SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

"Thày là Sự Sống"

 

Mục Tử Thần Linh

 

 

Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần IV Phục Sinh

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

   Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Phục Sinh sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh

(cho các Chúa Nhật)

 

Nếu "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25) là chủ đề chính yếu của toàn Mùa Phục Sinh, trong đó, chủ đề "Thày là sự sống lại" cho nguyên Tuần Bát Nhật Phục Sinh là thời điểm 8 ngày có các bài Phúc Âm được Giáo Hội cố ý chọn đọc hoàn toàn liên quan đến các lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra mà thôi, thì chủ đề "Thày là sự sống" là chủ đề cho những ngày còn lại, bao gồm cả Chúa Nhật lẫn ngày trong tuần.

 

Vậy chủ đề "Thày là sự sống" ở Phụng Vụ Lời Chúa cho cả Chúa Nhật lẫn các ngày trong tuần lễ Thứ IV của Mùa Phục Sinh như thế nào, nếu không phải, so sánh với nội dung của phụng vụ Lời Chúa cho các tuần trước và các tuần còn lại, thì nội dung của Phụng Vụ Lời Chúa cho Tuần IV Phục Sinh này cho thấy chủ đề "Thày là sự sống" liên quan đến chiều kích Mục Tử Thần Linh.

 



Chúa Nhật IV Phục Sinh: S
ự Sống - Mục Tử Thần Linh

Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Phục Sinh bao giờ cũng được Giáo Hội chọn làm Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, và vì thế càng làm sáng tỏ chủ đề "Thày là sự sống" trong Mùa Phục Sinh sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh. Trong Chúa Nhật này, cả 3 chu kỳ phụng vụ A-B-C đều được trích từ Phúc Âm Thánh Gioan, đoạn 10, về Vị Mục Tử Nhân Lành thật lòng yêu thương chiên của mình và muốn cho chiên được sự sống và là một sự sống viên mãn (Năm A), đến độ dám hiến mạng sống của mình cho chiên (Năm B), để chiên có thể được sự sống đời đời trường sinh bất tử (Năm C).
Năm A 
Sự Sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh thật lòng yêu thương chiên của mình và muốn cho chiên được sự sống và là một sự sống viên mãn. 
Phúc Âm (Gioan 10:1-10): "Tôi đến cho chiên được sự sống và được sống dồi dào";




Bài đọc 1 
(Tông Vụ 2:14a, 36-41) - Sự sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh là vì: "Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu mà anh em đã đóng đinh lên làm Chúa và làm Đức Kitô".
Bài đọc 2 (1Phêrô 2:20b-25) - Sự sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh là vì: "Người là Đấng không hề phạm tội... chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá". 

 

Năm B 
Sự Sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh đã yêu thương chiên của mình đến độ dám hiến mạng sống của mình cho chiên
Phúc Âm (Gioan 10:11-18): "Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống mình vì chiên... Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta".

 

 

 


Bài đọc 1 (Tông Vụ 4:8-12) - Sự sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh là vì: "Chính Người là viên đã đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Đá Góc Tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác".

Bài đọc 2 
(1Gioan 3:1-2) - S
ự sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh là vì: "Tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta khiến chúng ta được gọi là con cái Thiên Chúa và thực sự là thế". 

 

 

Năm C 
Sự Sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh đến để cho chiên của mình có thể được sự sống đời đời trường sinh bất tử.

Phúc Âm 
(
Gioan 10:27-30): "Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: 'Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta. Ðiều mà Cha Ta ban cho Ta, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một'".



Bài đọc 1 
(Tông Vụ 13:14,43-52) - Sự sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh qua thành phần tông đồ thừa sai như Thánh Phaolô và Barnabê: "Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất".
Bài đọc 2 (Khải Huyền 7:9,14b-17) - Sự sống xuất phát từ vị Mục Tử Thần Linh cho những ai chiến thắng: "Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy nó trắng trong máu Con Chiên".

