“Hôm nay, tôi muốn dừng lại để xét tới chiều kích pháp lư vốn sẵn có nơi hoạt động mục vụ trong việc sửa soạn và cho lănh nhận hôn phối, hầu t́m cách làm sáng tỏ mối liên hệ giữa việc làm này với tiến tŕnh pháp lư của hôn nhân”

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI

Huấn Từ Khai Mạc Năm Pháp Luật của Ṭa Rôta Rôma Thứ Bảy 22/1/2011

 

………

 

Việc bàn luận sau công đồng chung Vaticanô II về giáo luật được tập trung vào vấn đề về mối liên hệ giữa luật lệ và việc chăm sóc mục vụ. Chủ trương nổi tiếng của Người Tôi Tớ Đáng Kính Gioan Phaolô II ở chỗ “không đúng khi cho rằng để mục vụ hơn th́ luật lệ cần phải giảm pháp lư đi - it is not true that, to be more pastoral, the law should be less juridical” (cf. Address to the Roman Rota, 18 January 1990, n. 4), là những ǵ cho thấy việc quyết liệt muốn thắng vượt một thứ minh nhiên phản đề.

 

Đức Gioan Phaolô II nói: “Các chiều kích pháp lư và mục vụ là những chiều kích liên kết với nhau bất khả phân ly trong Giáo Hội, một giáo hội đang hành tŕnh trên trần thế. Khía cạnh duy nhất về mối ḥa hợp của chúng trên hết xuất phát từ đích điểm của của chúng, đó là phần rỗi của các linh hồn” (ibid.). Ở lần đầu gặp gỡ anh chị em vào năm 2006, tôi đă cố gắng đề cao về ư nghĩa mục vụ đích thật của các nguyên nhân hủy hôn được căn cứ vào ḷng mến chuộng chân lư (cf. Address to the Roman Rota, 28 January 2006). Hôm nay, tôi muốn dừng lại để xét tới chiều kích pháp lư vốn sẵn có nơi hoạt động mục vụ trong việc sửa soạn và cho lănh nhận hôn phối, hầu t́m cách làm sáng tỏ mối liên hệ giữa việc làm này với tiến tŕnh pháp lư của hôn nhân.

 

Chiều kích giáo luật để sửa soạn kết hôn không phải là một yếu tố hiển nhiên một cách tức khắc. Thật vậy, một đàng th́ người ta nhận thấy rằng trong tiến tŕnh sửa soạn kết hôn những vấn đề về giáo luật có một vị thế nhún nhượng – nếu không muốn nói là tầm thường không quan trọng - v́ vốn có khuynh hướng nghĩ rằng đôi phu thê tương lai không chú trọng cho lắm tới những vấn đề giành cho các chuyên gia.

 

Đàng khác, cho dù nhu cầu cần đến công việc pháp lư là những ǵ đi trước hôn nhân và là những ǵ xác định là “không ǵ gây trở ngại cho việc cử hành hiệu năng và hợp pháp của nó” (Code of Canon Law, can. 1066), không trừ một sự ǵ, vẫn hiện đang có một quan niệm phổ thông chủ trương rằng việc cứu xét các phần tử muốn thành hôn và việc công khai tuyên bố trong nhà thời cuộc thành hôn của họ hay những cách thức thích hợp khác để thi hành những thẩm vấn cần thiết cần phải có trước cuộc thành hôn (cf. ibid., can. 1067) – bao gồm cả việc dự bị kết hôn – lại là những điều kiện chính thức duy nhất. Thật vậy, vẫn thường có những ư nghĩ rằng trong việc chấp nhận cho các cặp kết hôn, những vị mục tử cần phải tỏ ra ân cần rộng răi, v́ quyền kết hôn tự nhiên của con người ta đang gặp nguy hiểm. 

