Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chúc mừng Giáng Sinh Giáo Triều Rôma ngày 21/12/2009 ở Sảnh Đường Clementine về những biến cố chính yếu tiêu biểu cho Giáo Hội Hiện Thế toàn Năm 2009

 

 (Video)

 

Quí Hồng Y,

Chư Huynh Giám Mục và Linh Mục thân mến,

Anh Chị Em thân mến.

 

Lễ trọng Giáng Sinh, như Đức Hồng Y Trưởng Angelo Sodano vừa nhấn mạnh, là một dịp đặc biệt của việc gặp gỡ và hiệp thông. Con Trẻ mà chúng ta tôn thờ ở Bêlem mời gọi chúng ta hăy cảm thấy6 t́nh yêu bao la của Thiên Chúa, Vị Thiên Chúa từ trời xuống để gần gũi với mỗi người chúng ta, để làm cho chúng ta trở thành con cái của Người, thuộc về gia đ́nh của Người. Cuộc gặp gỡ Giáng Sinh truyền thống này của vị Thừa Kế Thánh Phêrô với những các cộng tác viên thân cận của ngài cũng là một cuộc gặp gỡ gia đ́nh, một cuộc gặp gỡ củng cố những mối liên hệ về cảm t́nh và hiệp thông, nhờ đó chúng ta càng ngày càng trở thành “Căn Thượng Lầu lâu dài” được giành để loan truyền Vương Quốc của Thiên Chúa như vừa được nhắc nhớ. Tôi cám ơn Đức Hồng Y Trưởng về những lời lẽ thân ái bày tỏ những lời chúc tốt đẹp của Hồng Y Đoàn. Các Phần Tử của Giáo Triều Rôma và Bộ Quản Trị cũng như tất cả mọi vị Đại Diện Giáo Hoàng đang liên kết sâu xa với chúng ta trong việc mang đến cho con người nam nữ của thời đại chúng ta ánh sáng xuất phát từ máng cỏ Bêlem. Tôi rất vui mừng đón tiếp anh chị em, tôi cũng muốn bày tỏ với từng anh chị em ḷng tri ân của tôi đối với việc phục vụ quảng đại và tài khéo cho Vị Đại Diện Chúa Kitô cũng như cho Giáo Hội.

 

Một năm nữa với đầy những biến cố quan trọng đối với Giáo Hội cũng như đối với thế giới đang khép lại. Khi tôi nh́n lại năm này với đầy ḷng cảm tạ, vào lúc này đây tôi muốn đề cập tới một vài điểm chính đối với đời sống của Giáo Hội. Từ Năm Thánh Phaolô chúng ta đă chuyển sang năm Cho Linh Mục. Từ h́nh ảnh nổi bật của Vị Tông Đồ Dân Ngoại, vị bị đánh ngă bởi ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh cũng như bởi lời kêu gọi của Người, đă mang Phúc Âm đến cho các dân tộc trên thế giới, chúng ta đă tiến sang Cha Sở Họ A khiêm hèn, vị đă sống cả cuộc đời của ḿnh ở khu làng nhỏ được kư thác cho ngài, nhưng chính trong sự khiêm tốn phục vụ của ngài đă làm cho sự thiện hảo ḥa giải của Thiên Chúa trở thành hữu h́nh trên khắp thế giới. Bắt đầu với hai h́nh ảnh này, chúng ta có thể thấy thấy được chiều rộng lớn của thừa tác vụ linh mục, cái cao cả của những điều nhỏ mọn, và làm thế nào, qua việc phục vụ có vẻ tầm thường của cá nhân, Thiên Chúa có thể chiếm được những điều to lớn, thanh tẩy và canh tân thế giới từ bên trong.