Hình ảnh chiên được Chúa Kitô nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, cũng như trong Tuần IV Phục Sinh, là hình ảnh của thành phần được cứu rỗi. Bởi vì, chiên được liệt kê ở bên phải (khác với dê ở bên trái) của Vị Thẩm Phán Chung Thẩm (xem Mathêu 25:33), và chiên cũng là hiện thân của "Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian" (Gioan 1:29), một con chiên hiền lành bị dẫn đi sát tế (xem Isaia 53:7; 1Phero 1:19-20).

Chiên là hiện thân của Vị Mục Tử nhân lành vì như chủ chiên của nó bị mang đi sát tế thế nào thì nó cũng là thành phần bị sát hại như thế, như nó đã được giặt áo của mình trong máu của Con Chiên, mnhư Bài Đọc 2 hôm nay cho thấy (xem Khải Huyền 7:14). Chiên có một bản tính hiền lành dễ dạy trước sự lành, bảo sao nghe vậy: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta", nhưng lại hoàn toàn chịu thua trước kẻ dữ, ở chỗ không phản ứng lại với kẻ dữ là những con sói rừng cắn xé nó.

Thế nhưng, chính vì chiên của Chúa Kitô là thành phần được cứu rỗi, thành phần được Người hằng quan tâm lưu ý và yêu thương cùng chăm sóc: "Ta biết chúng", nên "không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta"; hơn nữa, sở dĩ Người "biết chúng" những con chiên rất ư là cao trọng và cao quí của Người, như chính sinh mạng của Người, bởi chúng từ Cha mà đến: "Ðiều mà Cha Ta ban cho Ta, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Ta".

Và chính vì những gì của Cha cũng chính là của Người: "Ta và Cha Ta là một", nên Người không thể nào để mất một con nào: "Tôi đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư vong" (Luca 19:10), trái lại, Người phải tìm kiếm cho bằng được con chiên lạc cuối cùng (xem Luca 15:4-5), cho dù có phải thí mạng sống mình vì chiên (xem Gioan 10:11).

 

 

 

Thứ Hai

 

Phúc Âm (Gioan 10:1-10): 

 

 

Chủ đề "Thày là sự sống" theo chiều kích Mục Tử Thần Linh cho Tuần IV Phục Sinh chẳng những được tỏ hiện rõ ràng ở bài Phúc Âm Chúa Nhật, cũng được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, bài phúc âm cho cả ba chu kỳ phụng vụ A, B và C, mà còn cho cả các bài đọc ở các ngày thường trong tuần lễ này nữa. Rõ ràng nhất là bài Phúc Âm cho ngày Thứ Hai hôm nay, cũng chính là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật IV Năm A hôm trước, bài Phúc Âm được chính Chúa Kitô khẳng định Người chẳng những là cửa đàn chiên mà còn đến để mang lại sự sống cho chiên nữa: 

 

"Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên đã không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào".

 

Trong bài phúc âm hôm nay, ở phần đầu, Chúa Giêsu còn cho thấy các đặc tính chứng tỏ ai là mục tử đích thực ai là kẻ trộm cướp phá hại nữa: 1- "qua cửa mà vào chuồng chiên", chứ không "trèo vào lối khác" như "kẻ trộm cướp" chứ không phải mục tử; 2- nhờ đó, họ "được người giữ cửa mở cho và chiên nghe theo tiếng của kẻ ấy"; 3- và vì là mục tử chân thực nên họ biết chiên của họ, đến độ có thể "gọi đích danh từng con chiên của mình mà dẫn ra", nghĩa là họ để ý đến từng con chiên của mình để chăm sóc cho từng trường hợp của mỗi con; 4- "Khi lùa chiên ra ngoài thì kẻ ấy đi trước chiên", chứ không đi sau chiên, như để canh chừng chiên hơn là tin tưởng chiên, vì "đi trước chiên" có nghĩa là làm gương cho chiên và mở đường dẫn lối cũng như sẵn sàng liều mình che chở bảo vệ chiên trước tất cả mọi nguy khốn dù có phải hiến mạng sống mình cho chiên được sống.