 

Về vấn đề này cần phải cia sẻ về chiều kích pháp lư của chính hôn nhân. Nó là một chủ đề đă được tôi đề cập đến trong bối cảnh suy tư liên quan đến sự thật về hôn nhân, trong đó, ngoài những ǵ khác, tôi đă nói rằng: “Về vấn đề tương đối hóatính chất chủ quan và tự do của cảm nghiệm t́nh dục, truyền thống của Giáo Hội đă minh nhiên khẳng định rằng tính chất pháp lư tự nhiên của hôn nhân, tức là, sự kiện nó tự bản chất thuộc về môi trường công lư nơi những liên hệ liên bản vị. Theo quan điểm ấy, luật lệ thực sự được đan kết với sự sống và t́nh yêu như là một trong những thắt buộc nội tại của việc nó hiện hữu” (Address to the Roman Rota, 27 January 2007). Bởi vậy, kkông có vấn đề một thứ hôn nhân theo đời sống và thứ kia theo luật lệ: hôn nhân chỉ là một cơ cấu duy nhất, nó cấu tạo nên một liên kết thực sự về pháp lư giữa người nam và người nữ, một liên kết nâng đỡ năng lực phu thê chân thực của sự sống và t́nh yêu.

 

Hôn nhân được cặp tân hôn cử hành, thành phần được việc chăm sóc mục vụ quan tâm và là đối tượng của tín lư có tính cách giáo luật, là một thực tại duy nhất, tự nhiên và cứu độ, một thực tại phong phú thực sự được hành sử bằng những đường lối khác nhau nhưng vẫn không v́ thế nó bị mất đi căn tính thiết yếu của ḿnh. Khía cạnh pháp lư là những ǵ liên kết một cách nội tại bởi yếu tính của hôn nhân. Điều này được hiểu theo chiều hướng của một thứ quan niệm về luật phi thực chứng, nhưng được quan tâm theo quan điểm của liên hệ tính hợp với công lư.

 

Quyền kết hôn, ius connubii, là những ǵ cần phải được thấy theo quan điểm ấy. Nói cách khác, nó không phải là một chủ trương chủ quan là các vị mục tử cần phải làm trọn, bằng việc chỉ cần chính thức nh́n nhận, tính chất độc lập của nội dung hiệu năng của cuộc kết hôn. Quyền được kết hôn bao hàm là con người có thể và có ư thực sự cử hành nó, tức là, theo sự thật của yếu tính nó theo như Giáo Hội dạy về nó. Không ai có thể đ̣i quyền để cử hành một lễ nghi hôn phối. Thật vậy, ius connubii là những ǵ liên quan tới quyền cử hành một cuộc thành hôn chân thực.

 

The ius connubii bởi thế không bị chối bỏ mỗi khi những đ̣i hỏi căn bản trong việc cần phải hành sử nó rơ ràng bị thiếu vắng, tức là, nếu khả năng cần cho việc kết hôn hiển nhiên không có hay con người trong cuộc có ư muốn một điều ǵ đó không hợp với thực tại tự nhiên của hôn nhân. Về vấn đề này tôi muốn tái khẳng định những ǵ tôi đă viết sau Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới về Thánh Thể: “V́ bối cảnh phức tạp về văn hóa là bối cảnh Giáo Hội ngày nay gặp phải ở nhiều xứ sở mà Thượng Nghị này cũng kêu gọi hăy tối đa chú trọng về mục vụ đối với những cặp được hướng dẫn dự bị hôn nhân cũng như tới việc nắm chắc trong tay những xác tín của họ về các đ̣i hỏi cần cho việc thành hiệu bí tích Hôn Phối. Việc nghiêm chỉnh nhận thức về vấn đề này sẽ giúp tránh được các trường hợp xẩy ra những quyết định hấp tấp bốc đồng hay những lư lẽ nông nổi hời hợt là những ǵ khiến hai con người trẻ gánh vác những thứ trách nhiệm mà bấy giờ họ không thể tôn trọng (cf. Propositio, n. 40). Sự thiện được Giáo Hội và toàn thể xă hội trông mong nơi hôn nhân cũng như gia đ́nh được xây dựng trên hôn nhân là những ǵ rất cao cả cần đến việc trọn vẹn dấn thân mục vụ về lănh vực đặc biệt này. Hôn nhân và gia đ́nh là những cơ cấu cần phải được cổ vơ và bênh vực khỏi hết mọi lạc thuyết về bản chất chân thực của chúng, v́ bất cứ điều ǵ làm tổn thương đến chúng đều gây thương tổn cho chính xă hội” (Post-Synodal Apostolic Exhortation, Sacramentum Caritatis, 22 February 2007, n. 29).