 

Đối với Giáo Hội, cũng như đối với cá nhân tôi, năm giờ đây đang khép lại cũng có một tầm vóc lớn lao với dấu tích Phi Châu. Trước hết là chuyến tông du của tôi tới Cameron và Angola. Tôi lấy làm cảm động khi cảm thấy mối thân ái dồi dào tỏ ra đón mừng Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, Vị Đại Diện Chúa Kitô. Niềm vui hân hoan và cảm t́nh nồng hậu này tôi đă nhận được suốt mọi nẻo đường không nhắm tới một vị khách chỉ t́nh cờ gặp được. Giáo Gội hoàn vũ có thể cảm nghiệm thấy ở cuộc gặp gỡ với vị Giáo Hoàng, một cộng đồng bao gồm thế giới và được Thiên Chúa qui tụ lại với nhau nhờ Chúa Kitô, một cộng đồng không được xây dựng trên các lợi lộc của con người mà là được cống hiến cho chúng ta v́ mối quan tâm ưu ái của Thiên Chúa đối với chúng ta. Cùng nhau tất cả chúng ta làm nên gia đ́nh của Thiên Chúa, nên anh chị em vị Người Cha duy nhất của chúng ta: đó là cảm nghiệm sống của chúng ta. Và chúng ta có thể cảm thấy rằng mối quan tâm ưu ái của Thiên Chúa đối với chúng ta trong Chúa Kitô không phải là một cái ǵ đó thuộc về quá khứ hay là hoa trái của những thứ lư thuyết biết được, mà là một thực tại hoàn toàn cụ thể, vào lúc này đây. Chính Thiên Chúa ở giữa chúng ta: chúng ta đă thấy điều này qua thừa tác vụ của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô. Nhờ thế, chúng ta được nâng lên bên trên cái thói lệ thường ngày giản dị của chúng ta. Trời mở ra, và đó là những ǵ làm cho một ngày trở thành ngày nghỉ. Nó cũng đồng thời là một cái ǵ đó kéo dài bền lâu. Nó tiếp tục là những ǵ chân thực, thậm chí trong đời sống hằng ngày, đến độ trời không bao giờ đóng lại; Thiên Chúa gần kề; tất cả chúng ta thuộc về nhau trong Chúa Kitô.

 

Kư ức về những cử hành phụng vụ đă gây một ấn tượng đặc biệt sâu xa nơi tôi. Những cuộc cử hành Thánh Thể quả thực là những hội lễ của đức tin. Tôi muốn đề cập tới hai yếu tố đá nh động tôi như một cái ǵ đó đặc biệt quan trọng. Trước hết là một niềm vui lớn lao chung cũng được bày tỏ ra một cách thể lư, thế nhưng một cách trang nghiêm, hướng tới sự hiện diện của Vị Thiên Chúa hằng sống. Cùng với yếu tố này mà yếu tố thứ hai đă trở thành hiển nhiên, đó là cảm quan về sự linh thánh, về mầu nhiệm của Vị Thiên Chúa hằng sống hiện diện, những ǵ quả thực làm nên từng tác động một. Chúa hiện diện, Đấng Hóa Công, Đấng mà tất cả mọi sự thuộc về, từ Ngài chúng ta xuất phát và hướng về Ngài chúng ta hành tŕnh tiến bước. Tôi tự nhiên nghĩ đến lời của Thánh Cyprian; trong bản dẫn giải về “Kinh Lạy Cha”, ngài viết: “Chúng ta hăy nhớ chúng ta ở trước nhan Thiên Chúa. Chúng ta phải sống đẹp mắt Thiên Chúa, cả nơi thái độ của thân thể chúng ta lẫn việc sử dụng âm thanh tiếng nói của chúng ta” (De Dom. Or., 4 : CSEL III, 1, p. 269). Phải, chúng ta ư thức được rằng chúng ta đang đứng trước Thiên Chúa. Kết quả xẩy ra là không có vấn đề sợ hăi hay vấn đề ức chế, vấn đề vâng lời bề ngoài theo chữ nghĩa lại càng không cần một thứ khoe khoang phô trương cho những người khác hay la lối một cách bừa băi. Trái lại là những ǵ được các vị Giáo Phụ gọi là “sobria ebrietas”: một cảm quan của niềm hân hoan vui mừng mà trong bâá cứ trường hợp nào cũng điểm đạm và đàng hoàng, liên kết con người từ bên trong, dẫn họ tới việc chúc tụng Thiên Chúa chung, một chúc tụng đồng thời tác động t́nh yêu thương tha nhân và trách nhiệm hỗ tương.

