chi người nghèo khó túng thiếu.
Và Ngài giải thích thêm : – Một người phải qua sông sẽ bơi tới bờ bên kia
nếu biết rũ bỏ áo quần và dùng mọi năng lực để chống lại dòng nước chảy.
Dầu vậy còn phải biết tự chế nữa : – Hy sinh bề ngoài chẳng đáng kể. Hy sinh
mà Chúa đòi chính là sự hy sinh trong lòng .
Thán phục, nhiều người muốn bắt chước thánh nhân. Nhà Paulinô trở thành một
tu viện. Ngài viết một cách đầy thú vị: – Chúng tôi tiến tới một đời sống
tốt đẹp hơn và khi lột bỏ gánh nặng trần gian, chúng tôi thấy như được gieo
vào lòng một cái gì thần linh và được mọc cánh như các thiên thần.
Năm 409, Paulinô được đặt làm giám mục Nôla. Cuộc xâm lược của người Goth
gieo kinh hoàng cho nước Ý. Họ cướp phá Rôma và bây giờ tàn phá Nola. Thánh
Paulinô lấy tiền của Giáo hội để mua chuộc các tù nhân, nâng đỡ những người
bất hạnh. Rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, Ngài chỉ còn biết cầu nguyện: – Lạy
Chúa, xin đừng để con bị dày vò bởi tiền bạc vì chưa biết rõ của cải con
hiện ở đâu.
Thánh Gregoriô Cả còn gán cho thánh nhân một hành vi bác ái đầy quả cảm là
bán mình để chuộc lại đứa con bị tù đày của một bà góa. Nhưng có lẽ Ngài đã
lầm với Đức Paulinô III, giám mục Nôla thời chinh phục của người Vandales.
Cái chết năm 431 của thánh Paulinô được nhân chứng Uraniô kể lại. Từ giường
chết, Ngài đã cử hành thánh lễ với hai giám mục đến thăm. 32 bài thơ và 51
lá thư của Ngài vẫn còn tới ngày hôm nay.
https://www.hddaminhthanhlinh.net/a4591/22-06-thanh-paulino-nolano-355-431-
http://conggiao.info/thanh-paulino-nolano-355-431-d-16536
Buổi chiều ngày lễ vị thánh này, người viết nhận được, qua text, bài thơ
hay hay của một tác giả khuyết danh sau đây:
Năm 412 thánh Cyrillô kế vị cậu Ngài là Theophilô làm giám mục Alexandria.
Khi ấy Ngài đã vào khoảng trung tuần. Người ta không biết gì về cuộc sống
Ngài trước đó, trừ trường hợp, Ngài có mặt trong vụ kết án thánh Gioan Kim
Khẩu năm 408. Hiển nhiên là Ngài đã có thời sống như một ẩn sĩ trong sa mạc
và đã được giáo dục kỹ lưỡng về văn chương Hy Lạp.
Vào thế kỷ V, các giáo phụ Alexandria đã trở thành những giám mục giàu có và
uy quyền nhất trong đế quốc. Trở thành Kitô, người Ai cập vẫn còn mang những
gì còn lại trong tâm tình dân tộc của mình. Các giám mục tự mô tả như là
những Đấng kế vị thánh Marcô, nhưng cũng kế nhiệm các thượng tế Amen Ra và
có phong cách nào đó của Pharao.
Suốt 15 năm đầu làm giám mục, thánh Cyrillô đã đập tan thế hệ cầm quyền và
những nhà đổi tiền Do thái ở Alexandria. Việc thực thi đức ái của Ngài đối
với người nghèo khó, bệnh hoạn cũng như lòng thương cảm sâu xa của Ngài với
mọi tội nhân hối cải, luôn kèm theo một chút cứng rắn. Chắc chắn là các kẻ
thù của Ngài cũng là kẻ thù của Thiên Chúa. Nhiệt tâm với các linh hồn và
say mê bảo vệ đức tin Kitô giáo, Ngài sẵn sàng dùng đến mọi phương tiện
trong tay như là của cải, tài khích lệ quần chúng và lực lượng các thầy
dòng. Điều này giúp chúng ta hiểu được tại sao cuộc tranh luận về Kitô học
mà Ngài giữ một vai trò lớn lao đã có màu sắc pha trộn chính trị lâu dài như
vậy.
