SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 



Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XVI Thường Niên

19-25/7/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


Chúa Nhật

sự sống cồn cào

Bài Đọc I: Gr 23, 1-6
Đáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Bài Đọc II: Ep 2, 13-18
Phúc Âm: Mc 6, 30-34

Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh tiếp tục được phản ảnh nơi Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XVI Thường Niên Năm B hôm nay. 

Trước hết là bài Phúc Âm, một bài Phúc Âm được Thánh Ký Marco thuật lại lời Chúa Giêsu khuyên các tông đồ sau khi các vị "hội lại bên Chúa Giêsu và thuật lại với Người mọi việc các ông đã làm và đã giảng dạy" rằng"Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút".

Thế nhưng, lời khuyên của Chúa Giêsu dường như không thể thi hành được, như Phúc Âm cho biết, "vì lúc ấy dân chúng kẻ đến người đi tấp nập, đến nỗi các tông đồ không có thì giờ ăn uống. Vậy các ngài xuống thuyền, chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo lánh". 

Tưởng rằng "một nơi vắng vẻ hẻo lánh" có thể giúp hiện thực lời khuyên của Chúa Giêsu nhờ đó các tông đồ được "nghỉ ngơi một chút" ch. Ai dè dân chúng rất tinh ý và còn nhanh chân hơn các vị nữa, như Phúc Âm cho thấy: "Thấy các ngài đi, nhiều người hiểu ý, và từ các thành phố, người ta đi bộ kéo đến nơi đó và tới nơi trước các ngài".

Trước tấm lòng nhiệt thành của dân chúng và lòng khao khát của họ nhất định theo Người như thế, Chúa Giêsu đành chào thua, như Phúc Âm thuật lại: "Lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông, thì động lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều".

Ở đây chúng ta không thấy Thánh ký Marcô thuật lại rằng trong khi "Người dạy dỗ họ nhiều điều" thì các tông đồ cứ việc "nghỉ ngơi một chút" để " giờ ăn uống". Cũng có thể xẩy ra như vậy và cũng có thể không. Chắc là không, vì các tông đồ không thể ngồi ăn với nhau trong khi đó Thày của các vị cũng đói như các vị lại không cùng ăn với các vị. Hay là các tông đồ đã ăn uống trên thuyền trong thời gian bỏ dân chúng mà tìm đến chỗ này.

Tuy nhiên, cũng có thể Chúa Giêsu đã lập lại với các tông đồ câu Người đã nói cùng các vị ở bờ giếng Giacóp khi Người được các vị mời dùng bữa: "Thưa Thày, xin thày dùng một chút" (Gioan 4:31), rằng: "Thày đã có của ăn rồi mà các con không biết... Của ăn của Thày đó là thực hiện ý muốn của Đấng đã sai Thày và hoàn thành công việc của Ngài" (Gioan 4:32,34). 

Đúng thế, Chúa Giêsu đã thực hiện đúng những gì Thánh Kinh dạy cũng là những gì Người đã khẳng định với Satan là tên cám dỗ Người biến đá thành bánh mà ăn rằng: "Con người ta không sống nguyên bởi bánh mà bởi mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra" (Mathêu 4:4; Đệ Nhị Luật 8:3). Quả thực, sự sống của Chúa Giêsu chính yếu là "ý muốn của Đấng đã sai", hay nói cách khác, cái làm cho Chúa Kitô sống hay lẽ sống của Người đây chính là "hoàn thành công việc của Ngài". 

Mà "ý muốn của Đấng đã sai" Người đây là gì, nếu không phải là phần rỗi các linh hồn, như Người đã xác định một cách minh bạch với dân Do Thái sau khi họ tìm gặp Người vì được Người hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất nuôi họ: "Ý muốn của Đấng đã sai Tôi đó là Tôi không được làm mất đi một sự gì Ngài đã trao cho Tôi; trái lại, Tôi phải làm cho nó sống lại trong ngày sau hết"(Gioan 6:39).

Bởi vậy, cho dù có đói bụng, Chúa Giêsu vẫn dư sức để "dạy dỗ họ nhiều điều", nghĩa là dạy dỗ họ một cách lâu dài chứ không mau chóng cho qua để có giờ mà ăn uống. Ở đây chúng ta thấy ưu tiên trước hết và trên hết của Chúa Giêsu đó là dân chúng, thành phần Người được sai đến để tìm kiếm họ và phục vụ họ, nhờ đó, như một vị mục tử của họ, Người có thể dẫn họ về cùng Cha của Người. 

Bản thân và tinh thần của Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai qua thái độ "thấy dân chúng thật đông thì động lòng thương vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều" như là một vị mục tử của dân như thế đã được Bài Đọc 1 hướng tới nơi những lời Chúa phán qua miệng Tiên Tri Giêrêmia sau đây: 

"Này đây, đã tới những ngày Ta gây cho Đavít một mầm giống công chính, mầm giống này sẽ làm vua thống trị, sẽ là người khôn ngoan, thực hiện công lý và đức công bình trên đất nước. Những ngày ấy, Giuđa sẽ được cứu thoát, Israel sẽ được an cư, và chúng sẽ gọi tên Người là 'Chúa công bình của chúng ta'".

Tuy nhiên, thành phần dân chúng được vị Chủ Chiên Giêsu Kitô Thiên Sai này chăn dắt như đàn chiên của Người không phải chỉ riêng dân Do Thái mà bao gồm toàn thể các dân tộc trên thế giới này, những dân tộc cũng được chung hưởng lời hứa với dân Do Thái (xem Khởi Nguyên 22:17-18), nghĩa là bao gồm cả thành phần "những kẻ ở xa", như Bài Đọc 2 nói tới về dự án cứu độ của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô và nhờ Chúa Giêsu Kitô là Con của Ngài, Đấng trở thành điểm hội tụ "bình an" cho cả Dân Do Thái lẫn Các Dân Ngoại

"Anh em thân mến, xưa kia anh em là những kẻ ở xa, thì nay trong Đức Giêsu Kitô, anh em đã nên gần nhờ bửu huyết của Người. Chính Người là sự bình an của chúng ta, Người đã làm cho đôi bên nên một, đã phá đổ bức tường ngăn cách, tiêu diệt sự hận thù trong thân xác của Người, tức là bãi bỏ lề luật cũ với những thể lệ để kiến tạo cả hai nên một người mới, đem lại bình an, dùng thập giá giải hoà hai dân tộc trong một thân thể với Thiên Chúa. Nơi Người, mối thù nghịch đã bị tiêu diệt, và Người đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Và chính nhờ Người mà chúng ta đôi bên được đến gần Cha trong cùng một Thần Trí".

