ĐTC Biển Đức XVI: Tông Du Thánh Địa

 3 Bài Giảng Lễ Với Thành Phần Kitô hữu Công giáo

 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL tổng hợp và chuyển dịch trực tiếp tù mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

 

Bài Giảng Thánh Lễ CNV Phục Sinh 10/5/2009 tại Vận Động Trường Quốc Tế Amman

 

…………….

Cộng đồng Công giáo ở nơi đây sâu xa chạm trán với những khó khăn và bất ổn xẩy ra ảnh hưởng đến tất cả mọi người ở Trung Đông. Chớ ǵ anh chị em đừng bao giờ quên phẩm vị cao cả xuất phát từ gia sản Kitô giáo của anh chị em, hay thôi cảm thấy t́nh đoàn kết yêu thương của tất cả những người anh chị em của anh chị em trong Giáo Hội trên khắp thế giới!

Chúa Giêsu đă nói với chúng ta rằng “Tôi là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên tôi và chiên tôi biết Tôi” (Jn 10:14). Hôm nay, ở Jordan đây chúng ta cử hành Ngày Thế Giới Cầu Nguyện cho Ơn Thiên Triệu. Khi chúng ta suy niệm bài Phúc Âm về Người Mục Tử Nhân Lành, chúng ta hăy xin Chúa mở ḷng trí chúng tar a hoàn toàn hơn bao giờ hết để nghe thấy tiếng gọi của Người. Thật vậy, Chúa Giêsu “biết chúng ta”, thậm chí c̣n sâu xa hơn cả chúng ta biết ḿnh, và Người có một dự định nào đó cho từng người chúng ta. Chúng ta cũng biết là Người kêu gọi chúng ta ở đâu th́ chúng ta sẽ thấy hạnh phúc và viên trọn ở đó; thật vậy, chúng ta sẽ thấy chính bản thân ḿnh (cf Mt 10:39). Hôm nay, tôi mời gọi nhiều giới trẻ có mặt ở đây hăy xét xem Chúa gọi các bạn ra sao trong việc theo Người và xâu dựng Giáo Hội của Người. Chúa Giêsu cần các bạn, có thể là qua thừa tác vụ linh mục, nơi đời sống tận hiến hoặc nơi bí tích hôn phối, làm cho tiếng của Người được lắng nghe và hoạt động cho Nước Người trị đến.

Trong bài đọc thứ hai hôm nay, Thánh Gioan mời gọi chúng ta hăy “nghĩ về t́nh yêu được Cha tuôn đổ xuống trên chúng ta” bằng việc làm cho chúng ta trở nên thành phần con cái thừa nhận của Ngài trong Chúa Kitô. Vấn đề nghe thấy những lời này cần phải làm cho chúng ta cảm tạ về việc cảm nghiệm đưoơc t́nh yêu thương của Cha chúng ta có được trong gia đ́nh của chúng ta, từ t́nh yêu thương của cha mẹ chúng ta, ông bà chúng ta, anh chị em chúng ta. Trong việc cử hành Năm Gia Đ́nh hiện nay, Giáo Hội khắp Thánh Địa đă suy niệm về gia đ́nh như là một mầu nhiệm của t́nh yêu ban sự sống, một t́nh yêu được dự án Thiên Chúa phú bẩm với ơn gọi và sứ vụ thích hợp của nó, đó là chiếu tỏa thứ T́nh Yêu thần linh là nguồn mạch và là tầm vóc viên trọn tối hậu cho tất cả mọi t́nh yêu khác trong đời sống của chúng ta. Chớ ǵ hết mọi gia đ́nh Kitô hữu gia tăng ḷng trung thành với ơn gọi cao quí của ḿnh trong vai tṛ trở thành một học đường cầu nguyện, nơi con cái học biết chân thành kính mến Thiên Chúa, nơi chúng trưởng thành trong việc làm chủ ḿnh và quan tâm tới những nhu cầu của người khác, và là nơi, được h́nh thành bởi đức khôn ngoan xuất phát từ đức tin, họ góp phần xây dựng một xă hội chân chính và huynh đệ hơn bao giờ hết. Các gia đ́nh Kitô giáo mạnh mẽ ở những vùng đất này là một di sản lớn lao được truyền đạt từ các thế hệ trước. Chớ ǵ các gia đ́nh ngày nay trung thành với gia sản đặc biệt này, và không bao giờ thiếu hụt việc trợ giúp về vật chất và luân lư cần thiết để thực thi vai tṛ bất khả thay thế của ḿnh nơi việc phục vụ xă hội.

