Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Giáo Triều Rôma dịp Mừng Giáng Sinh tất niên 2011, Thứ Năm 22/12/2011 tại Sảnh Đường Clementine Hall

Biệt chú của người dịch:

Bài nói mừng Giáng Sinh nhưng mang tính chất tất niên của Đức Thánh Cha nên theo truyền thống luôn bao gồm những biến cố chính yếu có tính chất hoàn vũ của Giáo Hội xẩy ra trong cả một năm. Trong năm 2011, ngài đă đề cập tới 1- Năm Linh Mục, 2- Thượng Nghị Giám Mục Trung Đông; 3- Tông Du Hiệp Vương Quốc Anh; 4- Malta, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Thế nhưng, có hai vấn đề chính yếu được ngài nhấn mạnh đến nhất trong năm 2010 đó là vấn đề linh mục lạm dụng t́nh dục trong Năm Linh Mục và vấn đề Hồng Y John Newman được Giáo Hội tuyên phong chân phước trong chuyến tông du Hiệp Vương Quốc.  

Bài nói mừng Giáng Sinh giáo triều Rôma năm 2011, Đức Thánh Cha cho thấy: 1- trước hết là t́nh h́nh kinh tế thê thảm ở Âu Châu, xẩy ra là v́ t́nh trạng khủng hoảng về đạo lư và đức tin, một thế giới Tây phương Kitô giáo cần phải tái phúc âm hóa, 2- t́nh trạng khủng hoảng đức tin ở Tây phương hoàn toàn phản nghịch với t́nh trạng đức tin sống động ở Phi Châu cũng như qua các Ngày Giới Trẻ Thế Giới, 3- một Ngày Giới Trẻ Thế Giới được ngài nhấn mạnh đến 5 điểm chính yếu liên quan đến đức tin của giới trẻ tronmg ngày này. Đó là lư do ở đây xin chỉ chuyển dịch tóm gọn các chi tiết khác nhưng dịch nguyên trọn 5 điểm đặc biệt về Ngày Giới Trẻ Thế Giới này mà thôi.

 [Video]

……………

Trong khi năm nay đang tiến đến hồi kết thúc th́ Âu Châu đang trải qua một cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính, một cuộc khủng hoảng xét cho cùng gây ra bởi cuộc khủng hoảng về đạo lư đang bao trùm cả Châu Lục Cổ Kính này. Cho dù những thứ giá trị như t́nh đoàn kết và tránh nhiệm đối với thành phần nghèo khổ và khổ đau là những ǵ phần lớn chẳng có vấn đề ǵ th́ vẫn thường thiếu động lực thúc đẩy nơi cá nhân cũng như nơi các lănh vực rộng lớn ở xă hội trong việc thực hành sự từ bỏ và thực hiện những thứ hy sinh. Việc nhận thức và ư muốn không nhất thiết phải đi đôi với nhau. Trong việc bênh vực cho các thiện ích cá nhân, ư muốn làm lu mờ nhận thức, và v́ thế nhận thức trở nên suy yếu không thể nào kiên cường được ư muốn. Theo chiều hướng ấy có một số vấn nạn rất căn bản xuất phát từ cuộc khủng hoảng này: đâu là thứ ánh sáng có thể soi chiếu nhận thức của chúng ta, không phải chỉ thuần là những tư tưởng tổng quát chung chung mà là những điều phải làm cụ thể? Đâu là quyền lực thúc đẩy ư muốn hướng thượng? Có những vấn nạn cần phải được trả lời bằng việc chúng ta loan báo Phúc Âm, bằng việc tân truyền bá phúc âm hóa, nhờ đó sứ điệp ấy có thể trở thành biến cố, hầu việc loan báo này dẫn đến sự sống.