Được chăn dắt bởi chính Vị Chủ Chiên là Con Thiên Chúa, Đấng đã "đến cho chiên được sống và được sự sống viên mãn" (Gioan 10:10), mà từng con chiên và cả đoàn chiên của Người mới có những cảm nghiệm thần linh được diễn tả trong Bài Đáp Ca hôm nay: 

1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. 

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa,) dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Người, đó là điều an ủi lòng con. 

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. 

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. 



Thứ Hai

sự sống chôn vùi

 

Bài Đọc I: (Năm I) Xh 14, 5-18
Đáp Ca: Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6

Phúc Âm: Mt 12, 38-42

 

Theo thói quen cũng là khuynh hướng chung của dân tộc Do Thái là dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn cách riêng trong tất cả mọi dân nước trên thế giới, thì họ là một dân tộc thích điềm thiêng dấu lạ, đến độ, có thể nói, điềm thiêng dấu lạ được coi là nền tảng đức tin của họ, ở chỗ, phải có điềm thiêng dấu lạ mới đáng tin.

Khuynh hướng và thói quen đòi điềm thiêng dấu lạ này nơi dân Do Thái cũng dễ hiểu, bởi vì trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, họ luôn được chứng kiến thấy những điềm thiêng dấu lạ này, được chính Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ tỏ ra để làm cho họ tin vào Ngài, nhất là những lúc họ bị đô hộ hay đầy ải bởi ngoại bang.

Đó là lý do chúng ta thấy Thánh Ký Mathêu trong bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên có sự kiện được ngài ghi nhận rằng: "Khi ấy, có mấy luật sĩ và biệt phái thưa cùng Chúa Giêsu rằng: 'Lạy Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ'". 

Thật ra, chính thành phần xin Chúa Giêsu xem thấy điềm thiêng dấu lạ từ Người và bởi Người để chứng minh Người quả thực là Đấng Thiên Sai này đã từng thấy Người làm phép lạ chữa lành hay trừ quỉ rồi, thế nhưng họ vẫn chưa chịu, vẫn chưa công nhận Người, đến độ, họ còn phủ nhận Người và xuyên tạc quyền phép vô địch của Người nữa, như có lần thấy Người trừ quỉ xong họ liền cho rằng Người đã dùng quyền của quỉ cả mà khu trừ quỉ con (xem Mathêu 12:24).

Vậy thì điềm thiêng dấu lạ mà họ muốn thấy nơi Chúa Giêsu Kitô đây là gì và như thế nào? Phải chăng là việc Người có thể "xuống khỏi thập giá thì chúng ta tin" (Mathêu 27:42). Nhưng Người lại không làm theo ý của họ, bởi vì làm như thế thì Người, dù có thể, hoàn toàn không phải là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa, đến để làm theo ý Cha chứ không phải theo ý của Người (xem Gioan 6:38), mà chỉ là Đấng Thiên Sai của họ và đối với họ, như một vị cứu tinh dân tộc theo chính trị của họ như lòng họ mong muốn mà thôi, chứ không phải là cứu cả họ lẫn các dân tộc trên thế giới này khỏi tội lỗi và sự chết đời đời. 

Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu chỉ hứa ban cho họ một dấu lạ duy nhất, dấu lạ liên quan đến phần rỗi của chung loài người, trong đó bao gồm cả dân do Thái, đó là "dấu lạ tiên tri Giona", ám chỉ cuộc Vượt Qua của Người: "cũng như xưa tiên tri Giona ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy", một cuộc Vượt Qua bao gồm cả cuộc khổ nạn và tử giá vô cùng đau thương và nhục nhã do chính họ gây ra cho Người, và cuộc phục sinh vinh hiển của Người, chứng tỏ Người đã chiến thắng tội lỗi và sự chết của chung con người mắc nguyên tội và của riêng thành phần đã nhúng tay vào cuộc khổ giá của Người nói riêng.

Một khi công ơn cứu chuộc được hoàn tất bởi cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô thì không còn một điềm thiêng dấu lạ nào vĩ đại hơn và quan trọng hơn để cho con người tin mà được cứu độ: "ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cứu rỗi, còn ai không tin thì bị luận phạt" (Marco 16:16), đúng như những gì Chúa Giêsu cũng đã khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay: 

"Tới ngày phán xét, dân thành Ninivê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó, vì họ đã nghe lời tiên tri Giona mà sám hối tội lỗi, nhưng đây có Đấng cao trọng hơn Giona. Đến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó: vì bà từ biên thùy trái đất đã đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon, nhưng đây có Đấng cao trọng hơn Salomon".

Bài đọc 1 hôm nay là những gì chứng thực cho chúng ta thấy hiển nhiên nhận định trên đây về dân Do Thái liên quan đến lý do tại sao họ có thói quen và khuynh hướng thích điềm thiêng dấu lạ. Bởi vì, trong bài đọc này, chúng ta thấy Thiên Chúa đã ra tay cứu họ khỏi lực lượng hùng hậu của quân Ai Cập đang rượt theo để bắt giữ họ lại, không cho họ xuất Ai Cập. 

"'Sao chúng ta lại để dân Israel ra đi, còn ai phục dịch chúng ta nữa?' Vua chuẩn bị xe và đem toàn quân đi với mình. Vua đem theo sáu trăm xe hảo hạng và tất cả loại xe trong xứ Ai-cập, cùng các vị chỉ huy toàn thể quân đội... Lúc Pharaon đến gần, con cái Israel ngước mắt lên thấy quân Ai-cập đuổi theo mình. Họ quá khiếp sợ ... Chúa phán cùng Môsê rằng: 'Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi đưa gậy lên và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon?, chiến xa và kỵ binh của vua ấy'".

Ngay ở trong việc cứu dân Do Thái bằng cách tiêu diệt quân Ai Cập, như được bài đọc 1 năm lẻ hôm nay thuật lại đây, cũng cho thấy Thiên Chúa không phải chỉ cứu dân Do Thái mà cứu cả dân ngoại Ai Cập nữa, không phải chỉ ở chỗ cứu phần xác (dân Do Thái) mà cứu phần hồn của họ, bằng cách làm cho họ, kể cả quân Ai Cập (cho dù có bị chết về phần xác), đều nhận biết Ngài: "Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy".

Bài Đáp Ca hôm nay không được trích từ Thánh Vịnh như thường xẩy ra, mà lại được trích từ chính Sách Xuất Hành, trong đó bao gồm những cảm nhận đầy tin tưởng của dân Do Thái khi họ tận mắt chứng kiến thấy "sự lạ" tỏ tường Thiên Chúa đã ra tay uy quyền cứu họ trong chính lúc họ hoảng loạn kêu trách chính Moisen là vị thiên sai đến giải phóng họ: 

1) Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca mừng Chúa. 