 

Việc chuẩn bị thành hôn, qua các giai đoạn khác nhau của nó, như được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II diễn tả trong Tông Huấn Cộng Đồng Gia Đ́nh – Familiaris Consortio (22/11/1981), chắc chắn có những mục đích vượt lên trên chiều kích pháp lư, v́ chân trời của nó được cấu tạo nên bởi sự thiện nguyên vẹn, nhân bản và Kitô giáo của cặp hôn nhân này cũng như của con cái sau này của họ (cf. n. 66), thực sự là nhắm đến t́nh trạng thánh đức nơi đời sống của họ (cf. CIC, can. 1063, 2). Tuy nhiên, không bao giờ được quên rằng mục tiêu trực tiếp của việc chuẩn bị này đó là phát động việc tự do cử hành một cuộc hôn nhân đích thực, tức là cổ vơ việc cấu tạo nên một liên kết về công lư và yêu thương giữa vợ chồng với nhau, mang đặc tính duy nhất và bất khả phân ly, nhắm tới thiện ích của vợ chồng cũng như việc sinh thành dưỡng dục con cái của họ, và nơi thành phần lănh nhận phép rửa, nó tạo nên một trong các bí tích của Tân Ước. Việc chuẩn bị này không có chuyên chở một sứ điệp về ư hệ ngoại tại, nó lại càng không áp đặt một mẫu thcức về văn hóa; trái lại, đôi trai gái trong cuộc được đặt vào trong một vị thế khám phá ra sự thật vủa một thứ bản năng tự nhiên và một thứ khả năng dấn thân là những ǵ được ghi khắc ccnơi thực thể liên hệ của ḿnh như một con ncgười nam – nữ. Từ điều ấy xuất phát ra luật lệ, như là một yếu tố thiết yếu của mối liên hệ hôn nhân, được bắt nguồn từ khả năng tự nhiên của vợ chồng làm hiện thực hóa tặng ân tự trao tặng bản thân ḿnh.

 

Lư trí và đức tin tuy nhiên tranh nhau làm sáng tỏ chân lư về sự sống này, mặc dù nó vẫn cần phải rơ ràng, như Vị Đáng Kính Gioan Phaolô II đă dạy thêm rằng “Giáo Hội không từ khước việc cử hành một cuộc hôn nhân đối với con người có bene dispotitus, dầu theo quan điểm siêu nhiên họ cuẩn bị một cách không trọn vẹn, miễn là họ có ư ngay lành trong việc kết hôn theo thực tại tự nhiên của hôn nhân” (Address to the Roman Rota, 30 January 2003, n. 8).

 

Theo chiều hướng ấy cần phải đặc biệt chú ư tới việc theo đuổi qua việc chuẩn bị thành hôn, cho dù là chuẩn bị xa, chuẩn bị gần hay chẩn bị liền - remote preparation, proximate preparation or immediate preparation (cf. John Paul II, Apostolic Exhortation Familiaris Consortio, 22 November 1981, n. 66).

