Giáo Lư Thánh Mẫu

 

Bài 18 – 1/5/1996:

 

 

Mẹ Maria đáp ứng Thiên Chúa bằng t́nh yêu phu thê

 

 

1.  Vao thời điểm Truyền Tin, Mẹ Maria, “người nữ tử Sion hoan hỉ” (Lumen gentium, n. 55), được vị thiên thần chào như Mẹ là vị đại diện cho nhân loại, được kêu gọi để tỏ ḷng ưng thuận cho việc Nhập Thể của Người Con Thiên Chúa.

 

Lời đầu tiên vị thiên thần nói cùng Mẹ đó là mời gọi Mẹ hăy hân hoan: chaire, tức là “hân hoan”. Tiếng Hy Lạp này đă được chuyển dịch sang Latinh là “Ave”, một bày tỏ đơn sơ của lời chào dường như không hoàn toàn tương đương với những ư hướng của vị sứ giả thần linh cùng với bối cảnh xẩy ra cuộc hội ngộ này.

 

Dĩ nhiên, chaire cũng là một h́nh thức của lời chào thường được các người Hy Lạp sử dụng, thế nhưng những hoàn cảnh đặc biệt nó được sử dụng không liên hệ tới bầu không khí của một cuộc gặp gỡ thường t́nh. Thật vậy, chúng ta không được quên rằng vị thiên thần biết được một việc loan báo có một không hai trong lịch sử loài người: bởi thế ở đây không có chuyện gặp gỡ đơn giản tầm thường. Trái lại, nguyên nghĩa của lời phát biểu chaire là “hân hoan” xem ra xứng hợp hơn với trường hợp ngoại thường này.

 

Như các vị Giáo Phụ Hy Lạp đặc biệt liên lỉ vạch ra, khi trưng dẫn một số lời tiên tri khác nhau, lời mời gọi hăy hân hoan rất thích đáng đối với việc loan báo Đấng Thiên Sai tới.

 

Hăy hoan hỉ v́ Chúa đă thực hiện những việc trọng đại

 

2.  Trước hết, chúng ta nghĩ đến Tiên Tri Zephaniah. Đoạn văn về Truyền Tin cho thấy có một cuộc song hành lư thú với lời sấm của ông: “Hăy hát to lên, Ôi nữ tử Sion; hăy la lên, Ôi Yến Duyên! Hăy hân hoan và hớn hở hết ḷng, Ôi nữ tử Giêrusalem!” (Zep 3:14). Có một lời mời gọi vui lên: “Hăy hết ḷng hân hoan và hớn hở!” (câu 14). Sự hiện diện của Chúa được đề cập tới: “Vị Vua của Yến Duyên là Chúa đang ở giữa ngươi” (câu 15). Có lời huấn dụ đừng sợ nữa: “Đừng sợ, Ôi Sion, đừng để cho đôi tay ngươi ră rời” (câu 16). Sau cùng, có cả một lời hứa hẹn về việc can thiệp cứu độ của Thiên Chúa: “Chúa là Thiên Chúa của ngươi ở giữa ngươi, một chiến binh mang lại chiến thắng” (câu 17). Những so sánh th́ rất nhiều và thường xuyên là những ǵ dẫn người ta tới chỗ nhận thấy Mẹ Maria như là một “nữ tử Sion” mới, vị có đầy lư do để hân hoan v́ Thiên Chúa đă quyết định hoàn thành dự án cứu độ của Ngài.

 

Một lời mời gọi hân hoan tương tự, thậm chí ở một bối cảnh khác, xuất phát từ lời của tiên tri Joel: “Đừng sợ, Ôi đất đai; hăy vui tươi và hoan hỉ, v́ Chúa đă thực hiện những việc trọng đại!... Ngươi sẽ b iết rằng Ta ở giữa Yến Duyên” (Jl 2:21-27).

 

3.  Lời sấm của tiên tri Zechariah cũng quan trọng, lời sấm được trích dẫn liên quan đến việc Chúa Giêsu vào Thành Giêrusalem (Mt 21:5; Jn 12:15). Trong lời sấm này, lư do hân hoan được thấy ở nơi việc đức vua Thiên Sai tới: “Hăy thật là hoan hỉ, Ôi nữ tử Sion! Hăy la to lên, Ôi nữ tử Giêrusalem! Này vua của ngươi đang đến với ngươi; Người là vị chiến thắng và vinh thắng, khiêm tốn… và Người sẽ ban ḥa b́nh cho chư dân” (zec 9:9-10).