Một khía cạnh quan trọng trong việc anh chị em suy niệm trong Năm Gia Đ́nh này đó là phẩm vị, ơn gọi và sứ vụ đặc biệt của nữ giới trong dự án của Thiên Chúa. Giáo Hội ở những miền đất này chịu ơn biết bao về chứng từ nhẫn nại, yêu thương và trung thành của vô vàn bà mẹ Kitô hữu, Nữ tu, giáo chức, bác sĩ và y tá! Xă hội của anh chị em mắc nợ biết bao với tất cả những người phụ nữ hiến cuộc đời ḿnh bằng những cách thức khác nhau có những lúc can đảm để xây dựng ḥa b́nh và duy tŕ t́nh yêu thương! Từ những trang đầu tiên của Thánh kinh, chúng ta thấy con người nam nữ được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa tương trợ bổ khuyết cho nhau ra sao như là thành phần quản lư cho các tặng ân của Thiên Chúa và là những cộng tác viên trong việc truyền đạt tặng ân sự sống của Ngài, cả về thể lư lẫn thiêng liêng, cho thế giới của chúng ta. Thảm thay, phẩm vị và vai tṛ thiên phú này của nữ giới vẫn không luôn được hiểu biết và quí trọng cách trọn vẹn. Giáo Hội, và toàn thể xă hội, đă tiến đến chỗ nhận thấy vấn đề khẩn trương biết bao về những ǵ được cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là “đặc sủng ngôn sứ” của nữ giới (cf Mulieris Dignitatem, 29) như là thành phần  chất chứa yêu thương, là thày dạy nhân ái và thủ công nhân ḥa b́nh, mang niềm ấm cúng và nhân bản đến cho một thế giới mà tất cả quá thường phán đoán giá trị của con người theo những qui chuẩn lạnh lùng của sự hữu dụng và lợi lộc. Bằng chứng từ công khai của ḿnh cho việc tôn trọng nữ giới, và việc bênh vực phẩm vị bẩm sinh của hết mọi con người, Giáo Hội ở Thánh Địa có thể góp phần quan trọng vào sự tiến bộ của một nền văn hóa nhân bản thực sự và vào việc xây dựng một nền văn minh yêu thương.

……………………

Việc trung thành với các cội gốc Kitô giáo của ḿnh, trung thành với sứ vụ của Giáo Hội ở Thánh Địa đ̣i một người trong anh chị em một thứ can đảm đặc biệt, một ḷng can đảm của niềm xác tín, xuất phát từ đức tin bản thân, không phải chỉ thuần túy là công ước xă hội hay truyền thống gia đ́nh; ḷng can đảm trong việc dấn thân đối thoại và sát cánh hoạt động với những Kitô hữu khác trong việc phục vụ Phúc Âm và t́nh đoàn kết với thành phần nghèo khổ, thành phần lưu lạc, và những nạn nhân của các thảm trạng sâu xa nhân loại; ḷng can đảm trong việc xây dựng những chiếc cầu nối mới mẻ trong việc làm khả dĩ  việc gặp gỡ hiệu nghiệm của dân chúng thuộc các tôn giáo và văn hóa khác nhau, nhờ đó làm phong phú cơ cấu xă hội. Nó cũng có nghĩa là làm chứng cho một t́nh yêu tác động chúng ta “bỏ” mạng sống ḿnh để phục vụ người khác, nhờ đó chống lại những đường lối suy nghĩ muốn biện minh cho việc “lấy” đi những mạng sống vô tội. 

……………..

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2009/documents/hf_ben-xvi_hom_20090510_intern-stadium_en.html

  

Bài Giảng Thánh Lễ Thứ Ba 12/5/2009 tại Cánh Đồng Josafat ở Giêrusalem

…………..