 

Đề tài chính của năm nay cũng như của các năm tới đây là thế này: Chúng ta loan báo Phúc Âm ngày nay ra sao? Làm thế nào đức tin như là một quyền lực sống động có thể trở thành một thực tại hôm nay đây? Những biến cố của Giáo Hội trong năm qua đi đây tất cả hoàn toàn liên hệ tới đề tài này: Những cuộc tông du đến Croatia, đến Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Tây Ban Nha, đến xứ sở Đức quốc của tôi, và sau hết đến Benin Phi Châu… Cũng đang nhớ nữa là những chuyến viếng thăm Venice, San Marino, Đại Hội Thánh Thể ở Ancona, và Calabria. Sau cùng c̣n có một ngày quan trọng nữa là cuộc hội ngộ ở Assisi cho các tôn giáo và dân chúng… Việc thiết lập Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách Việc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa đồng thời để hướng về Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới năm tới về cùng một đề tài. Năm Đức Tin… cũng theo chiều hướng ấy. Mỗi một biến cố này mang tính cách riêng của ḿnh. Ở Đức quốc, nơi xuất phát phong trào Cải Cách, vấn đề về đại kết, cùng với tất cả những thách đố và hy vọng, thương có tầm vóc quan trọng đặc biệt. Sâu xa liên hệ tới vấn đề này, ở tâm điểm của vấn đề tranh luận, vấn đề cứ được đặt ra đó là: đâu là việc canh tân của Giáo Hội? Nó xẩy ra như thế nào? Đâu là đường lối và đích điểm của nó? Chẳng những thành phần tín hữu trung thành mà c̣n cả thành phần nhận định bên ngoài đang quan tâm nhận thấy rằng thành phần đi nhà thờ thường xuyên bao giờ cũng đang trở thành già lăo và con số của họ liên tục giảm sút; việc chiêu mộ các vị linh mục là những ǵ đ́nh trệ; vấn đề nghi hoặc và không tin tưởng ǵ đang gia tăng. Vậy th́ chúng ta phải làm ǵ đây? Đang có những cuộc tranh luật bất tận về những ǵ cần phải thực hiện để đạo ngược lại hướng đi này. Chắc chắn là cần phải thực hiện một số điều. Thế nhưng hành động mà thôi vẫn không giải quyết được vấn đề. Cái yếu tính của cuộc klhủng hoảng nơi Giáo Hội ở Âu Châu đó là cuộc khủng hoảng về đức tin. Nếu chúng ta không t́m thấy được câu trả lời cho vấn đề này, nếu đức tin không mặc lấy một sự sống mới, không được sâu xa xác tín và không có được một sức mạnh thực sự từ cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô, th́ tất cả những thứ canh tân cải cách khác sẽ vẫn là những ǵ vô hiệu.

 

Về điểm này, cuộc gặp gỡ niềm hăng say hớn hở sống đức tin của Phi Châu là những ǵ rất phấn khởi…. Việc gặp gỡ một niềm tin tưởng rất sẵn sàng hy sinh và đầy những hạnh phúc là một phương dược mạnh mẽ chống lại cái mệt mỏi với Kitô giáo chúng ta đang cảm thấy ở Âu Châu ngày nay.  

Một phương dược khác chống lại cái mệt mỏi nữa đó là cảm nghiệm tuyệt vời về Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Maní. (Biệt chú của người dịch: Có lẽ chính cảm nghiệm về Ngày Giới Trẻ Thế Giới 2011 này đă khiến Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viết sứ điệp cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới 2012 cũng về giới trẻ, dưới nhan đề: “Giáo dục giới trẻ về công lư và ḥa b́nh”). Đó là việc tân phúc âm hóa trong thực hành. Một lần nữa ở các Ngày Giới Trẻ Thế Giới, một h́nh thức mới mẻ, trẻ trung hơn về Kitô giáo có thể được nh́n thấy, những ǵ tôi muốn diễn tả dưới 5 tiểu đề. 

