Bài 21 – 29/5/1996: Mối Thù của Mẹ Maria với Satan là những ǵ chắc chắn phải có

 

1-  Ttheo suy tưởng về tín lư của Giáo Hội Đông Phương th́ lời diễn tả “đầy ân phúc”, như chúng ta đă thấy ở các bài giáo lư trước, đă được giải thích từ thế kỷ thứ 6 như là một thứ thánh đức đặc thù Mẹ Maria có được suốt cuộc sống của Mẹ. Bởi thế, Mẹ mở màn cho việc tân tạo.

 

Theo tŕnh thuật Truyền Tin của Thánh Luca, Truyền Thống và Huấn Quyền đă thấy nơi câu được gọi là Phúc Âm tiên khởi (Khởi Nguyên 3:15) này một nguồn thánh kinh về sự thật Mẹ Maria Hoài Thai Vô Nhiễm. Căn cứ vào bản dịch Latinh cổ th́: “Người nữ sẽ đạp nát đầu ngươi”, đoạn dịch này đă gợi hứng cho nhiều h́nh vẽ Đấng Vô Nhiễm đạp đầu con rắn ở dưới chân ḿnh.

 

Trong một cơ hội rất sớm chúng ta đă nhắc lại rằng bản dịch này không hợp với bản Do Thái, một bản Do Thái không phải là người nữ mà là gịng dơi người nữ, miêu duệ của người nữ, vị sẽ đạp nát đầu của con rắn. Bởi thế, bản văn Do Thái này không qui cuộc chiến thắng Satan cho Mẹ Maria mà là cho Người Con của Mẹ. Tuy nhiên, v́ quan niệm thánh kinh thiết lập một liên kết sâu xa giữa cha mẹ và con cái, mà h́nh ảnh Đấng Vô Nhiễm đạp đầu con rắn, không phải bởi quyền năng riêng của Mẹ mà là nhờ ân sủng của Con Mẹ, cũng hợp với ư nghĩa nguyên thủy của đoạn này.

 

Mẹ Maria được ban cho quyền năng để chống lại ma quỉ

 

2- Cùng đoạn văn này cũng công bố về mối thù, một bên, giữa người nữ và gịng dơi người nữ, với bên kia là con rắn và gịng dơi của con rắn. Đó là một cuộc hận thù rơ ràng được Thiên Chúa thiết lập, một thứ hận thù có một tầm vóc quan trọng đặc biệt, nếu chúng ta lưu ư tới vấn đề thánh đức của bản thân Vị Trinh Nữ này. Để trở thành một kẻ thù bất khả hóa giải của con rắn và gịng dơi của hắn, Mẹ Maria cần phải được thoát khỏi tất cả mọi quyền năng của tội lỗi, và để được như thế cần phải thoát khỏi ngay từ giây phút đầu tiên trong cuộc hiện hữu của Mẹ.  

 

Theo chiều hướng ấy, Thông Điệp Fulgens corona, được Đức Giáo Hoàng Piô XII ban hành năm 1953 để tưởng niệm một trăm năm việc chân nhận tín điều Hoài Thai Vô Nhiễm, đă lập luận như thế này: “Nếu vào một lúc nào đó Đức Trinh Nữ Maria không được ân sủng thần linh, v́ Mẹ bị ô nhiễm vào lúc hoài thai cái t́ tích di truyền của tội lỗi, th́ giữa Mẹ và con rắn – ít là trong giai đoạn thời điểm này dù ngắn ngủi đến đâu chăng nữa – không có vấn đề mối thù muôn kiếp được nói đến theo truyền thống sớm nhất cho đến khi định tín việc Hoài Thai Vô Nhiễm này, mà là một thứ nô lệ thực sự (AAS 45 [1953], 579).

 

Thế nên, mối thù chắc chắn phải xẩy ra giữa người nữ và ma quỉ đ̣i Mẹ Maria cần phải được Hoài Thai Vô Nhiễm Tội, tức là hoàn toàn vô tội, ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời Mẹ. Người Con của Mẹ Maria đă vĩnh viễn chiến thắng Satan và đă cho Mẹ được lănh nhận ơn ích của cuộc chiến thắng này trước (in advance), bằng việc bảo tŕ (preserving) Mẹ cho khỏi tội lỗi. Như thế, Người Con đă ban cho Mẹ ḿnh quyền năng chống lại ma quỉ, nhờ đó, nơi mầu nhiệm Hoài Thai Vô Nhiễm, Người Mẹ đă chiếm được hiệu quả đáng kể nhất trong công cuộc cứu chuộc của Người Con.

 

3- Bằng việc chú ư tới thánh đức đặc biệt của Mẹ Maria cùng với việc Mẹ được hoàn toàn không bị ảnh hưởng của Satan, danh hiệu “đầy ân phúc” và Phúc Âm Tiên Khởi giúp chúng ta có thể nhận thấy, nơi đặc ân chuyên nhất Chúa ban cho Mẹ Maria, khởi điểm của một tân trật tự là thành quả của mối thân t́nh với Thiên Chúa, và là hậu quả bao gồm một thứ hận thù sâu xa giữa con rắn và con người.