Với tư cách là Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, tôi đă theo vết chân của ngài để loan truyền Chúa Kitô Phục Sinh giữa anh chị em, để củng cố anh chị em sống đức tin của cha ông anh chị em, và để xin ban xuống cho anh chị em ơn an ủi là tặng ân Đấng An Ủi. Đứng trước anh chị em hôm nay đây, tôi muốn anh chị em biết rằng tôi ư thức được những khó khăn, nỗi hoang mang đớn đau sầu khổ nhiều anh chị em từng chịu đựng gây ra bởi những cuộc xung đột vẫn xâu xé mảnh đất này, cũng như những kinh nghiệm cay đắng của t́nh trạng chuyển dời rất nhiều gia đ́nh của anh chị em đă nếm trải và – có Chúa biết – có thể chưa trải qua. Tôi hy vọng sự hiện diện của tôi ở nơi đây là một dấu hiệu cho thấy anh chị em không bị lăng quên, việc kiên tŕ hiện diện và chứng từ của anh chị em thật sự là những ǵ quí báu trước mắt Thiên Chúa và cần cho toàn diện tương lai của mảnh đất này. Chính v́ các cội rễ sâu xa của anh chị em ở mảnh đất này mà văn hóa Kitô giáo cổ thời và mạnh mẽ, và ḷng tin tưởng không ay chuyển của anh chị em nơi những lời hứa của Thiên Chúa, mà anh chị em, thành phần Kitô hữu ở Thánh Địa, được kêu gọi sẽ phục vụ chẳng những như là một ngọn hải đăng đức tin cho Giáo Hội hoàn vũ, mà c̣n là một thứ men của sự thái ḥa, khôn ngoan và quân b́nh trong đời sống của một xă hội theo truyền thống đă từng và tiếp tục có tính cách đa dạng, đa chủng và đa tôn.

……….

Ở Thành Thánh này, nơi sự sống đă chiến thắng sự chết, nơi Thần Linh được tuôn đổ như những hoa trái đầu mùa của cuộc tân tạo, niềm hy vọng đang tiếp tục đối chọi với lại thất vọng, hoang mang và yếm thế, trong khi ḥa b́nh là tặng ân và tiếng gọi của Thiên Chúa tiếp tục bị đe dọa bởi vị kỷ, xung khắc, chia rẽ và gánh nặng của những lầm lỗi đă qua. V́ lư do này, cộng đồng Kitô hữu ở Thành này đây là nơi xẩy ra cuộc phục sinh của Chúa Kitô và cuộc tuôn đổ Thần Linh cần phải càng ôm chặt lấy niềm hy vọng được Phúc Âm ban tặng, hân hoan với bảo chứng của việc Chúa Kitô hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và sự chết, làm chứng cho quyền năng tha thứ, và chứng tỏ bản chất sâu xa nhất của Giáo Hội như là dấu hiệu và là bí tích của một nhân loại được ḥa giải, canh tân và nên một trong Chúa Kitô, tân Adong.

Qui tụ nhau lại dưới chân của những bức tường của thành này đây, một thành linh thánh đối với các môn đồ của 3 tôn giáo lớn, làm sao chúng ta lại không nghĩ đến ơn gọi phổ quát của Giêrusalem chứ? Được báo trước bởi các vị tiên tri, ơn gọi này cũng hiện lên như lầmột sự kiện bất khả chối căi, một thực tại bất khả văn hồi ăn sâu vào gịng lịch sử phức tạp của thành này và dân cư của nó. Những người Do Thái, Hồi giáo và Kitô giáo đều gọi thành này là ngôi nhà thiêng liêng của ḿnh. C̣n cần phải làm bao nhiêu nữa để nó thực sự là “một thành đô ḥa b́nh” cho tất cả mọi dân tộc, nơi tất cả mọi người đều có thể hành hương đến để t́m kiếm Thiên Chúa, và nghe tiếng Ngài, “một tiếng nói về ḥa b́nh” (cf Ps 85:8)!