1- Trước hết là một cảm nghiệm mới về công giáo tính, về tính chất đại đồng của Giáo Hội. Đó là những ǵ đánh động trực tiếp nhất đến giới trẻ và tất cả mọi tham dự viên: chúng tôi đến từ mọi châu lục, thế nhưng cho dù chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau, chúng tôi vẫn biết nhau. Chúng tôi nói bằng các thứ ngôn ngữ khác nhau, chúng tôi có những đường lối sống khác nhau và những bối cảnh văn hóa khác nhau, nhưng chúng tôi liên kết với nhau ngay như là một đại gia đ́nh. Việc phân biệt và khác nhau bề ngoài được tương đối hóa. Tất cả chúng tôi đều được tác động bởi một Chúa Giêsu Kitô duy nhất, nơi Người tỏ hiện cho chúng tôi nhân tính chân thực và đồng thời cả dung nhan của chính Thiên Chúa. Chúng tôi cầu nguyện cũng thế. Cũng một cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu Kitô đă sâu xa ghi ấn chúng tôi với cùng cấu trúc về trí khôn, ḷng muốn và con tim. Và sau hết, phụng vụ chung của chúng tôi nói với ḷng của chúng tôi và liên kết chúng tôi thành một đại gia đ́nh. Trong khung cảnh này, khi nói rằng tất cả nhân loại đều là anh chị em th́ không phải chỉ là một ư nghĩ: nó trở thành một cảm nghiệm chung thực sự, mang lại niềm vui. Nhờ đó chúng ta cũng đă hiểu được hết sức cụ thể là bất chấp tất cả mọi thách đố và thời điểm tăm tối, thật là tuyệt vời được thuộc về một Giáo Hội toàn cầu, về Giáo Hội Công giáo Chúa ban cho chúng tôi.

 

2-  Từ đó xuất phát một lối sống mới nhân tính của chúng ta, Kitô giáo của chúng ta. Đối với tôi, một trong những cảm nghiệm quan trọng nhất trong những ngày này đó là cuộc gặp gỡ với thành phần t́nh nguyện viên của Ngày Giới Trẻ Thế Giới: khoảng 20 ngàn giới trẻ, tất cả đều giành nhiều ngày tháng trong cuộc đời của ḿnh để thực hiện việc sửa soạn về kỹ thuật, tổ chức và tài liệu cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới, nhờ đó làm cho nó trở thành khả dĩ cho toàn thể biến cố này được diễn tiến xuôi thuận. Những ai cống hiến thời giờ của ḿnh bao giờ cũng dâng hiến một phần của đời ḿnh. Vào cuối ngày, thành phần giới trẻ này tỏ ra rơ ràng hiển nhiên tràn đầy cảm nghiệm hạnh phúc: thời giờ họ đă cống hiến mang lại một ư nghĩa; trong việc hy sinh thời giờ và công khó của ḿnh, họ đă t́m thấy được thời gian, họ đă t́m thấy được sự sống. Và ở đây tôi thấy rơ một cái ǵ đó nồng cốt, đó là những con người trẻ này đă cống hiến một phần của đời sống tin tưởng của ḿnh, không v́ họ bị đ̣i hỏi, không để chiếm được Thiên Đàng, cũng không phải để thoát được hiểm nguy Hỏa Ngục. Họ chẳng làm như thế để được viên trọn. Họ không nh́n lại bản thân ḿnh. Tôi nghĩ đến h́nh ảnh vợ của ông Lot, người đàn bà v́ nh́n lại đă trở thành một cột muối. Đời sống của Kitô hữu biết bao nhiêu lần được đánh dấu bằng sự kiện là trước hết và trên hết họ t́m kiếm bản thân ḿnh, họ hành thiện, có thể nói, cho chính bản thân họ. To lớn biết bao khuynh hướng của tất cả mọi người chỉ quan tâm chính yếu cho bản thân ḿnh; nh́n lại ḿnh và theo tiến tŕnh trở nên trống rỗng trong ḷng, trở thành “những pho tượng muối”. Thế nhưng ở đây vấn đề không phải là việc kiếm cách hoàn trọn hay muốn sống cuộc đời của ḿnh cho chính ḿnh. Những con người trẻ này đă hành thiện, thậm chí phải trả giá, cho dù nó đ̣i phải hy sinh, chỉ v́ hành thiện là một điều tuyệt vời, hiện diện cho người khác. Tất cả chỉ cần làm sao để can đảm thực hiện một bước nhẩy vọt. Trước tất cả những điều ấy là việc gặp gỡ Chúa Giêsu, nung nấu chúng ta bằng t́nh yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, và giải thoát chúng ta khỏi việc t́m kiếm cái tôi của ḿnh. Bằng những lời của một kinh nguyện được cho rằng của Thánh Phanxicô Xavier: Tôi hành thiện, không phải để nhờ đó mà lên Trời và không phải Chúa có thể quẳng con vào Hỏa Ngục. Con làm điều ấy là v́ Chúa, Vua của con và là Chúa của con. Tôi đă thấy được cùng một thái độ ấy ở cả Phi Châu nữa, chẳng hạn, nơi các Nữ Tu của Mẹ Têrêsa, những nữ tu dấn thân cho những trẻ em bị bỏ rơi, bệnh tật, nghèo khổ và đau khổ, không đ̣i hỏi ǵ cho bản thân ḿnh, nhờ đó trong ḷng trở nên phong phú và tự do. Đó là thái độ Kitô giáo đích thực. Tôi cũng không thể nào quên được cuộc gặp gỡ với giới trẻ tật nguyền ở Trung Tâm Thánh Giuse Maní, nơi tôi thấy việc sẵn sàng đặt ḿnh vào việc sử dụng của kẻ khác – một thứ sẵn sàng hiến ḿnh tối hậu xuất phát từ việc gặp gỡ Chúa Kitô là Đấng hiến ḿnh cho chúng ta.