 

Tuy nhiên, nếu bài Phúc Âm trên đây đã được đọc trong Chúa Nhật IV theo chu kỳ Phụng Vụ Năm A thì có thể đọc bài Phúc Âm của Chúa Nhật IV Năm B, một bài phúc âm cũng vẫn theo chủ đề “Thày là sự sống”, nhưng liên quan đến bản chất nhân lành của vị mục tử:

 

"Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống mình vì chiên... Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta".


Căn cứ vào hai câu Chúa Giêsu nói về Người là vị mục tử tốt lành, thì vị mục tử tốt lành cần 2 yếu tố bất khả thiếu và bất khả phân ly, đó là dám chết vì chiên, cũng như chẳng những biết chiên mà còn được chiên biết đến nữa. Chỉ có những vị mục tử nào biết chiên và được chiên biết đến mới dám liều mạng sống mình vì chiên.


Tuy nhiên, nếu biết chiên mà không được chiên biết thì cũng không phải hay chưa phải là mục tử tốt lành, bởi chưa biết chiên thực sự, hay chỉ biết những cái xấu của chiên để mà sửa phạt, chứ không thông cảm và nâng đỡ, hoặc biết những cái tốt của chiên nhưng lại không sự dụng, coi thường và tẩy chay, chỉ sợ mất uy tín của mình v.v.

Một vị chủ chiên tốt lành thì được chiên mộ mến lắng nghe, tuy nhiên, nếu vị chủ chiên ấy lợi dụng lòng mộ mến của chiên để mà cạnh tranh với các chủ chiên khác, hay đàn áp những con chiên dám nói thẳng những gì cần đưôc xây dựng chính đáng, hoặc tỏ ra bất tuân phục thẩm quyền của mình, hay nể nang mị dân không dám dẫn dắt chiên theo đúng tinh thần và đường lối của Chúa v.v., thì cũng chỉ là những chủ chiên tốt lành giả hình, mang tinh thần của kẻ trộm cướp mà thôi, và chắc chắn sẽ không dám liều mạng sống vì vì chiên.

 

Bài Đọc I (Tông Vụ 11:1-18):

 

Nếu trong bài Phúc Âm, Chúa Kitô là "cửa chuồng chiên", tức là vị mục tử gương mẫu, mà nếu ai không "qua cửa mà vào", nghĩa là không theo gương Người mà chăn chiên "đều là trộm cướp", phá hoại chiên, thì hành động của Tông Đồ Phêrô trong bài đọc I hôm nay cũng quả thực là ngài đã "qua cửa mà vào", chứ không bị thành kiến Do Thái giáo ngăn chặn không cho ngài đến với dân ngoại:

 

"Khi Phêrô lên Giêrusalem, các người đã chịu cắt bì trách móc người rằng: 'Tại sao ngài vào nhà những kẻ không chịu cắt bì và ăn uống với họ?' Phêrô trình bày cho họ sự việc từ đầu đến cuối theo thứ tự sau đây: '... ngay lúc đó, ba người từ Cêsarêa được sai đến nhà tôi ở. Thánh Thần truyền dạy tôi đừng ngần ngại đi với họ. Sáu anh em cùng đi với tôi, và chúng tôi vào nhà một người. Anh thuật lại cho chúng tôi biết: anh đã thấy thiên thần hiện ra thế nào; thiên thần đứng trong nhà anh và nói với anh rằng: 'Hãy sai người đến Gióp-pê tìm Simon có tên là Phêrô; người sẽ dạy ngươi những lời có sức làm cho ngươi và cả nhà ngươi được cứu độ'".

 

Nếu Chúa Kitô là Mục Tử Thần Linh đến cho chiên được sự sống và là một sự sống viên mãn thì vị tông đồ được Người trao cho sứ vụ Mục Tử Thần Linh thay Người chăn dắt chiên của Người (xem Gioan 21:15-17), vì đã "qua cửa mà vào chuồng chiên", cũng làm cho chiên được sự sống và sự sống viên mãn, đúng như bài đọc 1 cho thấy:

 

"Lúc tôi bắt đầu nói, Thánh Thần ngự xuống trên họ như ngự trên chúng ta lúc ban đầu. Bấy giờ tôi nhớ lại lời Chúa phán: 'Gioan đã rửa bằng nước, còn các con, các con sẽ được rửa bằng Thánh Thần'. Vậy, nếu Thiên Chúa ban cho họ cũng một ơn như đã ban cho chúng ta, là những kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà có thể ngăn cản Thiên Chúa?' Nghe những lời ấy, họ thinh lặng và ca tụng Thiên Chúa rằng: 'Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho dân ngoại ơn ăn năn sám hối để được sống'".