 

Đoạn 12 của Sách Khải Huyền, đoạn nói về “người nữ mặc mặt trời” (12:1), thường cũng được trích dẫn như là một chứng từ thánh kinh về việc Hoài Thai Vô Nhiễm. Các nhà chú giải thánh kinh hiện nay đồng ư về việc nh́n thấy nơi người nữ này Cộng Đồng Dân Chúa, đang đớn đau sinh hạ Đấng Thiên Sai phục sinh. Tuy nhiên, cùng với việc dẫn giải chung, đoạn này cho thấy một cá nhân nơi câu ấy: Bà đă sinh hạ một bé trai, Đấng sẽ cai trị tất cả mọi quốc gia bằng roi sắt (12:5). Căn cứ vào chi tiết qui chiếu này về việc sinh hạ con trẻ th́ người nữ mặc mặt trời ở một nghĩa nào đó được nh́n nhận đồng hóa với Mẹ Maria, người nữ hạ sinh Đấng Thiên Sai. Cộng đồng người nữ thực sự được diễn tả bằng những đặc tính của người nữ Mẹ của Chúa Giêsu.

 

Được nhận diện ở vai tṛ làm mẹ của ḿnh, ở chỗ người nữ này cưu mang đứa con và kêu la chuyển bụng sinh con (12:2). Chi tiết này ám chỉ Mẹ của Chúa Giêsu đứng bên Thập Giá (cf Jn 19:25), nơi Mẹ đă thông phần sầu khổ để sinh hạ cộng đồng môn đệ với một tâm hồn bị lưỡi gươm đâm thâu qua  (cf. Lk 2:35). Cho dù phải chịu đựng khổ đau, Mẹ cũng “mặc mặt trời – tức là, Mẹ phản ảnh ánh quang thần linh – và xuất hiện như là một “điềm lạ vĩ đại” về mối liên hệ phu thê của Thiên Chúa với dân của Ngài.

 

Những h́nh ảnh này, mặc dù không trực tiếp cho thấy đặc ân Hoài Thai Vô Nhiễm, vẫn có thể được giải thích như là một thể hiện của việc Cha chăm sóc yêu thương tỏ ra đối với Mẹ Maria bằng ân sủng Chúa Kitô và bằng ánh quang Thần Linh.

 

Sau hết, Sách Khải Huyền mời gọi chúng ta nh́n nhận một cách đặc biệt hơn nữa chiều kích giáo hội nơi cá thể của Mẹ Maria: người nữ mặc mặt trời là tiêu biểu cho sự thánh thiện của Giáo Hội, một thánh thiện được hoàn toàn hiện thực nơi Vị Trinh Nữ Thánh nhờ một ân sủng đặc biệt.

 

4- Những xác nhận thánh kinh này, những xác nhận được Truyền Thống và Huấn Quyền qui chiếu để đặt nền móng cho tín lư về việc Hoài Thai Vô Nhiễm, có vẻ tương khắc với những đoạn thánh kinh khẳng định tính cách phổ quát của tội lỗi.

 

Cựu Ước nói về việc ô nhiễm tội lỗi tác dụng hết mọi người “sinh bởi nữ giới” (Ps 50/51:7; Job 14:2). Trong Tân Ước, Thánh Phaolô nói rằng, v́ hậu quả của tội Adong, “tất cả mọi người đă phạm tội”, và “việc vấp phạm của một người đă khiến cho tất cả mọi người bị án phạt” (Rm 5:12,18). Bởi thế, Sách Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo nhắc lại rằng nguyên tội “đă ảnh hưởng tới bản tính của con người”, một bản tính “ở trong t́nh trạng sa ngă”. V́ thế, tội lỗi được truyền “cho toàn thể nhân loại bằng việc truyền sinh, tức là việc truyền đạt một bản tính nhân loại bị mất đi t́nh trạngï thánh thiên và công chính nguyên thủy” (khoản 404). Tuy nhiên, Thánh Phaolô vẫn công nhận một ngoại lệ cho thứ luật phổ quát này: Chúa Kitô, Đấng “không biết đến tội lỗi” (2Cor 5:21), và v́ thế mới xẩy ra là “ở đâu tội lỗi gia tăng” (Rm 5:20) th́ lại làm cho ân sủng càng dồi dào hơn nữa.

 

Thánh Irênê cho thấy Mẹ Maria là Tân Evà

 

Những xác nhận ấy không cứ phải dẫn đến chỗ kết luận rằng Mẹ Maria được bao gồm vào thành phần nhân loại tội lỗi. Vai tṛ song hành, được Thánh Phaolô tiết lập giữa Adong và Chúa Kitô, được hoàn tất bởi việc song hành giữa Evà và Mẹ Maria: vai tṛ của người nữ, quan trọng trong thảm kịch tội lỗi, cũng quan trọng như thế nơi việc Cứu Chuộc nhân loại.

 

Thánh Irênê tŕnh bày Mẹ Maria như một Tân Evà, vị mà nhờ đức tin và việc tuân phục của ḿnh đă bù đắp t́nh trạng bất tin tưởng và bất tuân phục của Evà. Một vai tṛ như thế trong công cuộc cứu độ đ̣i phải được vô tội. Điều này xứng với Chúa Kitô là tân Adong thế nào th́ cả ở nơi Mẹ Maria nữa, tân Evà không biết đến tội lỗi và nhờ đó mới có thể cộng tác vào việc Cứu Chuộc.

 

Tội lỗi, cái tắm gội nhân tính như một thác lũ, khựng lại trước Đấng Cứu Chuộc và Vị Cộng Tác trung thành của Người. Chỉ có một khác biệt chính yếu, đó là: Chúa Kitô là Đấng toàn thánh nhờ ân sủng ở nơi nhân tính của Người xuất phát từ ngôi vị thần linh; c̣n Mẹ Maria là vị toàn thánh nhờ ân sủng nhận được từ các công nghiệp của Đấng Cứu Thế.

 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

Chuyển dịch từ L'Osservatore Romano Weekly Edition in English 5/6/1996, trang 11.