 

Trong số những phương tiện để nắm chắc được dự tính của cặp trai gái trong cuộc có thực sự là phối ngẫu hay chăng, th́ cần phải thực hiện việc khảo sát tiền hôn. Việc khảo sát này có mục đích pháp lư là chính, đó là bảo đảm rằng không có ǵ ngăn trở cho việc cử hành thành hiệu và hợp pháp cuộc thành hôn. Tuy nhiên, tính chất pháp lư không có nghĩa là tính chất chính thức, như thể nó là một việc làm về hành chính, như điền một mẫu đơn đựa theo một loạt những câu hỏi. Trái lại, nó là một cơ hội mục vụ đặc thù – một cơ hội được thực hiện hoàn toàn nghiêm chỉnh và chú trọng – trong đó, qua một cuộc đối thoại đầy trân trọng và thân t́nh, vị mục tử t́m cách giúp đỡ con người nghiêm chỉnh đối diện với sự thật về chính bản thân ḿnh cũng như về ơn gọi nhân bản và Kitô giáo của họ đối với đời sống hôn nhân.

 

Theo chiều hướng này, việc đối thoại, một việc bao giờ cũng phải thực hiện riêng biệt với từng cá nhân của cặp trai gái muốn lấy nhau, mà vẫn không coi nhẹ khả thể thực hiện các cuộc đàm thoại với cả hai người – đ̣i phải có một bầu không khí hoàn toàn chân t́nh, nhấn mạnh đến sự kiện chính họ là thành phần tiên quyết trong cuộc và là những người tiên quyết cần phải cử hành một cuộc hôn phối hiệu thành.

 

Như thế, bằng những phương tiện khác nhau sẵn có cho việc cẩn thận chuẩn bị và chứng thực, cần phải thực hiện một tác động mục vụ hiệu nghiệm để t́m cách ngăn ngừa vấn đề tiêu hôn. Cần phải hết sức thực hiện bao nhiêu có thể việc ngăn chặn cái ṿng luẩn quẩn tồi bại thường xẩy ra giữa một cuộc kết hôn được cho là khả dĩ mà chẳng chuẩn bị đàng hoàng tử tế và chẳng nghiêm chỉnh khảo sát về các điều kiện tiên quyết cho việc cử hành hôn nhân, với việc tuyên bố theo pháp lư là việc đôi khi dễ dàng nhưng lại có một bản chất trái ngược, trong đó chính hôn nhân được coi là vô hiệu chỉ v́ căn cứ nguyên vào việc nhận định về t́nh trạng thất bại của nó.

 

Đúng thế, không phải tất cả mọi nguyên nhân về việc về sau tuyên bố là tiêu hôn đều có thể được nhận thấy hay bày tỏ trong việc chuẩn bị hôn nhân; tuy nhiên, cũng không đúng trong việc ngăn cản không cho kết hôn căn cứ vào những giả định bấp bênh, chẳng hạn như những giả định cho rằng, ngày nay và thời đại này, con người thường không có khả năng thành hôn hay chỉ dường như có ước muốn thành hôn mà thôi. Theo quan điểm ấy th́ những ai được kư thác cho việc chăm sóc các linh hồn dường như cần phải nhận thức sâu sắc hơn nữa về trách nhiệm của ḿnh trong vấn đề này. Nói chung, Giáo Luật và đặc biệt là luật về hôn nhân và về thủ tục, chắc chắn đ̣i phải thực hiện một cuộc chuẩn bị nhưng ư thức đặc biệt về các khía cạnh căn bản cũng như về các khía cạnh cụ thể trực tiếp của giáo luật, liên quan tới những phần vụ của nó, tạo nên một điều kiện chính yếu có tầm quan trọng nồng cốt đối với tất cả mọi thành phần hoạt động mục vụ, nhất là những ai chủ động trong việc chăm sóc mục vụ về gia đ́nh.

 

Ngoài ra, tất cả những điều này đ̣i hỏi là công việc của các ṭa án trong giáo hội chuyển đạt một sứ điệp đồng thanh về những ǵ là thiết yếu nơi hôn nhân, hợp với Huấn Quyền cũng như với giáo luật và cùng nhất trí nói lên. Nếu cần đến mối hiệp nhất về khoa pháp lư, một khoa được trao phó cho việc chăm sóc của Pháp Ṭa này, th́ những ṭa án khác trong giáo hội cần phải tuân hợp với khoa pháp lư có tính chất xoay vần này (cf. John Paul II, Address to the Roman Rota, 17 January 1998, n. 4). Mới đây tôi đă nhấn mạnh đền nhu cầu cần phải phán đoán một cách đúng đắn những căn nguyên liên quan tới t́nh trạng bất khả ưng thuận (cf. Address to the Roman Rota, 29 January 2009).