 

3-  Yếu tố thứ ba đó là việc tôn thờ, một yếu tố đă chiếm một vị thế tự nhiên và tâm điểm mỗi ngày một hơn trong những Ngày Giới Trẻ Thế Giới cũng như trong linh đạo từ đó mà ra. Tôi vẫn nh́n lại giây phút bất khả quên trong chuyến viếng thăm Hiệp Vương Quốc của tôi, khi mà cả chục ngàn người mà phần đông là giới trẻ ở Hyde Park đă đáp ứng một cách âm thầm hùng hồn trước sự hiện diện của Chúa trong bí tích, trong việc tôn thờ. Cũng xẩy ra như thế ở mức độ ít hơn ở Zagreb, rồi ở cả Maní, sau một trận mưa sấm xét hầu như làm tàn rụi đi cả một đêm canh thức bởi hỏng mất các loa phóng thanh. Thiên Chúa thật sự là Đấng hằng hiện diện. Thế nhưng, một lần nữa, sự hiện diện về thể lư của Chúa Kitô phục sinh là những ǵ khác biệt, là một cái ǵ đó mới mẻ. Vị Chúa phục sinh này tiến vào giữa chúng ta. Và v́ thế chúng ta c̣n nói ǵ hơn cùng với Thánh Thomas rằng: Lạy Chúa của con và lạy Thiên Chúa của con! Việc tôn thờ chính yếu là một tác động đức tin – một tác động đức tin vậy. Thiên Chúa không phải chỉ là một thứ giả thuyết khả dĩ hay bất khả dĩ nào đó về nguồn gốc của tất cả mọi sự. Ngài là Đấng hiện diện. Và nếu Ngài hiện diện th́ tôi cúi ḿnh xuống trước nhan Ngài. Thế rồi lư trí của tôi và ư muốn của tôi với cơi ḷng của tôi cởi mở hướng về Ngài và từ Ngài. Nơi Chúa Kitô phục sinh, Vị Thiên Chúa nhập thể hiện diện, Đấng đă chịu khổ cho chúng ta v́ Người yêu thương chúng ta. Chúng ta tiến vào niềm tin tưởng về t́nh yêu thương tỏ tường này của Thiên Chúa đối với chúng ta trong tâm hồn của chúng ta. Đó là việc tôn thờ, và v́ thế việc tôn thờ này là những ǵ quyết định cuộc sống của tôi. Chỉ có thế tôi mới cử hành Thánh Thể một cách đúng đắn và lănh nhận ḿnh Chúa một cách chân chính.