 

Theo thông lệ, một phần quan trọng trong chuyến tông du Phi Châu của tôi đó là cuộc gặp gỡ Chư Huynh Giám Mục của tôi và khai mạc Thượng Nghị Giám Mục Phi Châu, bằng việc trao bản văn soạn thảo cho thượng nghị này. Cuộc gặp gỡ đó xẩy ra trong bối cảnh của một cuộc đàm thoại ban tối hôm Lễ Thánh Giuse, một cuộc đàm thoại được các vị đại diện từng hàng giáo phẩm bày tỏ một cách cảm động niềm hy vọng và mối quan tâm của các vị. Tôi nghĩ rằng Thánh Giuse, vị gia chủ tốt lành của ngôi nhà ḿnh, vị đích thân biết những ǵ nó muốn quan tâm đến, một cách chuyên chú và hy vọng, những đường lối sau này của gia đ́nh, ưu ái lắng nghe chúng ta và dẫn đưa chúng ta vào chính cuộc Thượng Nghị. Chúng ta hăy thoáng nh́n vào cuộc Thượng Nghị này. Cái trở thành rơ ràng trên hết trong chuyến viếng thăm Phi Châu của tôi đó là nội dung về thần học và mục vụ của thượng quyền giáo hoàng như là một điểm hội tụ cho mối hiệp nhất của gia đ́nh Thiên Chúa. Ở đó, trong cuộc Thượng Nghị này, chúng tôi đă thấy hiện lên thậm chí rơ ràng hơn nữa tầm quan trọng của đoàn tính nơi mối hiệp nhất của các Giám Mục nhận lănh thừa tác vụ của ḿnh chính là v́ các vị tiến vào cộng đồng của thành phần thức kế những vị tông đồ: mỗi vị là một Giám Mục, một thừa kế viên của các tông đồ, chỉ cho tới độ các vị tham dự vào cộng đồng của những ai tính chất Tông Đồ Đoàn – Collegium Apostolorum tốn tại trong mối hiệp nhất với Thánh Phêrô và vị Thừa Kế của ngài. Như trong các phụng vụ ở Phi Châu, rồi một lần nữa ở Đền Thờ Thánh Phêrô Rôma, việc canh tân phụng vụ của Công Đồng Chung Vaticanô II đă h́nh thành một cách khuôn mẫu thế nào th́ nơi mối hiệp thông của Thượng Nghị này, khoa giáo hội học của thượng nghị được sống một cách rất cụ thể. Chúng tôi đă có thể nghe những tŕnh thuật rất cảm kích của các phần tử tín hữu về những trường hợp Phi Châu liên quan tới nỗi khổ đau cụ thể cùng với việc ḥa giải cho các thảm trạng  trong lịch sử gần đây của Châu Lục này.

(tiếp)

Thượng Nghị lấy đề tài: Giáo Hội ở Phi Châu Phục Vụ vấn đề Ḥa Giải, Công Lư và Ḥa B́nh. Đây là một đề tài về thần học và nhất là về mục vụ rất hợp thời, nhưng nó có thể bị hiểu lầm như là một đề tài về chính trị. Công việc của các vị Giám Mục là biến thần học thành việc chăm sóc mục vụ, tức là thành một thừa tác mục vụ rất cụ thể, trong đó, những quan điểm lớn lao được chất chứa trong Thánh Kinh và Truyền Thống t́m thấy cách thức áp dụng vào hoạt động của các Giám Mục và linh mục ở những thời điểm và địa điểm đặc biệt. Tuy nhiên, ở đây, không được nhường bước cho chước cám dỗ muốn bản thân đi làm chính trị, và từ vai tṛ làm các vị Mục Tử, trở thành các nhà lănh đạo chính trị. Thật vậy, vấn đề rất thực tế mà các vị Mục Tử liên lỉ phải đương đầu chính là ở chỗ này, đó là làm sao chúng ta có thể thực tiễn và thực tế mà không đ̣i một thứ thẩm quyền về chính trị là những ǵ không thuộc về chúng ta? Chúng ta cũng có thể nói: nó là vấn đề của một thứ “giáo dân” tích cực, được thực hành và dẫn giải một cách đúng đắn. Đây cũng là một đề tài trọng yếu của bức Thông Điệp Bác Ái trong Chân Lư, một văn kiện được ban hành vào ngày lễ Thánh Phêrô và Phaolô, một văn kiện bởi thế đă tiếp tục và khai triển thêm về vấn đề vai tṛ thần học và thực hành của giáo huấn về xă hội của Giáo Hội.