 

Vấn đề này tiếp tục là những ǵ rất thích thời. Tiếc thay, những chủ trương sai lầm vẫn c̣n tồn tại, chẳng hạn như chủ trương nhận diện việc suy xét của phán đoán cần cho hôn nhân (cf. CIC, can. 1095, n. 2) với vấn đề khôn ngoan được mong đợi trong việc quyết định thành hôn, bởi thế gây lẫn lộn vấn đề khả năng với một vấn đề khác vốn không làm suy yếu tính chất hiệu lực v́ nó liên quan tới tầm mức khôn ngoan thực tế giúp thực hiện quyết định, một quyết định dù sao cũng thực sự có tính chất hôn phối  (Unfortunately incorrect positions still endure, such as that of identifying the discretion of judgement required for the marriage (cf. CIC, can. 1095, n. 2) with the hoped for prudence in the decision to get married, thus confusing an issue of capacity with another which does not undermine the validity since it concerns the level of practical wisdom with which a decision is taken which is, in any case, truly matrimonial). T́nh trạng lầm lẫn này sẽ trở nên trầm trọng hơn nữa nếu muốn gán tác dụng vô hiệu cho những quyết định hấp tấp vội vàng xẩy ra trong đời sống hôn nhân (The misunderstanding would be yet more serious were there a wish to assign an invalidating effect to rash decisions made in married life).

 

Trong bối cảnh hủy hôn v́ việc loại trừ đi một tính chất thiết yếu của hôn nhân (cf. ibid., can. 1101 § 2), cũng cần phải thực hiện một cuộc dấn thân nghiêm cẩn để những tuyên bố về pháp lư phản ảnh sự thật về hôn nhân, cùng một sự thật cần phải được sáng tỏ vào lúc cho kết hôn. Tôi đang đặc biệt nghĩ đến vấn đề loại trừ đi yếu tố thiện ích của người phối ngẫu - bonum coniugum. Đối với việc loại trừ này, cùng một mối nguy hiểm cũng đe dọa việc áp dụng đứng đắn các qui chuẩn về sự bất lực dường như tái diễn, tức là việc t́m kiếm các nguyên nhân hủy hôn mà không thèm lưu ư tới việc cấu tạo của mối liên hệ phối ngẫu mà chỉ lưu ư tới cái hiện thực hóa của nó trong đời sống. Cần phải chống lại khuynh hướng biến những thiếu sót đơn giản của các đôi phối ngẫu trong đời sống vợ chồng của họ thành những khuyết điểm của sự ưng thuận (It is necessary to resist the temptation to transform the simple shortcomings of the spouses in their conjugal existence into defects of consent).

 

Thực ra việc loại trừ thực sự có thể xẩy ra chỉ khi nào việc định đoạt đối với sự thiện của các đôi phối ngẫu bị tác hại (cf. ibid. can. 1055 § 1), một sự thiện bị loại trừ bởi một tác động tích cực của ư muốn. Thật là ngoại thường khi xẩy ra những trường hợp không nh́n nhận người phối ngẫu hay trường hợp loại trừ đi việc hướng dẫn thiết yếu về cộng đồng sống phu thê cho thiện ích của người phối ngẫu. Thẩm quyền pháp lư của Ṭa Rota Roma cần phải chú trọng thẩm định vấn đề làm sáng tỏ những giả thuyết loại trừ đi yếu tố thiện ích của người phối ngẫu - bonum coniugum…………

 

………………….

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh (những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)

 http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20110122_rota-romana_en.html