2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và dìm xuống Biển Đỏ các tướng lãnh của ông. 

3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh, lạy Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù. 



Thứ Ba

sự sống thây ma

Bài Đọc I: (Năm I) Xh 14, 21 - 15, 1
Đáp Ca: Xh 15, 8-9. 10 và 12. 17
Phúc Âm: Mt 12, 46-50

Bài Phúc Âm cho Thứ Tư Tuần XVI Thường Niên hôm nay chính yếu chất chứa câu trả lời của Chúa Giêsu về sự kiện "Mẹ Người và anh em Người đang đứng tìm Người ngoài kia". 

Căn cứ vào câu trả lời này nói riêng và thái độ của Người nói chung thì hình như Chúa Giêsu có vấn đề với gia đình của Người, trong đó có cả người mẹ thân yêu nhất của Người trên trần gian này, làm sao ấy. Đáng lẽ, theo thường tình, Người một là nói với người báo tin cho Người rằng xin làm ơn nói với mẹ tôi và anh em tôi chờ tôi một chút nhé, hay là Người xin lỗi thính giả ra ngoài chào gia đình Người một chút rồi trở vào tiếp tục sau cũng được. 

Đằng này Người không làm như thế, trái lại, còn tuyên bố một câu như thể trắng trợn phủ nhận mẹ của Người và anh em của Người nữa trước mặt các môn đệ: "Nhưng Người trả lời kẻ ấy rằng: 'Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?' Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ mà nói: 'Đây là mẹ Ta và là anh em Ta, vì hễ ai làm theo ý Cha Ta trên trời, thì người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy'".

Tuy nhiên, ở đây, qua câu tuyên bố này, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến tình nghĩa chân thật nhất và trọn hảo nhất, đó là tình nghĩa thiêng liêng hơn tình nghĩa máu mủ ruột thịt về phần xác. Người không phủ nhận Người là con của Mẹ Maria về phần xác, người Mẹ duy nhất vừa đồng trinh vừa sinh con bởi Chúa Thánh Thần. Nhưng Người là Thiên Chúa nhập thể hơn là con người được thần linh hóa. Bởi thế, muốn có liên hệ mật thiết và thực sự với Người, chúng ta cần phải hiệp nhất nên một với Người "trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24), bằng việc "làm theo ý Cha trên trời" như Người và với Người

Trong câu tuyên bố đầy khẳng định này về mối liên hệ thiêng liêng giữa Người và những ai muốn kết nghĩa với Người này hay có liên hệ với Người ấy, Chúa Giêsu đồng thời cũng ngấm ngầm khen tặng Mẹ của Người, vì chẳng có ai trên trần gian này sống mật thiết nên một với Người bằng Mẹ của Người, một người mẹ "có phúc vì đã tin"(Luca 1:45), "đã theo con chiên đến những nơi con chiên đến" (Khải Huyền 14:4), đến tận "dưới chân thập giá" của Người (Gioan 19:25).

Với câu tuyên bố này, Chúa Giêsu như muốn nói với các môn đệ nói chung và các tông đồ nói riêng đang hiện diện với Người bấy giờ, thành phần Người giơ tay trên họ mà phán: "Đây là mẹ Ta và anh em Talà thành phần sau này sẽ trở thành "nền tảng của Giáo Hội" (Êphêsô 2:20), hãy noi gương bắt chước Mẹ Maria trong việc "làm theo ý Cha Ta trên trời". 

Câu tuyên bố về tình nghĩa thiêng liêng này của Chúa Giêsu còn bao gồm vai trò của bất cứ ai được hiệp nhất nên một với Người, vai trò "làm mẹ" của Người, dù họ là nam nhân đi nữa. Phải chăng chính vì thế mà phẩm trật trong Giáo Hội toàn là nam nhân nhưng Giáo Hội vẫn đóng vai trò là người mẹ - Mẹ Giáo Hội. 

Đúng thế, theo tu đức Kitô giáo, một khi đã tiến đến giai đoạn hay đạt đến cấp hiệp sinh, tức sau giai đoạn hay sau cấp tu đức khởi sinh và tiến sinh, thì tâm hồn của người Kitô hữu đươc hiệp nhất nên một với Thánh Ý Chúa bằng đức tin tuân phục của họ, đến độ họ có cùng một tâm tưởng, tinh thần, ngôn từ, tác hành và phản ứng như Chúa Giêsu Kitô, khiến cho những ai giao tiếp với họ hay thấy họ hoặc nghe họ đều cảm thấy một Chúa Giêsu Kitô thực sự sống động nơi họ, và từ đó họ nhận biết Người và theo Người. 

Tâm hồn đạt đến cấp độ tu đức hiệp sinh ấy chẳng khác gì như một cành nho dính liền với thân nho là Chúa Giêsu Kitô, để nhờ nhựa sống của thân nho là Thánh Linh của Chúa Kitô hay là tinh thần của Chúa Kitô tác động trong họ, họ trở thành một cành nho sinh muôn vàn hoa trái cho thân nho và từ thân nho (xem Gioan 15:5). 

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, chúng ta thấy chính Thiên Chúa đã ra tay bênh vực thành phần tình nghĩa với Ngài là dân Do Thái, một tình nghĩa do chính Ngài tự động thiết lập với họ qua giao ước với tổ phụ Abraham của họ. Vì họ đã được chính Ngài kết nghĩa thiêng liêng mà ai đụng đến họ là đụng đến Ngài, là phạm đến Ngài, do đó Ngài cần phải ra tay chở che bênh vực họ cho tới cùng. Chẳng hạn Ngài đã tỏ vinh quang của Ngài ra cứu dân Do Thái khỏi lực lượng rất ư là hùng hậu của quân Ai Cập đang rượt theo bắt họ trở về Ai Cập, như được Sách Xuất Hành thuật lại như sau:

"Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: 'Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta'.... Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập, toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ Người".

Cho dù dân Do Thái được Thiên Chúa tự động kết nghĩa với họ và ra tay cứu họ khỏi quân Ai Cập, nhưng không vì thế mà Thiên Chúa bỏ rơi các dân tộc khác, trái lại, Ngài muốn dùng chính dân Do Thái để tỏ mình ra cho các dân ngoại sống chung quanh họ hay phạm đến họ. Như trong trường hợp quân Ai Cập trong bài đọc hôm nay. Cho dù dân Do Thái "thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ", nhưng có thể nói linh hồn của những "xác người" vô tri đó đã được cứu độ, vì trước khi chết họ thực sự đã nhận biết Thiên Chúa của dân Do Thái: "Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta". Nghĩa là họ cũng được Thiên Chúa kết nghĩa vào giây phút cuối đời của họ. 
  