 

Các Nghị Phụ Thượng Nghị có thành công hay chăng trong việc t́m kiếm con đường khá hẹp giữa lư thuyết thuần túy về thần học với hành động chính trị trực tiếp, một đường lối của vị “chăn chiên”? Trong bài diễn từ ngắn của tôi vào lúc bế mạc Thượng Nghị này, tôi đă trả lời vấn nạn này một cách khẳng định, một cách ư thức và hiển nhiên. Dĩ nhiên, trong việc soạn thảo Văn Kiện Hậu Thượng Nghị này chúng ta sẽ cần phải chú trọng tới việc bảo tŕ mức quân b́nh này nhờ đó thực hiện một thứ đóng góp cho Giáo Hội cũng như trong xă hội ở Phi Châu đă được kư thác cho Giáo Hội theo sứ vụ của Giáo Hội. Tôi muốn cố gắng giải thích điều này một cách vắn tắt liên quan tới một điểm duy nhất. Như đă đề cập tới, đề tài của Thượng Nghị được nhắm đến 3 chữ chính là những chữ căn bản cho trách nhiệm về thần học và xă hội: ḥa giải, công lư và ḥa b́nh. Người ta có thể nói rằng ḥa giải và công lư là hai đề cương thiết yếu của ḥa b́nh, và v́ thế, ở một mức độ nào đó, chúng cũng cho thấy bản chất của chúng. Chúng ta chỉ nói tới chữ “ḥa giải”. Một thoáng nh́n thuần túy về những khổ đau và sầu thương nơi lịch sử mới đây của Phi Châu, nhưng cũng ở cả nhiều phần đất khác trên thế giới, cho thấy rằng những tranh căi không giải quyết và sâu xa đâm rễ ở một số trường hợp có thể gây ra những bùng nổ bạo động, trong đó hết mọi dấu vết của nhân loại dường như biến mất. Ḥa b́nh chỉ có thể đạt được như thành quả của vấn đề hoán cải nội tâm. Chúng ta có thể lấy lịch sử Âu Châu sau Thế Chiến Thứ II như là một thí dụ điển h́nh về một tiến tŕnh ḥa giải đang thành đạt. Sự kiện mà từ năm 1945 không có những cuộc chiến tranh xẩy ra ở Đông Âu và Trung Âu chắc chắn chính yếu là do những cấu trúc chính trị và kinh tế có hướng chiều về đạo lư, thế nhưng những điều này chỉ có thể triển nở v́ sự hiện hữu trước của các tiến tŕnh ḥa giải nội tâm là những ǵ khả dĩ cuộc sống chung mới mẻ. Hết mọi xă hội cần đến những hành động ḥa giải để hoan hưởng ḥa b́nh. Những hành động này là điều kiện tiên quyết cho một trật tự chính trị tốt đẹp, thế nhưng chúng không thể chiếm đạt bởi nguyên chính trị. Chúng ta những tiến tŕnh tiền chính trị và chúng phải xuất phát từ nguồn mạch khác.

 