Năm 438, thầy dòng Nestôriô trở thành thượng phụ Constantinople. Dường như
ông ta đã làm giám mục tại triều đình có tham vọng mãnh liệt, tin vào hiệu
quả lớn mạnh do đời sống cầu nguyện của mình và có ý tiêu diệt mọi lạc
thuyết. Đàng khác, không chắc rằng ông đã muốn trở thành lạc giáo. Vào đầu
thế kỷ V, các thần học gia đều nhận rằng: Đức Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là
con người. Dầu vậy chưa có định tín về mối tương quan giữa Thiên tính và
nhân tính của Người như thế nào. Thánh Cyrillo chủ trương rằng: cả hai bản
tính kết hợp mật thiết với nhau, đến độ Mẹ Chúa Kitô cũng được gọi là Mẹ
Thiên Chúa. Nestôriô thì phân biệt rằng Mẹ Con Trẻ Giêsu chỉ được gọi là Mẹ
Chúa Kitô mà thôi. Mỗi bên đều tố cáo bên kia là lạc giáo.
Thánh Cyrillo liên kết với các tu sĩ Đông phương Ngài còn được Đức giáo
hoàng nâng đỡ và cử làm Vị đại diện ở Đông phương. Với mệnh lệnh này, năm
430 Ngài kết án Nestôriô là lạc giáo tại một hội nghị ở Alexandria. Mùa hè
năm 431, Ngài triệu tập và chủ tọa cộng đồng chung ở Ephesô. Nestôriô không
những bị kết án mà còn bị truất phế nữa. Đức trinh Nữ được tuyên xưng là Mẹ
Thiên Chúa.
Công đồng Ephêsô được Đức giáo hoàng chuẩn nhận. Nhưng hoàng đế lại không
công nhận vì thánh Cyrillo đã không đợi 43 giám mục có thiện cảm với
Nestôriô tới họp. Thánh Cyrillo bị bắt ở Tiểu Á và bị giam tù trong hai
tháng. Thánh phụ Antiôkia và các người dưới quyền cắt đứt hiệp thông với
Ngài. Thánh nhân trốn về Ai cập và năm 433 kết hợp lại được với Antiôkia. Từ
đó Ngài lại thúc đẩy hoàng đế chấp nhận các sắc lệnh của công đồng Ephêsô.
Hoàng đế vẫn nghi ngờ Ngài cho đến khi Ngài qua đời vào năm 444. Thánh
Cyrillo vẫn còn dấn thân vào cuộc tranh luận Kitô học này cho đến chết.
Không có nhà thần học Hy Lạp nào lớn hơn thánh Cyrillo. Ngài có khả năng
tổng hợp và nhận định có thể so sánh được với thánh Augustinô. Không có
thánh nhân nào bị phê bình tàn khốc như thánh nhân, nhưng ít có thánh nhân
nào đã hăng hái như Ngài. Cả những người ghen ghét cũng không thể chất vấn
về sự cao cả của Ngài. Bên dưới sự hăng hái của Ngài là cả một tình yêu mạnh
mẽ đối với đức Kitô với niềm tin mãnh liệt vào lòng thương xót của Người.
Đức giáo hoàng Celestinô xưng tụng Ngài là đấng bảo vệ Giáo hội và Đức tin”.
Thánh Cyrillô Alexandria là gương sáng cho chúng ta về lòng can đảm, dám
đứng lên đấu tranh cho sự thật, bảo vệ đức tin. Xin Chúa vì công nghiệp của
Thánh nhân ban cho mỗi chúng ta ơn can đảm làm chứng cho Chúa, bảo vệ đức
tin vì lòng yêu mến Chúa và Giáo hội.