Câu kết của Bài Đọc 1 hôm nay như thế này: "Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này: 'Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì uy linh Người cao cả, Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi'", và bài ca đó được diễn tả trong Bài Đáp ca hôm nay như sau:

1) Gió hận thù của Chúa thổi lên dồn nước đông lại, những dòng nước đứng dựng lên như thể bức tường, sóng cả vực sâu đông đặc giữa biển khơi. Tên địch tự nhủ: "Ta rượt theo và truy nã, ta sẽ tuốt gươm ra, tay ta sẽ lột trần bọn chúng". 

2) Nhưng Chúa đã thổi gió lên, biển đã nuốt trơn quân thù, chúng chìm lỉm như hòn chì giữa nước biển bao la. Chúa giơ tay hữu ra, đất đã nuốt trửng quân thù, vì tình thương Chúa lãnh đạo dân tộc Người giải thoát. 

3) Chúa sẽ đưa họ tới và định cư trên núi thuộc cơ nghiệp Người; ở chính nơi mà Chúa đã chọn làm nhà trú ngụ, lạy Chúa, nơi thánh điện mà tay Chúa đã dựng nên. 




Thứ Tư

sự sống hoang vu

Bài Ðọc I: Xh 19:1-2,9-11,16-20
Ðáp Ca: Tv 78:18-19,23-24,25-26,27-28
Phúc Âm: Mathêu 13:1-9


Nội dung của Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Tư Tuần XVI Thường Niên, đó là dụ ngôn về người gieo giống và các loại hạt giống. Chính Chúa Giêsu sẽ dẫn giải cho biết về ý nghĩa liên quan đến các hình ảnh trong dụ ngôn này trong bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần này.

Ở đây, trong bài Phúc Âm hôm nay, chất chứa chính nội dung của dụ ngôn Chúa dạy, liên quan đến nhân vật chính của dụ ngôn là "người gieo giống ra đi gieo giống". Không biết người gieo giống này có chuyên nghiệp hay không mà đã gieo hạt giống vào những nơi hầu như không đúng ngay chỗ của nó, chẳng hạn gieo ngay vào vệ đường, vào bụi gai hay vào đá sỏi, những nơi không thích hợp với hạt giống tí nào. 

"Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt". 

Hay là người gieo giống này cố ý gieo như vậy. Nếu thế thì người gieo giống ấy không sợ phí hạt giống hay sao? Hay là những hạt giống người gieo giống này muốn gieo dường như đã sắp hư, nên cứ gieo đại vào bất cứ chỗ nào, may ra nó mọc lên, còn không mọc lên cũng chẳng sao, đằng nào cũng như là một cách vứt bỏ đi thôi

Thế nhưng, nếu hạt giống của người gieo giống sắp hư thì tại sao khi chúng được gieo vào đúng chỗ của nó là đất tốt thì lại sinh hoa trái tùy theo tầm vóc của nó chứ: "Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. Ai có tai thì nghe".


Như thế, hạt giống được mang gieo đây toàn là hạt giống tốt, nhưng không phải hễ là hạt giống tốt thì bất cứ chỗ nào nó cũng mọc lên được đâu, mà phải ở những nơi đất tốt mà thôi. Đúng thế, nếu sự sống ở nơi hạt giồng, đúng hơn là ở nơi nhân của hạt giống, thì để cho sự sống nơi hạt giống ấy nẩy mầm và phát triển phải cần đến môi trường thích hợp cho nó là đất tốt, một môi trường dù có tốt mấy chăng nữa nếu không có hạt giống cũng chẳng sinh hoa kết trái gì, cũng chỉ là một mảnh đất mầu mở nhưng hoang vu để rồi từ từ sẽ thành cằn cỗi.


Nếu hạt giồng cần phải được gieo đây tiêu biểu cho sự sống thì có thể hiểu được một phần nào lý do tại sao hạt giống lại được gieo cả vào những chỗ không thích hợp với nó. Bởi vì, nếu Thiên Chúa dựng nên con người trên trái đất này là để "làm chủ cá biển chim trời, gia súc, và tất cả mọi loài dã thú cùng tất cả mọi loài bò sát trên mặt đất" (Khởi Nguyên 1:26) và "canh tác và chăm sóc" (Khởi Nguyên 2:15) vườn địa đường, thì có nghĩa là Ngài muốn cho trái đất này trở thành một nơi tràn đầy sự sống.


Bởi thế, theo ý định tạo dựng của Ngài, càng những chỗ cằn cỗi lại càng cần đến sự sống cho phì nhiêu xanh tươi, như Tiên Tri Isaia đã từng nói đến hình ảnh "sa mạc và đất khô cằn trổ nhiều bông hoa" (35:1-2), "các suối nước sẽ vọt lên trong sa mạc" (35:6), và "Các sa mạc của nó (Sion) Ngài sẽ biến thành Địa Đường và đất hoang của nó thành ngôi vườn của Chúa"(51:3).

Trong bài đọc thứ 1 cho năm lẻ hôm nay chúng ta cũng thấy cảnh tượng ở một chốn sa mạc hoang vu cằn cỗi đã tự nhiên trở thành một nơi tràn đầy sự sống thần linh khi Thiên Chúa cố ý tỏ mình ra ở đấy trước dân của Ngài, qua việc ban sự sống về phần xác cho họ bao gồm manna và thịt chim cút, để nhờ đó họ tin vào Ngài mà được sự sống thần linh vô cùng chân thật và trọn hảo, như Sách Xuất Hành thuật lại như sau:

"Trong khi ông Aaron nói với toàn thể cộng đồng con cái Israel, họ quay mặt về phía sa mạc, và kìa, vinh quang Chúa xuất hiện trong đám mây. Chúa phán với ông Moisen: 'Ta đã nghe tiếng con cái Israel kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa, Thiên Chúa của các ngươi'. Thật vậy, buổi chiều, chim cút bay đến rợp cả trại. Và buổi sáng thì có lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan đi thì trên mặt hoang địa, có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Khi con cái Israel thấy thế, họ liền hỏi nhau: 'Manhu?' Nghĩa là: 'Cái gì đây?' Vì họ không biết đó là cái gì. Ông Moisen bảo họ: 'Đó là bánh Chúa ban cho anh em làm của ăn!'"

Sa mạc vẫn tiếp tục trở thành nơi tràn đầy sự sống khi Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình ra cho dân của Ngài trong cuộc hành trình sa mạc 40 năm trường của họ. Bài Đáp Ca hôm nay cho thấy Thiên Chúa đã chăm sóc cho dân của Ngài ra sao về cả sự sống phần xác của họ trong cuộc hành trình vượt qua sa mạc vào Đất Hứa này:

1- Họ chủ tâm thách thức cả Chúa Trời, đòi được ăn cho vừa sở thích. Họ kêu trách Thiên Chúa rằng trong sa mạc này,  liệu Chúa Trời có thể dọn gì cho ta ăn?

2- Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm, lại truyền mở rộng cánh thiên môn; Người khiến man-na tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.


3- Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần, Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực. Trên trời cao, Người giục gió đông thổi tới, dùng sức mạnh đưa ngọn gió nam về.


4- Người cho mưa thịt xuống nhiều như bụi, chim chóc ê hề như cát đại dương; Người cho rớt vào ngay doanh trại, chung quanh lều dân ở.


 


Thứ Năm


sự sống ẩn hiện 


Bài Đọc I: (Năm I) Xh 19, 1-2. 9-11. 16-20b
Đáp Ca: Đn 3, 52. 53. 54. 55. 56
Phúc Âm: Mt 13, 10-17

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Năm Tuần XVI Thường Niên, tiếp ngay sau bài phúc âm hôm qua, liên quan đến dụ ngôn người gieo giống. Hôm qua là chính nội dung của dụ ngôn người gieo giống, hôm nay là lý do tại sao Chúa Giêsu lại sử dụng dụ ngôn mà giảng dạy cho dân chúng: "Khi ấy, các môn đệ đến gần thưa Chúa Giêsu rằng: 'Tại sao Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ?'" 

Như thế có nghĩa là Chúa Giêsu không bao giờ dùng dụ ngôn mà nói với các môn đệ của Người, mà chỉ dùng dụ ngôn để nói với dân chúng thôi. Lý do được chính Chúa Giêsu cho biết rất đơn giản như sau: "Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết". 

Vậy thì phải chăng "mầu nhiệm Nước Trời" đây là chính bản thân Chúa Giêsu Kitô? "Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời",nghĩa là đã được Người tuyển chọn ở với Người nên hiểu Người hơn nhờ được giao tiếp trực tiếp với Người bằng mắt thấy, tai nghe, tay sờ v.v. (xem 1Gioan 1:1), "còn họ thì không cho biết", vì không được gần gũi và giao tiếp với Người như các tông đồ.

Đó là lý do ở cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã xác nhận về diễm phúc của các tông đồ là thành phần được Người tuyển chọn để ở với Người (xem Marco 3:13), hơn hẳn chẳng những thành phần dân chúng mà còn hơn cả các vị tiên tri thời xưa nữa: 

"Phần các con, phúc cho mắt các con vì được thấy; và phúc cho tai các con vì được nghe. Quả thật, Thầy bảo các con: Nhiều vị tiên tri và nhiều đấng công chính đã ao ước trông thấy điều các con thấy, mà không được thấy; mong ước nghe điều các con nghe, mà không được nghe".

Tuy nhiên, Chúa Kitô đến trần gian là để tỏ mình ra cho chung nhân loại, đặc biệt là dân Do Thái trong thời lịch sử của Người bấy giờ, mà Người cũng cần phải tỏ mình ra cho họ nữa, bằng những cách thế thích hợp với hoàn cảnh sống của họ, với tầm mức hiểu biết bình dân của họ nói chung, chẳng hạn như dùng dụ ngôn bao gồm những hình ảnh cụ thể trong đời sống để mạc khải cho họ thấy một phần nào mầu nhiệm Nước Trời. 

Cầu Chúa Giêsu nói "Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ: vì họ nhìn mà không thấy, lắng tai mà không nghe và không hiểu chi hết" nghĩa là gì, nếu không phải khi được giao tiếp với Người một cách nào đó, ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó, dân chúng nói chung, nhất là thành phần luật sĩ và biệt phái giả hình nói riêng, không hiểu được Người vốn là Đấng tự bản chất vô cùng siêu việt, trong khi đó họ lại cứng lòng thì làm sao có thể chấp nhận được Người

"Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai, và nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành". Chính vì thế mà Chúa Giêsu cần phải sử dụng dụ ngôn có tính cách bình dân cho họ hiểu phần nào thực tại của Nước Trời và về Nước Trời

Trong Cựu Ước, cho dù Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho dân Do Thái của Ngài, nhưng chỉ bằng nhiều cách khác nhau qua thiên nhiên tạo vật cũng như qua con người trần gian, bao gồm cả những dấu lạ điềm thiêng, nhất là qua các vị tiên tri (xem Do Thái 1:1). Thế nhưng, "đến thời sau hết, Ngài đã nói với chúng ta qua Con của Ngài" (Do Thái 1:2) là Chúa Giêsu Kitô. So với Chúa Giêsu Con của Thiên Chúa, thì các dấu lạ điềm thiêng hay các vị tiên tri chỉ là bóng mờ, chưa hoàn toàn rõ nét về Ngài và chưa phải " hiện thân của bản thể Cha" (Do Thái 1:3). 

Trong bài đọc thứ 1 cho năm lẻ hôm nay chúng ta cũng thấy cảnh tượng Thiên Chúa tỏ mình ra cho chung dân Do Thái và cho riêng Moisen, qua điềm thiêng dấu lạ, để dân có thể tin vào Ngài qua trung gian Moisen được Ngài tuyển chọn để giải phòng họ khỏi Ai Cập và dẫn họ về Đất Hứa, và vì thế có thể nói, Moisen là hình ảnh ám chỉ hay là một "dụ ngôn" về một Đức Kitô Thiên Sai được sai đến để giải phóng toàn thể nhân loại, bao gồm cả dân Do Thái, khỏi tội lỗi và sự chết:

"Chúa phán cùng Moisen rằng: 'Ngay bây giờ Ta đến cùng ngươi trong đám mây dày đặc, để dân chúng nghe Ta nói với ngươi và tín nhiệm ngươi mãi mãi'... Đến ngày thứ ba, ngay từ sáng, có sấm chớp, mây mù dày đặc trên núi, và có tiếng tù và thổi rất mạnh. Toàn dân trong trại đều run sợ. Ông Moisen đưa dân ra khỏi trại để nghênh đón Thiên Chúa; họ đứng dưới chân núi. Cả núi Sinai nghi ngút khói, vì Chúa ngự trong đám lửa mà xuống; khói bốc lên như khói lò lửa và cả núi rung chuyển mạnh. Tiếng tù và mỗi lúc một tăng lên rất mạnh".

Bài Đáp Ca hôm nay, không được trích từ Thánh Vịnh mà là từ Sách Tiên Tri Đaniên, trong đó chất chứa một tâm tình tiêu biểu của chung Dân Thái về cảm nghiệm thần linh của họ trước những gì Thiên Chúa làm cho họ vì danh thánh của Ngài, đến độ họ không thể không lên tiếng dâng lời cảm tạ ngợi khen chúc tụng Ngài, như sau:

1) Lạy Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng, đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời. Chúc tụng thánh danh vinh quang Chúa, đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời. 