 

4-  Một yếu tố quan trọng nữa của các Ngày Giới Trẻ Thế Giới đó là bí tích Giải Tội, một bí tích càng ngày càng cho thấy như một phần nguyên trọn của kinh nghiệm này. Ở đây chúng ta nh́n nhận rằng chúng ta tiếp tục cứ cần phải được tha thứ và ơn tha thứ này mang đến một trách nhiệm. Việc hướng về t́nh yêu đang hiện diện trong con người, được Đấng Hóa Công gieo trồng nơi con người, cùng với khả năng đáp ứng Thiên Chúa bằng đức tin. Thế nhưng, cũng hiện hữu nữa, bởi hậu quả của lịch sử tội lỗi (giáo huấn của Giáo Hội về nguyên tội) là khuynh hướng chống lại t́nh yêu – khuynh hướng về vị kỷ, về việc đóng khung bản thân ḿnh, thật sự là khuynh hướng về sự dữ. Linh hồn của tôi cứ bị lu mờ đi bởi cái trọng lực kéo tôi xuống đang hiện diện trong tôi ấy. Bởi thế, chúng ta cần một tấm ḷng khiêm tốn trong việc liên lỉ xin Thiên Chúa thứ tha, một tấm ḷng khiêm tốn t́m kiếm việc thanh tẩy và làm bừng dậy trong chúng ta một thứ quyền năng đối nghịch, một thứ quyền lực tích cực của Đấng Hóa Công, trong việc kéo chúng ta lên.

 

5-  Sau hết, tôi muốn nói về một đặc tính cuối cùng là niềm vui nơi linh đạo của các Ngày Giới Trẻ, không được coi thường bỏ qua. Nó xuất phát từ đâu? Làm sao giải thích được nó? Thật ra có nhiều yếu tố góp phần vào sự kiện này. Thế nhưng, theo quan niệm của tôi, yếu tố quan trọng đó là niềm tin tưởng này, căn cứ vào đức tin, ở chỗ: Tôi là người cần thiết; tôi có một công việc trong lịch sử; tôi được chấp nhận, tôi được yêu thương. Josef Pieper, trong cuốn sách về t́nh yêu của ḿnh, đă cho thấy rằng con người chỉ có thể chấp nhận ḿnh nếu họ được người khác chấp nhận. Họ cần đến sự hiện diện của người khác, nói cùng họ, hơn cả các thứ ngôn từ, đó là: tốt đẹp thay việc hiện hữu của anh chị. Chỉ từ cái Anh Chị mà cái Tôi mới có. Chỉ khi nào cái Tôi được chấp nhận nó mới chấp nhận chính ḿnh. Những ai không được yêu thương thậm chí không thể nào yêu thương bản thân ḿnh. Cảm quan được chấp nhận này xuất phát trong giây phút đầu tiên từ những con người khác. Thế nhưng tất cả mọi thứ chấp nhận của con người đều là những ǵ mỏng ḍn. Tối hậu chúng ta cần một cảm quan được chấp nhận một cách vô điều kiện. Chỉ một ḿnh Thiên Chúa chấp nhận tôi, và tôi thâm tín điều ấy, tôi quả thực hoàn toàn biết rằng thật là tốt đẹp việc tôi hiện hữu. Thật là tốt đẹp được làm người. Hễ bao giờ cảm quan được Thiên Chúa chấp nhận và yêu thương bị mất đi, th́ không c̣n vấn đề giải đáp cho câu hỏi làm người có tốt lành chút nào hay chăng. Việc ngờ vực việc hiện hữu của con người trở nên càng ngày càng bất khả thắng vượt. Nơi nào thịnh hành vấn đề ngờ vực về Thiên Chúa th́ việc nghi hoặc về nhân loại cũng bất khả tránh. Chúng ta thấy ngày nay t́nh trạng nghi hoặc này đang lan tràn. Chúng ta thấy nơi những ǵ là chẳng vui, nơi cái buồn thảm nội tâm, những ǵ có thể đọc thấy trên rất nhiều khuôn mặt nhân loại ngày nay. Chỉ có đức tin mới cống hiến cho tôi niềm xác tín này: thật là tốt đẹp cho việc tôi hiện hữu. Thật là tốt đẹp được làm người, cho dù trong những lúc khó khăn. Đức tin làm cho con người hạnh phúc từ ở trong ḷng. Đó là một trong những cảm nghiệm tuyệt vời về các Ngày Giới Trẻ Thế Giới.

 

…………..

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh (những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/december/documents/hf_ben-xvi_spe_20111222_auguri-curia_en.html