 

Sau hết, việc loan báo niềm vui cho tân Sion xuất phát, theo Sách Tiên Tri Isaia, từ nhiều thế hệ của nó, một dấu hiệu của phúc lành thần linh: “Hăy hát ca Ôi kẻ hiếm muộn, người không cưu mang; hăy vang tiếng ca khen và kêu to, ngươi là kẻ chưa từng lâm bồn! V́ con cái của kẻ bị ruồng bỏ sẽ nhiều h7n con cái của người thành hôn, Chúa phán” (Is 54:1).

 

Có 3 lư do cho lời mời gọi hân hoan, đó là sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa giữa dân của Người, việc xuất hiện của đức vua thiên sai và thành quả phong phú nhưng không được nên trọn nơi Mẹ Maria. Chúng chứng minh ư nghĩa có thai được Truyền Thống qui về lời chào của vị thiên thần. Bằng việc mời Mẹ tỏ ra đồng ư với việc hoàn trọn lời hứa thiên sai và bằng việc loan báo cho Mẹ biết phẩm vị tối cao của việc làm Mẹ Chúa, vị thiên thần không thể không mời gọi Mẹ hăy vui lên. Thật vậy, như Công Đồng Chung Vaticanô II nhắc nhở chúng ta: “Sau một giai đoạn dài chờ đợi, các thời điểm đă được nên trọn nơi Mẹ, vị nữ tử Sion hoan hỉ, và dự án cứu độ mới được thiết lập khi Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính loài người ở nơi Mẹ, nhờ đó Người có thể, nơi các mầu nhiệm về xác thịt của ḿnh, giải thoát con người khỏi tội lỗi” (Lumen gentium, n. 55).

 

4.  Tŕnh thuật về Truyền Tin giúp chúng ta có thể nhận thấy nơi Mẹ Maria một tân “nữ tử Sion”, vị được Thiên Chúa kêu gọi hăy sâu xa vui tươi. Nó thể hiện vai tṛ phi thường của Người là mẹ của Đấng Thiên Sai, thật vậy, như là mẹ của Con Thiên Chúa. Vị Trinh nữ này chấp nhận sứ điệp ấy với tư cách là dân của Đavít, thế nhưng chúng ta có thể nói rằng Mẹ chấp nhận sứ điệp này thay cho tất cả nhân loại, v́ Cựu Ước đă nới rộng vai tṛ của Đấng Thiên Sai thuộc gịng dơi Đavít tới toàn thể chư dân (cf. Ps 2:8; 71 [72]:8). Theo ư hướng thần linh th́ việc loan báo được ngỏ cùng Mẹ hướng tới ơn cứu độ phổ quát.

 

Mẹ Maria đón nhận niềm vui được các tiên tri báo trước

 

Để xác nhận viễn ảnh phổ quát này của dự án Thiên Chúa, chúng ta có thể nhắc lại vài đoạn Cựu Ước và Tân Ước là những đoạn so sánh ơn cứu độ với một bữa tiệc linh đ́nh cho tất cả mọi dân tộc trên Núi Sion (cf Is. 25:6f) và là những đoạn loan báo bữa tiệc cuối cùng của vương quốc Thiên Chúa (cf. Mt 22:1-10).

 

Là “nữ tử Sion”, Mẹ Maria là vị Trinh Nữ của Giao Ước được Thiên Chúa thiết lập với toàn thể nhân loại. Vai tṛ đại diện của Mẹ Maria trong biến cố này là những ǵ rơ ràng. Và vấn đề quan trọng ở đây đó là một người nữ thi hành phận vụ ấy.

 

5.  Thực vậy, là một tân “nữ tử Sion”, Mẹ Maria đặc biệt xứng hợp với việc tham phần vào Giao Ước với Thiên Chúa. Xứng đáng hơn bất cứ một phần tử nào trong Dân Tuyển Chọn, Mẹ có thể cống hiến cho Chúa tấm ḷng đích thật của một Cô Dâu.

 

Với Mẹ Maria, “nử tử Sion”, không phải chỉ thuần là một chủ thể chung mà là một con người đại diện cho nhân loại, và vào lúc Truyền Tin, Mẹ đă đáp ứng dự án của t́nh yêu thần linh bằng t́nh yêu phu thê của Mẹ. Bởi vậy Mẹ đón nhận một cách đặc biệt niềm vui được các lời tiên tri báo trước, một niềm vui đạt tới tột đỉnh của nó ở đây trong việc hoàn trọn dự án của Thiên Chúa.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

Chuyển dịch từ L'Osservatore Romano Weekly Edition in English 8/5/1996, trang 11.