2) Chúa đáng chúc tụng trong đền thánh vinh quang Chúa, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời. 


3) Chúc tụng Chúa ngự trên ngai vương quyền Chúa, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời. 


4) Chúc tụng Chúa, Đấng nhìn thấu vực thẳm và ngự trên các Thần Vệ Binh, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời. 


5) Chúc tụng Chúa ngự trên bầu trời, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời. 




Thứ Sáu

sự sống gieo vãi

Bài Đọc I: (Năm I) Xh 20, 1-17

Đáp Ca: Tv 18, 8. 9. 10. 11

Phúc Âm: Mt 13, 18-23

Sau khi nói về dụ ngôn người gieo giống, qua bài Phúc Âm Thứ Tư hôm kia, và lý do tại sao Người dùng dụ ngôn mà giảng dạy cho dân về Nước Trời, qua bài Phúc Âm Thứ Năm hôm qua, hôm nay, qua bài Phúc Âm cho Thứ Sáu Tuần XVI Thường Niên, Chúa Giêsu giải thích về ý nghĩa của những gì Người nói trong dụ ngôn.

Ở đây, chúng ta nên lưu ý một điểm rất đặc biệt, đó là cho dù các tông đồ đã được trực tiếp liên hệ với Chúa Giêsu như "Nước Trời ở giữa các con" (Luca 17:21), các vị vẫn không thể nào hiểu được dụ ngôn về Nước Trời của Người (xem Marcô 4:10,13), và vẫn cần phải được Người đích thân dẫn giải cho biết liên quan đến các hình ảnh ám chỉ khác nhau được Người sự dụng trong dụ ngôn. 

"Vậy các con hãy nghe dụ ngôn về người gieo giống: Kẻ nào nghe lời giảng về Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp lấy điều đã gieo trong lòng nó: đó là kẻ thuộc hạng gieo dọc đường. Hạt rơi trên đá sỏi là kẻ khi nghe lời giảng, thì tức khắc vui lòng chấp nhận, nhưng không đâm rễ sâu trong lòng nó: đó là kẻ nông nổi nhất thời, nên khi cuộc bách hại, gian nan xảy đến vì lời Chúa, thì lập tức nó vấp ngã. Hạt rơi vào bụi gai, là kẻ nghe lời giảng, nhưng lòng lo lắng việc đời, ham mê của cải, khiến lời giảng bị chết ngạt mà không sinh hoa kết quả được. Hạt gieo trên đất tốt, là kẻ nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh hoa kết quả, đến nỗi có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi".

Qua những dẫn giải của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta không thấy Người nói đến kẻ gieo giống là ai và hạt giống là gì, nhưng chúng ta có thể suy ra nếu hạt giống chính là Lời Chúa như Người đã dẫn giải trong Phúc Âm Thánh Luca (8:11), thì người gieo giống đây ám chỉ đến chính Chúa Giêsu. 

Nếu Lời Chúa là hạt giống, thì có cái hay ở đây là trước khi chưa được gieo xuống còn là chính lời Chúa hay mạc khải thần linh, thế nhưng một khi đã được gieo xuống rồi thì hạt giống ấy liền trở thành người nghe Lời Chúa, như chính Người cho biết trong bài Phúc Âm: "Hạt rơi dọc đường là kẻ... Hạt rơi trên đá sỏi là kẻ ... Hạt rơi vào bụi gai là kẻ... Hạt gieo trên đất tốt là kẻ..." .

Tại sao Lời Chúa khi gieo xuống lại biến thành người nghe Lời Chúa như thế, nếu không phải vào lúc ban đầu, hạt giống Lời Chúa hoàn toàn lệ thuộc vào môi trường nẩy mầm và phát triển là người nghe, đến độ hạt giống tiêu biểu cho sự sống và chất chứa sự sống sẽ bị thui chột đi một khi hạt giống Lời Chúa không gặp được môi trường thích hợp của mình. Tuy nhiên, một khi gặp được môi trường thích đáng với mình, hạt giống Lời Chúa sẽ trở thành chủ động, sẽ làm cho môi trường tự mình hoang trống có thể nhờ hạt giống mà phát triển sự sống.

Bốn loại người đón nhận hạt giống Lời Chúa được Chúa Giêsu liệt kê trong dụ ngôn và được Người đích thân dẫn giải đó là thành phần: 1- thính giả vệ đường, 2- thính giả sỏi đá, 3- thính giả bụi gai, và 4- thính giả đất tốt. Cũng có thể nói đây là 4 thái độ trong việc đón nhận Lời Chúa, đón nhận mạc khải thần linh, đón nhận Chúa Giêsu Kitô là chính Lời Chúa và là tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa.

Chính vì hạt giống một khi được gieo xuống đất là thành phần thính giả mà hạt giống cần phải được gieo vãi khắp nơi, kể cả ở vệ đường, ở đá sỏi, ở bụi gai, tức là cho hết mọi hạng người, không trừ một ai, kẻo khi cần phải trả lẽ trước mặt Quan Án Chí Công trong cuộc phán xét riêng và chung thẩm, thành phần thính giả vệ đường hay thính giả sỏi đá hoặc thính giả bụi gai không thể nại lý rằng họ chẳng nghe biết gì để khỏi bị luận phạt.

Căn cứ vào những gì Chúa Giêsu dẫn giải về 4 loại thính giả nghe Lời Người hay được Người tỏ mình ra cho, thì thành phần thính giả vệ đường là thành phần hững hờ nghe Lời Chúa hay hững hờ nghe Chúa Kitô; thành phần thính giả sỏi đá là thành phần nông cạn hiểu Lời Chúa hay nông cạn hiểu Chúa Kitô; thành phần thính giả bụi gai là thành phần lơ là sống Lời Chúa hay lơ là sống Chúa Kitô, và thành phần thính giả đất tốt là thành phần biết đáp ứng Lời Chúa hay biết đáp ứng Chúa Kitô.

Lời Chúa được diễn tả qua lề luật của Chúa, nên có thể nói lề luật của Chúa cũng là hạt giống được gieo nơi lương tâm của con người, mà đã là người ai cũng trực giác thấy những gì tự bản chất là xấu cần phải tránh, như gian dâm, giết người, lừa đảo, trộm cướp v.v., căn cứ vào nguyên tắc đừng làm gì cho tha nhân khi không muốn họ làm cho mình, và tự những gì tự bản chất là tốt cần phải làm, chẳng hạn làm phúc bố thí, bác ái vị tha, hy sinh phục vụ v.v., căn cứ vào nguyên tắc hãy làm cho người khác những gì mình muốn họ làm cho mình. 