Thật vậy, Giêrusalem bao giờ cũng là một thành phố có những con đường âm vang các thứ ngôn ngữ khấ nhau, có những tảng đá được dân chúng thuộc mọi chủng tộc và ngôn ngữ dẵm lên, có những bức tường là biểu hiệu cho việc quan pḥng chăm sóc của Thiên Chúa đối với toàn thể gia đ́nh nhân loại. Là một tiểu vũ trụ của thế giới toàn cầu hóa của chúng ta, Thành này, nếu nó sống trọn ơn gọi phổ quát của ḿnh, cần phải là nơi giảng dạy tính chất hoàn vũ, tôn trọng kẻ khác, đối thoại và tương kiến; một nơi mà thành kiến, vô thức và sợ hăi tràn làn được chế ngự bởi thành tín, liêm chính và theo đuổi ḥa b́nh. Trong những bức tường này không có chỗ đứng cho hẹp ḥi, kỳ thị, bạo lực và bất công. Những tín hữu tin vào một Vị Thiên Chúa từ bi nhân hậu – cho dù họ cho ḿnh là Do Thái, Kitô hữu hay Hồi giáo – cũng cần phải là người đầu tiên cổ vơ nền văn hóa ḥa giải và ḥa b́nh này, cho dù tiến tŕnh có chậm chạp một cách thận trọng chăng nữa, và bất kể gánh nặng của những hồi niệm quá khứ.

Đến đây tôi muốn nói thắng đến thực tại thảm thương – một thực tại không là nguồn quan tâm của tất cả những ai yêu chuộng Thành này và mảnh đất này – về cuộc ra đi của rất nhiều phần tử thuộc cộng đồng Kitô hữu trong những năm gần đây. Những lư do dẫn nhiều người, nhất là giới trẻ, di tản là những ǵ có thể hiểu được, th́ quyết định ấy dầu sao cũng làm cho Thành này trở nên nghèo nàn về văn hóa và thiêng liêng. Hôm nay tôi muốn lập lại những ǵ tôi đă nói ở những dịp khác, đó là có chỗ cho hết mọi người ở Thành này! Trong khi tôi thiết tha kêu gọi các vị có thẩm quyền hăy tôn trọng, nâng đỡ và quí trọng sự hiện diện của Kitô hữu ở nơi đây, tôi cũng muốn anh chị em tin tưởng về t́nh đoàn kết, ḷng yêu thương và việc nâng đỡ của toàn thể Giáo Hội và Ṭa Thánh.

Các bạn thân mến, trong Phúc Âm chúng ta vừa nghe, Thánh Phêrô và Thánh Gioan chạy đến ngôi mộ trống, và Gioan, như chúng ta biết “đă thấy và đă tin” (Jn 20:8). Ở Thánh Địa đây, với con mắt đức tin, anh chị em, cùng với những người hành hương khắp nơi trên thế giới xúm lại các thánh đường và đền thánh của mảnh đất này, được phúc “thấy” những nơi thánh nhờ sự hiện diện của Chúa Kitô, thừa tác vụ trần thế của Người, cuộc khổ nạn của Người, sự chết và phục sinh của Người, và tặng ân Thánh linh của Người. Ở nơi đây, như Tông Đồ Toma, anh chị em được dịp “chạm tới” những thực tại lịch sử nâng đỡ việc tuyên xưng đức tin của chúng ta nơi Con Thiên Chúa. Tôi cầu xin để anh chị em hôm nay đây tiếp tục từng ngày “thấy và tin” vào những dấu hiệu của việc Thiên Chúa quan pḥng và không ngừng xót thương, “nghe” bằng niềm tin và hy vọng mới mẻ những lời an ủi của việc tông đồ giảng dạy, và “chạm” tới những nguồn ân sủng nơi các phép bí tích, và hiện thực cho người khác bảo chứng của những phép bí tích này về những khởi điểm mới, về niềm tự do xuất phát từ ḷng thứ tha, về ánh sáng nội tâm và ḥa b́nh mang lại việc chữa lành và niềm hy vọng thậm chí cho cả những thực tại tối tăm nhất của loài người.

…………..