Cuộc Thượng Nghị tím cách khảo sát sâu xa quan niệm về ḥa giải như là công việc đối với Giáo Hội trong thời đại của chúng ta đây, và đă kêu gọi chú ư tới những chiều kích khác nhau của nó. Ngày nay, lời kêu gọi Kitô hữu giáo đoàn Côrintô của Thánh Phaolô một lần nữa đă cho thấy là rất hợp thời. “Chúng tôi là những vị khâm sứ cho Chúa Kitô, Thiên Chúa thực hiện việc kêu gọi của Ngài qua chúng tôi. Chúng tôi xin anh  em v́ Chúa Kitô hăy ḥa giải cùng Thiên Chúa” (2Cor 5:20). Nếu con người không ḥa giải với Thiên Chúa, họ cũng xung khắc với tạo vật nữa. Họ không ḥa giải với chính ḿnh, họ sẽ như là một cái ǵ đó hơn là những ǵ họ là và v́ thế họ không ḥa giải với cả tha nhân của ḿnh nữa. Một phần của việc ḥa giải cũng là khả năng nh́n nhận lỗi lầm và xin Thiên Chúa và người khác tha thứ. Sau hết, một phần của tiến tŕnh ḥa giải cũng là việc sẵn sàng thực hiện thống hối, việc tự nguyện chịu khổ sâu xa v́ tội lỗi của ḿnh và việc để ḿnh được biến đổi. Một phần của điều này đó là sự nhưng không được Thông Điệp Bác Ái trong Chân Lư lập đi lập lại, ở chỗ sẵn sàng làm hơn những ǵ cần thiết, không đếm xỉa tới giá phải trả, nhưng vượt ra ngoài những đ̣i hỏi thuần luật lệ. Một phần của điều này đó là ḷng quảng đại được chính Thiên Chúa tỏ ra cho chúng ta thấy. Chúng ta nghĩ đến những lời của Chúa Giêsu: “Nếu các con đang dâng của lễ trên bàn thờ và ở đó nhớ rằng anh em của các con có điều ǵ phạm đến các con, các con hăy bỏ lễ vật ở đó trước bàn thờ mà về để làm ḥa với anh em của các con trước đă rồi sau đó hăy đến dâng lễ vật của các con” (Mt 5:23ff). Thiên Chúa, biết rằng chúng ta chưa ḥa giải và thấy rằng cúng ta có điều ǵ đó phạm đến Ngài, đă đứng lên và đến gặp gỡ chúng ta, cho dù chỉ có một ḿnh Ngài là phải thôi. Ngài đă đến gặp gỡ chúng ta thậm chí cho tới Thập Tự Giá để ḥa giải chúng ta. Đó là những ǵ mang ư nghĩa cống hiến một cách nhưng không: một t́nh nguyện thực hiện bước đầu; để trở thành người đầu tiến đến với kẻ khác, để cống hiến ḥa giải, để chấp nhận khổ đau bao gồm trong việc từ bỏ việc ḿnh đúng. Trong việc bảo tŕ ước muốn ḥa giải: Thiên Chúa đă ban cho chúng ta một gương mẫu, và đó là đường lối để chúng ta trở nên giống như Ngài; nó là một thái độ luôn cần thiết trong thế giới của chúng ta. Ngày nay chúng ta cần phải học lại việc làm sao để có thể nh́n nhận lỗi lầm, chúng ta cần phải từ bỏ ảo tưởng cảm thấy ḿnh vô tội. Chúng ta cần phải học cách thực hiện việc thống hối, để cho ḿnh được biến đổi; vươn tới kẻ khác và để Thiên Chúa ban cho chúng ta ḷng can đảm và sức mạnh cho việc canh tân này. Ngày nay, trong thế giới của chúng ta đây, chúng ta cần tái nhận thức Bí Tích Thống Hối và Ḥa Giải. Sự kiện bí tích này phần lớn đă biến mất khỏi cuộc sống thường nhật và thói quen của Kitô hữu là một biểu hiệu cho việc mất đi chân thực tính liên quan tới cả chính bản thân chúng ta lẫn Thiên Chúa; một mất mát nguy hiểm cho nhân loại chúng ta và làm giảm thiểu khả năng cho ḥa b́nh. Thánh Bonaventura có ư nghĩ Bí Tích Thống Hối là một bí tích của chính nhân loại, một bí tích được Thiên Chúa thiết lập theo yếu tính của ḿnh ngay sau nguyên tội qua việc thống hối Ngài áp đặt trên Adong, cho dù nó chỉ có thể mặc lấy nguyên vẹn h́nh hài của ḿnh nơi Chúa Kitô, Đấng là quyền năng ḥa giải của chính Thiên Chúa và là Đấng lănh lấy việc thống hối của chúng ta trên chính bản thân Người. Thật vậy, mối liên kết giữa tội lỗi, ḷng thống hối và việc thứ tha là một trong những điều kiện trọng yếu cho việc làm người thực sự: những điều kiện này được hoàn toàn thể hiện nơi bí tích này, tuy nhiên, nơi những gốc rễ sâu xa nhất của chúng chúng thuộc về kinh nghiệm của chính việc làm người. Bởi vậy Thượng Nghị Giám Mục cho Phi Châu đă có lư để suy nghĩ chia sẻ cũng về cả những lễ nghi của việc ḥa giải nơi truyền thống Phi Châu, như những nơi học hỏi và sửa soạn cho việc đại ḥa giải được Thiên Chúa cống hiến nơi Bí Tích Thống Hối.  Tuy nhiên, việc ḥa giải này đ̣i một “cái sân trước” rộng lớn của việc nh́n nhận tội lỗi và khiêm nhượng thống hối. Việc ḥa giải là một quan niệm tiền chính trị và là một thực tại tiền chính trị, và v́ chính lư do này nó có một tầm vóc quan trọng hơn hết đối với công việc của chính trị. Trừ phi quyền lực ḥa giải được kiến tạo nên nơi tâm can của con người, việc dấn thân chính trị cho ḥa b́nh sẽ thiếu vắng chiều kích nội tại của ḿnh. Ở Thượng Nghị, các Mục Tử của Giáo Hội đă nỗ lực đối với việc thanh tẩy nội tâm của con người là những điều kiện thiết yếu trước đó cho việc xây dựng công lư và ḥa b́nh. Thế nhưng, việc thanh tẩy này và việc phát triển nội tâm hướng về nhân loại đích thực không thể hiện hữu nếu thiếu vắng Thiên Chúa.