Tóm lại, 2 nguyên tắc trở thành cốt lõi của lề luật liên quan đến tha nhân đó là hãy yêu người như mình. Tuy nhiên, nếu con người vô thần thì họ sẽ chẳng coi ai ra gì. Bởi thế, con người chỉ thực hành được qui luật vàng là ái nhân như kỷ - yêu người như thể thương thân ấy một khi họ nhận biết Đấng Tối Cao, Đấng thưởng phạt công minh, nhất là biết kính sợ Thiên Chúa là Cha trên trời trọn lành trên hết mọi sự với tất cả con người của họ.

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, cũng như trong các ngày tới, chúng ta thấy các giới luật nói chung và thập điều nói riêng bắt đầu được hình thành, do chính Thiên Chúa ban cho dân của Ngài qua Moisen. Bài Đọc 1 hôm nay bao gồm bản thập giới của Do Thái giáo cũng như của Kitô giáo, nhắm đến cả Thiên Chúa (3 giới răn đầu tiên) lẫn tha nhân (7 giới răn còn lại), thứ tự như sau (các con số là do người viết phân định và kèm theo từng câu trong 10 điều răn vẫn quen đọc cho rõ ràng hơn):

"Ta là Thiên Chúa ngươi, Đấng đã dẫn dắt ngươi ra khỏi vùng Ai-cập, khỏi nhà nô lệ".

1- Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mền Người trên hết mọi sự: "Ngươi không được thờ thần nào khác trước mặt Ta, đừng chạm trổ tượng gỗ, hay vẽ hình các vật trên trời, dưới đất, trong nước, dưới lòng đất. Đừng thờ lạy và phụng sự các hình tượng ấy, vì Ta là Chúa, Thiên Chúa ngươi, Chúa hùng mạnh, Chúa ganh tị, trừng phạt con vì tội lỗi cha, cho đến ba bốn đời, những kẻ ghét Ta; Ta tỏ lòng nhân lành đến ngàn đời đối với những ai kính mến Ta, và tuân giữ các giới răn Ta". 

2- Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ: "Ngươi đừng lấy danh Chúa, Thiên Chúa ngươi, mà lường gạt, vì Chúa không thể không trừng phạt kẻ nào lấy danh Người mà lường gạt. Ngươi hãy nhớ thánh hoá ngày Sabbat". 

3- Giữ ngày Chúa Nhật: "Ngươi làm lụng và làm tất cả mọi việc trong sáu ngày, còn ngày thứ bảy là ngày Sabbat, thì thuộc về Chúa, Thiên Chúa ngươi; trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi tớ nam nữ, súc vật, ngoại kiều trọ trong nhà ngươi, tất cả không được làm việc gì. Vì trong sáu ngày, Chúa đã tạo dựng trời, đất, biển, và tất cả mọi vật trong đó, rồi Người nghỉ trong ngày thứ bảy: cho nên Chúa chúc phúc và thánh hoá ngày Sabbat"

4- Thảo kính cha mẹ: "Ngươi hãy tôn kính cha mẹ, để ngươi được sống lâu dài trong xứ mà Thiên Chúa sẽ ban cho ngươi".

5- Chớ giết người: "Ngươi chớ giết người"; 

6- Chớ làm sự dâm dục: "chớ phạm tội ngoại tình"; 

7- Chớ lấy của người"chớ trộm cắp"; 

8- Chớ làm chứng dối: "chớ làm chứng dối hại anh em mình"; 

9- Chớ muốn vợ chồng người và 10- Chớ tham của người: "chớ tham lam nhà của kẻ khác, chớ ham muốn vợ bạn hữu, tôi tớ nam nữ, bò, lừa và bất cứ vật gì của bạn hữu".

Bài Đáp Ca hôm nay bày tỏ cảm nhận về luật pháp và mệnh lệnh của Chúa cùng với các tác dụng của nó nơi con người tuân giữ và tôn sợ Chúa:

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. 

 

2) Giới răn Chúa chánh trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. 

 

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết Chúa chân thực, công minh hết thảy. 


4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng; ngọt hơn mật, và hơn cả mật chảy tự tàng ong. 





Thứ Bảy

sự sống đối chọi


Bài Ðọc I: 2 Cr 4, 7-15
Ðáp Ca: Tv 125, 1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6
Phúc Âm: Mt 20, 20-28

Thánh Giacôbê là anh của thánh Gioan, con ông Zêbêđê, ngài là bạn đồng nghiệp với thánh Phêrô và Anrê, sinh sống bằng nghề chài lưới trên bờ biển hồ Giênêsareth. Khi đi ngang qua, Chúa Giêsu trông thấy hai anh em ngài đang vá lưới với cha dưới thuyền, Chúa liền gọi và lập tức hai ngài liền bỏ cha mà theo Chúa. Mặc dù lòng nhiệt thành có pha chút tham vọng trần thế, bằng chứng là hai anh em ngài đã cùng mẹ đến xin được ngồi bên tay tả và bên hữu Chúa nhưng ơn sủng của Chúa đã cải tạo khiến ngài sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Thánh nhân trở nên kẻ thân cận của Chúa, cùng với thánh Phêrô và Gioan. Ngài đã chứng kiến việc con gái ông Zairô sống lại, việc Chúa biến hình trên núi Taborê, và cơn hấp hối của Chúa trong vườn cây Dầu. Ngài đã được vinh dự là vị tông đồ đầu tiên hiến mạng sống cho Tin Mừng. Khoảng năm 43 hay 44, vào trước ngày lễ Phục Sinh, vua Herođê Agrippa I đã xử trảm ngài đúng như lời Chúa Giêsu đã phán: "Con sẽ uống chén đắng của Ta".

Từ thế kỷ IX, người ta tôn kính mồ của ngài tại Compostelle và lòng tôn kính ấy đã lan tràn khắp nơi trên thế giới.


Xin chia sẻ PVLC theo ngày trong tuần cho liên tục, vì có năm không trùng với Lễ Kính Thánh Tông Đồ Giacôbê.


Bài Ðọc I: Ex 24,3-8
Đáp Ca: Tv 50:1b-2,5-6,14-15
Phúc Âm: Mt 13,24-30

Bài Phúc Âm cho Thứ Bảy Tuần XVI Thường Niên hôm nay tiếp ngay sau 3 bài Phúc Âm của 3 hôm trước, liên quan đến các dụ ngôn Chúa Giêsu giảng dạy về mầu nhiệm Nước Trời, các dụ ngôn sẽ được tục tiếp cho tới tuần sau đó nữa.

Dụ ngôn trong bài Phúc Âm hôm nay, về nội dung, như là một đoạn Phúc Âm phụ thêm cho dụ ngôn về người gieo giống cách đây 3 hôm. Bởi vì, cả hai đều về "người gieo giống", thế nhưng ở bài Phúc Âm hôm Thứ Tư về "người gieo giống ra đi gieo giống", còn hôm nay về "người kia gieo giống tốt trong ruộng mình". 

Nếu trong dụ ngôn về "người gieo giống ra đi gieo giống" là dụ ngôn liên quan đến mầu nhiệm nhập thể và vượt qua của Người cũng như đến 4 thành phần đón nhận Người, thì dụ ngôn về "người kia gieo giống tốt trong ruộng mình" hôm nay liên quan đến mầu nhiệm quan phòng thần linh và mầu nhiệm cánh chung trong việc để cho kẻ thù gieo cỏ lùng vào cùng một thửa ruộng với lúa tốt cho đến mùa gặt. 

"Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: 'Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?' Ông đáp: 'Kẻ thù đã làm đó!' Đầy tớ nói: 'Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?' Ông đáp: 'Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi'."

Trong bài Phúc Âm vào Thứ Ba tuần tới, Chúa Giêsu sẽ dẫn giải ý nghĩa liên quan đến các hình ảnh ám chỉ trong dụ ngôn "người kia gieo giống tốt trong ruộng mình" nàyỞ đây, căn cứ vào những gì được Chúa Giêsu nêu lên trong dụ ngôn, chúng ta có thể kết luận mấy điều chính yếu sau đây:

1- Thiên Chúa chỉ làm điều tốt: "người kia gieo giống tốt trong ruộng mình", còn điều xấu là do kẻ thù của Ngài là ma quỉ gây ra: "kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất".


2- Thiên Chúa là Đấng quan phòng thần linh biết hết mọi sự nhưng Ngài cứ để xẩy ra, như thể "mọi người đang ngủ" chẳng hay biết gì, ai muốn làm gì thì làm, dù có ý gây tác hại cho thửa ruộng của Ngài


3- Sở dĩ Thiên Chúa cố ý để xẩy ra tình trạng hay hiện tượng "khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện" là vì Ngài muốn mưu ích cho lúa tốt bằng chính sự hiện diện và sức lấn át dữ dội đầy ác liệt của cỏ lùng: "sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa".


4- Cho dù cỏ lùng do ma quỉ gieo vào thửa ruộng lúc tốt của Thiên Chúa để phá hoại ruộng lúa của Ngài, nhưng cuối cùng chúng chẳng những không thành công mà còn bị trừng phạt xứng đáng nữa: "Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi".

Như thế, ý nghĩa chính yếu của dụ ngôn "người kia gieo giống tốt trong ruộng mình" đây đó là Thiên Chúa là chủ tể của lịch sử loài người - những gì Ngài đã muốn hoàn thành nơi con người và cho con người theo dự án cứu độ của Ngài, một dự án đã được Chúa Kitô hoàn tất bằng công cuộc cứu độ của Người, tất cả sẽ được nên trọn ở mầu nhiệm cánh chung.

Có thể áp dụng ý nghĩa của dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa tốt ở bài Phúc hôm nay vào con người và đời sống của Kitô hữu chúng ta. Ở chỗ, trong bản thân mỗi Kitô hữu chúng ta, như thửa ruộng của Chúa, đã được gieo giống tốt là Thánh Sủng cùng với 3 Thần Đức tin cậy mến. Thế nhưng, đồng thời cho dù đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy Tái Sinh, Kitô hữu vẫn còn đam mê nhục dục và tính mê nết xấu là các mầm mống của nguyên tội, như cỏ lùng đã được ma quỉ gieo vào bản tính của con người sau khi con người đã không còn sống trong tình ttrạng công chính nguyên thủy nữa.   

Bởi thế, thửa ruộng tâm linh Kitô hữu vừa có lúa tốt là Thánh Sủng cùng với 3 Thần Đức vừa có cỏ lùng là đam mê nhục dục cùng với tính mê nết xấu, thậm chí cỏ lùng bao giờ cũng tự nhiên nhiều hơn và mạnh hơn lúa tốt, do đó con người Kitô hữu mới hay dễ dàng và mau chóng sa ngã phạm tội hơn là sống thánh thiện phúc đức với tư cách là những đứa con thừa nhận của Thiên Chúa. 

Trong khi đó Thiên Chúa lại muốn để xẩy ra tình trạng đối nghịch và đối chọi nhau gay go nguy hiểm này như vậy nơi con người, để họ nhờ đó sống đức tin, bằng cách luôn cảm thấy mình hèn hạ tội lỗi và bất lực bất xứng mà tin tưởng cậy trông phó thác vào Ngài hơn nữa như một trẻ nhỏ theo lòng mong ước của Ngài để nhờ đó Ngài có thể tỏ mình ra cho họ, biến đổi họ cùng chiếm đoạt họ và sống trong họ, nghĩa là để cho Thánh Sủng cuối cùng sẽ toàn thắng nơi con người của họ, như một Chúa Kitô tử nạn bởi sự ác nhưng phục sinh bởi quyền năng thần linh vậy.

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cho thấy Thiên Chúa, qua trung gian Moisen, đang "gieo giống tốt trong ruộng của mình" là dân Do Thái được Ngài tuyển chọn, bằng cách nhắc lại cho dân về giao ước của Ngài và rẩy máu giao ước trên họ: 

"Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Israel. Rồi ông sai các thanh niên trong dân Israel dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Chúa. Ông Moisen lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: 'Tất cả những gì Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo'. Bấy giờ, ông Moisen lấy máu rảy lên dân và nói: 'Đây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này'". 

Bài Đáp Ca hôm nay cũng cho thấy thành phần lúa tốt được Thiên Chúa gieo vào trong thửa ruộng dân tuyển chọn của Ngài đã nhận biết Ngài và dâng lên Ngài hy lễ là tất cả tấm lòng tri ân cảm tạ Ngài. 

1- Chúa là Thượng Đế chí tôn, nay Người lên tiếng, từ khắp cõi đông tây, Người triệu tập hoàn cầu. Tại Sion, cảnh sắc tuyệt vời, Thiên Chúa hiển minh,


2- "Hãy triệu tập cho Ta những người trung hiếu, những người đã giao ước với Ta bằng hy lễ." Các tầng trời tuyên bố Chúa công minh, vì chính Người sẽ đứng ra xét xử.


3- "Hãy tiến dâng Thiên Chúa lời tạ ơn làm hy lễ, giữ trọn điều khấn nguyền cùng Đấng Tối Cao. Hãy kêu cầu Ta trong ngày cùng khốn, Ta sẽ giải thoát, và ngươi sẽ làm hiển danh Ta."