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2009/documents/hf_ben-xvi_hom_20090512_josafat-valley_en.html

 

Bài Giảng Thánh Lễ Thứ Tư 13/5/2009 tại Quảng trường Bêlem ở Giêrusalem

……………

Đối với những con người nam nữ ở khắp nơi th́ Bêlem liên hệ tới sứ điệp vui mừng của việc tái sinh, canh tân, ánh sáng và tự do.  Thế mà, ở nơi đây, giữa chúng ta đây, xa xôi biết bao việc hiện thực điều hứa hẹn huy hoàng ấy! Xa xôi biết bao Vương Quốc của việc thống tri rộng lớn và ḥa b́nh, an ninh, công lư và chính trực được Tiên Tri Isaia báo trước trong bài đọc thứ nhất (cf Is 9:7), và là vương quốc chúng ta loan báo được vĩnh viễn thiết lập nơi việc Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai và là Vua đến!

Từ ngày giáng sinh, Chúa Giêsu đă là “dấu hiệu xung khắc” (Lk 2:34), và Người cứ tiếp tục như thế, thậm chí cho tới ngày hôm nay. Chúa các đạo binh, “Đấng có nguồn gốc từ xưa, từ những ngày cổ thời” (Mic 5:2), muốn khai trương Vương Quốc của Người bằng việc hạ sinh ở tỉnh nhỏ này, tiến vào thế giới của chúng ta trong âm thầm và khiêm hạ của một hang động, và nằm trong máng cỏ như một thơ nhi bất lực. Ở nơi đây, ở Bêlem này, giữa hết mọi thứ xung khắc, những tảng đá đây tiếp tục kêu lên “tin mừng” này, sứ điệp cứu độ mà thành này, hơn tất cả các thành khác, được kêu gọi để loan báo cho thế giới. V́ nơi đây, bằng một cách thức vượt ngoài mọi niềm hy vọng và ước vọng của con người, Thiên Chúa đă chứng tỏ Ngài trung thành với những lời hứa của Ngài. Nơi cuộc hạ sinh của Con Ngài, Ngài đă cho thấy việc trị đến của một Vương Quốc yêu thương: một t́nh yêu thần linh cuí ḿnh xuống để chữa lành và nâng chúng ta lên; một t́nh yêu được tỏ hiện trong nhục nhằn và yếu đuối của Thập Tự Giá, nhưng chiến thắng bằng cuộc phục sinh vinh hiển cho một sự sống mới. Chúa Kitô đă mang lại một Vương quốc không thuộc thế gian này, mà là một Vương Quốc có thể biến đổi thế giới này, v́ nó có quyền năng biến đổi cơi ḷng, soi sáng trí khôn và tăng cường ư muốn. Bằng việc mặc lấy xác thịt của chúng ta, cùng tất cả những ǵ là yếu đuối của xác thịt, và biến đổi nó bằng quyền năng của Thần Linh Người, Chúa Giêsu đă kêu gọi chúng ta trở thành những chứng nhân của việc Người vinh thắng trên tội lỗi và sự chết. Và đó là những ǵ sứ điệp Bêlem kêu gọi chúng ta trở nên: trở nên những chứng nhân cho cuộc chiến thắng của t́nh yêu Thiên Chúa trên hận thù, vị kỷ, sợ hăi và oán giận là những ǵ làm què quặt đi những mối liên hệ của con người và tạo nên chia rẽ ở những nơi đáng lẽ anh chị em phải sống trong hiệp nhất, tạo nên hủy hoại ở những nơi con người cần phải xây đắp, tạo nên thất vọng ở những nơi hy vọng cần phải triển nở!

…………………

Phải chăng đó không phải là các nhân đức mà con người nam nữ sống trong hy vọng cần đến? Trước hết, việc liên lỉ hoán cải trở về với Chúa Kitô được phản ảnh không những nơi những hành động của chúng ta mà c̣n cả ở nơi lập luận của chúng ta nữa: ḷng can đảm từ bỏ những đường lối vô hiệu và vô bổ của suy tư, tác hành và phản ứng. Thế rồi vun trồng một tâm thức ḥa b́nh trên công lư, trên sự tôn trọng các quyền lợi và nhiệm vụ của tất cả mọi người, cùng dấn thân cộng tác cho công ích. Cũng phải kiên tŕ, kiên tŕ trong sự thiện hảo cũng như trong việc loại trừ sự dữ. Ở Bêlem đây, thành phần môn đệ của Chúa Kitô cần đến một ḷng kiên tŕ đặc biệt, kiên tŕ trong việc làm chứng cho vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi đây, nơi giáng sinh của Con Ngài, cho tin mừng về sự b́nh an của Ngài từ trời xuống ở trên thế gian.