(tiếp và hết)

Từ ngữ then chốt ḥa giải này nhắc đến chuyến tông du thứ hai trong năm này: đó là chuyến tông du của tôi đến Jordan và Thánh Địa. Về vấn đề này, trước hết tôi muốn ân cần cám ơn Vua Nước Jordan về ḷng khiếu khách đặc biệt trong việc tỏ ra nghênh đón tôi và đi kèm bên tôi suốt cuộc hành tŕnh của tôi. Ḷng biết ơn của tôi c̣n đặc biệt hơn nữa đối với đường lối sáng đẹp ông đă thực hiện cho việc sống chung ḥa b́nh giữa tín đồ Kitô giáo và Hồi giáo, tỏ ra tôn trọng tôn giáo của nhau, và trân trọng hợp tác trong trách nhiệm chung của chúng ta trước nhan Thiên Chúa. Tôi cũng chân thành cảm tạ Chính Quyền Yến Duyên (Israel) về tất cả những ǵ họ thực hiện để việc viếng thăm của tôi được thực hiện một cách an b́nh và an toàn. Tôi đặc biệt cám ơn về cơ hội giành cho tôi trong việc cử hành hai cuộc phụng vụ công khai đại thể tại Gia Liêm và Nazarét là những nơi Kitô hữu có thể công khai sống như là các cộng đồng đức tin ở Thánh Địa. Sau hết, tôi cũng cám ơn Thẩm Quyền Palestine cũng đă nghênh đón tôi hết sức thân t́nh; thẩm quyền này cũng cho tôi cơ hội chủ sự một cuộc cử hành phụng vụ công khai ở Bêlem và cơ hội thấy được những khổ đau cùng những hy vọng  của Lănh Thổ này. Hết mọi sự có thể thấy được nơi những xứ sở ấy đều kêu van ḥa giải, công lư và ḥa b́nh. Cuộc tôi viếng thăm Yad Vashem đă cho thấy một cuộc gặp gỡ tràn đầy những hung tàn của tội lỗi loài người, với ḷng hận thù của một ư hệ mù quáng đến bất chính tác sát hằng triệu con người, và v́ thế, cuối cùng thậm chí muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi thế giới này, vị Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, và là Vị Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô. Bởi vậy, Yad Vashem trước hết là một tưởng niệm chống lại hận thù, một lời thiết tha kêu gọi thanh tẩy và thứ tha v́ yêu thương. Chính đài tượng niệm về tội lỗi loài người này lại càng làm cho chuyến đi của tôi tăng thêm phần quan trọng ở những nơi tưởng niệm đức tin, và giúp chúng tôi có thể thấy được những ǵ là thích đáng vẫn c̣n tiếp tục của nó. Ở Jordan, chúng tôi đă thấy điểm thấp nhất của mảnh đất này dọc theo Sông Dược Đăng. Làm sao người ta lại không nhớ đến những lời trong Thư Êphêsô, những lời nói với chúng ta rằng Chúa Kitô “đă xuống tới những phần thấp hơn của trái đất này” (Eph 4:9). Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa đă xuống tới những vực thẳm sâu nhất của con người, thậm chí vào cả đêm tối của hận thù và mù quáng, bóng tối của việc con người tách ĺa Thiên Chúa, để thắp lên ở đó ngọn lửa của t́nh yêu Ngài. Ngài hiện diện thậm chí ở trong cả những đêm âm u nhất: “nếu tôi xuống tới âm ti th́ Ngài cũng ở đó”: câu Thánh Vịnh 139[138]:8 này đă trở thành một thực tại nơi việc xuống của Chúa Giêsu. Bởi thế, cuộc gặp gỡ ở những nơi chốn cứu độ ở Nhà Thờ Truyền Tin thành Nazarét, ở Hang Đá Giáng Sinh thành Bêlem, ở địa điểm Thánh Giá trên Canvê, và trước ngôi mộ trống, chứng nhân của cuộc Phục Sinh, ở một nghĩa nào đó, chạm tới lịch sửa của Vị Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đức tin không phải là một thứ hoang đường thần thoại. Nó là một lịch sự thật sự có những dấu vế cụ thể tỏ tường đối với chúng ta. Cái thực tại về đức tin này giúp ích cho chúng ta, nhất là giữa những hỗn loạn của thời điểm hiện nay. Thiên Chúa thực sự đă mạc khải bản thân ḿnh. Nơi Chúa Giêsu Kitô, Ngài đă thực sự hóa thành nhục thể. LàĐấng Phục Sinh, Chúa Giêsu vẫn là người thật, Người không ngừng hướng nhân loại chúng về về Vị Thiên Chúa gần gũi, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Đấng liên tục kêu gọi chúng ta rằng: các con hăy ḥa giải, với Ta và với nhau! Người luôn đề ra công việc ḥa giải với đời sống chung riêng của chúng ta.

 

Sau hết, một lần nữa tôi muốn bày tỏ niềm vui và ḷng biết ơn của tôi về chuyến tôi viếng thăm Cộng Ḥa Tiệp. Trước cuộc hành tŕnh này, tôi luôn được nhắc nhở rằng đó là một xứ sở mà đại đa số là thành phần bất khả thần tri (agnostics) và vô thần, nơi Kitô hữu giờ đây chỉ là một thiểu số. Tôi càng cảm thấy vui mừng khi ngỡ ngàng thấy ḿnh được vây quanh ở khắp nơi với đầy những thân ái và thân t́nh, ở những cuộc cử hành phụng vụ quan trọng trong bầu không khí hân hoan của niềm tin; ở khung cảnh Đại Học và thế giới văn hóa những lời của tôi nói đă được chăm chú lắng nghe; và các vị thẩm quyền quốc gia đă hết sức lịch thiệp đối xử với tôi và thực hiện hết ḿnh để góp phần vào sự thành công của chuyến viếng thăm này. Giờ đây tôi được thúc đẩy nói tới những ǵ về vẻ đẹp của xứ sở này và những chứng từ nguy nga tráng lệ của nền văn hóa Kitô giáo là những ǵ duy nhất làm cho vẻ đẹp này trở thành trọn hảo. Thế nhưng, tôi coi là quan trọng nhất vấn đề là chúng ta, như thành phần tín hữu, cần phải ôm ấp trong ḷng ngay cả những ai coi ḿnh là thành phần bất khả thần tri hay vô thần. Khi chúng ta nói về một thứ tân truyền bá phúc âm hóa th́ những con người này có lẽ lùi lại. Họ không muốn thấy ḿnh là một một đối tượng của việc truyền giáo hay muốn từ bỏ tự do tư tưởng và ư muốn của ḿnh. Tuy nhiên, vấn đề về Thiên Chúa vẫn có đó ngay cả đối với họ, thậm chí nếu họ không thể tin vào bản tính cụ thể của việc Ngài quan tâm đối với chúng ta. Ở Balê, tôi đă nói về việc t́m cầu Thiên Chúa như là lư do trọng yếu tại sao vấn đề đan tu Tây Phương và cùng với nó là văn hóa Tây Phương đă hiện hữu. Như bước đầu của việc truyền bá phúc âm hóa, chúng ta cần phải t́m cách giữ cho việc t́m cầu này sống động; chúng ta cần phải quan tâm là con người không gạt ra ngoài vấn đề về Thiên Chúa, trái lại, thấy nó như là một vấn đề thiết yếu cho đời sống của họ.  Chúng ta cần phải chắc chắn là họ cởi mở trước vấn đề này và trước niềm khát mong được chất chứa trong đó. Đến đây tôi tự nhiên nghĩ đến những lời được Chúa Giêsu trích dẫn từ Tiên Tri Isaia, tức là Đền Thờ cần phải là một ngôi nhà cầu nguyện cho tất cả mọi dân tộc (cf. Is 56: 7; Mk 11: 17). Chúa Giêsu bấy giờ đang nghĩ tới cái gọi là “Cái Sân của Dân Ngoại” là những ǵ Người đă làm sạch những sự vụ xa lạ để nó có thể là một nơi chốn tự do cho Dân Ngoại muốn đến cầu nguyện ở đó với Vị Thiên Chúa duy nhất, thậm chí họ có thể tham phần vào mầu nhiệm có phần phụng vụ chỉ cử hành ở nội cung của Đền Thờ. Một nơi cầu nguyện cho tất cả mọi dân tộc là những ǵ Người bấy giờ nghĩ tới thành phần nhận biết Thiên Chúa, có thể nói, chỉ từ xa, thành phần không thỏa măn với các vị thần linh của ḿnh, các thứ lễ nghi của ḿnh và các câu truyện thần thoại hoang đường của họ; thành phần muốn Đấng Tinh Tuyền và là Đấng Cao Cả, cho dù đối với họ Thiên Chúa vẫn là “Vị Thiên Chúa vô danh” (cf Acts 17:23). Họ cần phải cầu nguyện cùng vị Thiên Chúa vô danh này, tuy nhiên, nhờ dó họ tỏ ra một cách nào đó giao chạm tới Vị Thiên Chúa chân thực, mặc dù giữa tất cả những ǵ là mù mờ. Tôi nghĩ rằng ngày nay cả Giáo Hội nữa cần phải mở ra một “Cái Sân Dân Ngoại”, trong đó, dân chúng có thể một cách nào đó cửa đóng then cài với Thiên Chúa, không biết đến Ngài và trước khi có thể đến với mầu nhiệm của Ngài, nơi diễn tiến việc phục vụ đời sống nội tại của Giáo Hội. Ngày nay, ngoài việc đối thoại liên tôn, cần phải thực hiện việc đối thoại với những ai coi tôn giáo là một cái ǵ xa lạ, thành phần đối họ Thiên Chúa là Đấng vô danh và là thành phần tuy nhiên không muốn bị cho là thuần túy vô thần, trái lại cứ đến với Ngài cho dù là một Dấng Vô Danh.

 

Cuối cùng, một lần nữa, tôi muốn nói mấy lời về Năm Cho Linh Mục. Là linh mục, chúng ta trở thành thuận lợi cho tất cả mọi người: trước hết cho những ai nhận biết Thiên Chúa và những ai đối với họ Ngài là Đấng Vô Danh, Tất cả chúng ta cần làm quen với Ngài một cách mới mẻ hơn, và chúng ta cần liên lỉ t́m kiếm Ngài để trở thành những bạn hữu thực sự của Thiên Chúa. Làm sao, vào lúc cuối cùng, chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa ngoài những con người là bạn hữu này của Thiên Chúa chứ? Cái cốt lơi của thừa tác vụ linh mục của chúng ta là ở chỗ chúng ta làm bạn hữu của Chúa Kitô (cf Jn 15:15), những người bạn hữu của Thiên Chúa mà qua họ các người khác mới có thể khám phá ra việc Thiên Chúa gần gũi. V́ vậy, cùng với ḷng tri ân sâu xa của tôi đối với tất cả mọi việc trợ giúp được anh chị em cống hiến cho tôi trong suốt năm qua, đây là những lời chúc Giáng Sinh tốt đẹp của tôi: chớ ǵ chúng ta trở nên bạn thiết hơn bao giờ hết với Chúa Kitô và nhờ đó làm bạn hữu của Thiên Chúa, và do đó trở thành muối đất và là ánh sáng thế gian. Tôi chúc cho tất cả anh chị em một Giáng Sinh Thánh Đức và Một Năm Mới Hạnh Phúc! 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2009/december/documents/hf_ben-xvi_spe_20091221_curia-auguri_en.html