“Đừng sợ!” Đó là sứ điệp được Vị Thừa Kế Thánh Phêrô này muốn lưu lại cho anh chị em hôm nay đây, âm vang sứ điệp của các thiên thần cũng như âm vang trách nhiệm được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta ủy thác cho anh chị em trong Cuộc Đại Hỷ mừng Chúa Kitô Giáng Sinh. Anh chị em hăy tin cậy vào những lời nguyện cầu và t́nh đoàn kết của anh chị em ḿnh trong Giáo Hội hoàn vũ, và hăy hoạt động, bằng những khởi động cụ thể, để củng cố sự hiện diện của anh chị em cũng như để cống hiến những cơ hội mới cho những ai có khuynh hướng muốn rời bỏ. Anh chị em hăy là chiếc cầu nối của việc đối thoại và hợp tác xây dựng trong việc thiết lập một nền văn hóa ḥa b́nh để thay thế cho t́nh trạng bế tắc của sợ hăi, tấn công và hoang mang. Anh chị em hăy xây dựng Giáo Hội địa phương của ḿnh, làm cho giáo hội của ḿnh thành những thảo đường đối thoại, khoan nhượng và hy vọng cũng như đoàn kết và bác ái thực tiễn.

Nhất là hăy trở thành nhân chứng cho quyền lực của sự sống, một sự sống mới được Chúa Kitô Phục Sinh chiếm đạt, một sự sống có thể soi sáng và biến đổi ngay cả những trường hợp tăm tối nhất và vô vọng nhất của nhân loại. Quê hương của anh chị em cần chẳng những những cấu trúc mới về kinh tế và công đồng, mà quan trọng nhất chúng ta có thể nói đến là một hạ tầng cơ sở “thiêng liêng” mới, có thể kích động các thứ năng lực của tất cả mọi con người nam nữ thiện chí trong việc phục vụ giáo dục, phát triển và cổ vơ công ích. Anh chị em có những nguồn nhân lực để xây dựng nền văn hóa ḥa b́nh và tương kính là những ǵ sẽ bảo đảm một tương lai tốt đẹp hơn cho con cái của anh chị em. Công việc cao quí này đang đợi chờ anh chị em. Đừng sợ!

Đền Thờ cổ kính Giáng Sinh này, bị vật vă trước những cơn gió lịch sử và gánh nặng của các thời đại, đang đứng trước chúng ta như là một chứng từ cho niềm tin tưởng đang chịu đựng và chiến thắng thế gian (cf 1Jn 5:4). Không có một thăm viếng nhân nào đến Bêlem lại không nhận thấy rằng trong gịng thời gian của các thế kỷ cánh cửa lớn dẫn đến nhà của Thiên Chúa càng ngày càng trở nên nhỏ hẹp hơn. Hôm nay, chúng ta hăy nguyện cầu rằng, nhờ ơn Chúa và việc dấn thân của chúng ta, cánh cửa dẫn đến mầu nhiệm Thiên Chúa ngự giữa loài người này, đền thờ của mối hiệp thông của chúng ta trong t́nh yêu của Ngài, và việc nếm hưởng trước một thế giới vĩnh hằng an b́nh và hoan lạc, sẽ mở ra trọn vẹn hơn bao giờ hết để tiếp đón, canh tân và biến đổi hết mọi tâm can con người. Nhờ đó, Bêlem sẽ tiếp tục âm vang sứ điệp được kư thác cho các mục đồng, cho chúng ta và cho tất cả nhân loại: “Vinh danh Thiên Chúa thẳm cung, B́nh an cho người Ngài thương dưới thế”! Amen.  

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2009/documents/hf_ben-xvi_hom_20090513_mangiatoia_en.html