 

Thứ Ba

 

Phúc Âm (Gioan 10:22-30):

 

 

Khía cạnh "Mục Tử Thần Linh" trong chủ đề "Thày là sự sống" trong Mùa Phục Sinh hậu Tuần Bát Nhật Phục Sinh cũng vẫn tiếp tục được tỏ hiện trong bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Ba trong Tuần IV Phục Sinh. Ở chỗ, Chúa Kitô cho biết lý do tại sao chiên của Người cao quí đến độ xứng đáng để Người thí mạng sống mình cho chiên, đó là vì chiên chẳng những ngoan hiền ở chỗ nhận biết Người và theo Người mà nhất là vì chiên thuộc về Cha của Người là Đấng đã trao chúng cho Người nữa:

"Khi ấy, người ta mừng lễ Cung Hiến tại Giêrusalem. Bấy giờ là mùa đông. Chúa Giêsu đi bách bộ tại đền thờ, dưới cửa Salômôn. Người Do-thái vây quanh Người và nói: 'Ông còn để chúng tôi thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Ðức Kitô, thì xin ông nói rõ cho chúng tôi biết'. Chúa Giêsu đáp: 'Tôi đã nói với các ông mà các ông không tin. Những việc Tôi làm nhân danh Cha Tôi, làm chứng về Tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đàn chiên tôi. Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi. Tôi cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Tôi. Ðiều mà Cha Tôi ban cho Tôi, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Tôi. Tôi và Cha Tôi là một'".

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành, đã minh định chiên của Người có bản chất và khuynh hướng tự nhiên ra sao, đó là "nghe tiếng Tôi (tức tin vào Người) và theo Tôi", bởi thế, những ai không nghe tiếng Người, hay "không tin" vào Người, như Người đã nói thẳng vào mặt dân Do Thái bấy giờ "không tin" Người nên "không thuộc về đàn chiên của Tôi".

 

Ở đây Chúa Giêsu không hất hủi một ai, nhất là thành phần được Cha của Người tuyển chọn làm dân riêng, một dân tộc Người mang huyết thống khi hóa thành nhục thể. Người chỉ nói rằng họ vị không tin nên "không thuộc (đúng hơn chưa thuộc) về đàn chiên của Tôi" thôi, cho đến khi họ tin thì họ sẽ thuộc về đàn chiên của Người, và hành động đầy thiện chí của họ trong việc theo đuổi tìm hiểu về nguồn gốc của Người cho bằng được, như ở đầu bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: "Ông còn để chúng tôi thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Ðức Kitô, thì xin ông nói rõ cho chúng tôi biết", đã đủ chứng tỏ họ muốn tin Người, cần Người nhẫn nại tỏ mình ra cho họ, theo cách thức mù tối và cứng lòng của họ để nhờ đó họ có thể tin vào Người.

 

Riêng đối với chiên của Người, nghĩa là đối với những ai tin vào Người và theo Người, thì như Người quả quyết: 1- "Tôi ban cho chúng sự sống đời đời", một sự sống thần linh liên quan đến mầu nhiệm nhập thể của Người, ở chỗ "ai chấp nhận Người, thì Người ban cho họ được quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12); 2- "Chúng sẽ không bao giờ hư mất", một hứa hẹn thần linh liên quan đến mầu nhiệm tử giá, ở chỗ: "Vì họ mà Con tự thánh hiến để họ được thánh hóa trong chân lý" (Gioan 17:19); và 3- "Không ai có thể cướp chúng khỏi tay Tôi", một quyền lực thần linh liên quan đến mầu nhiệm phục sinh của Người, bởi vì "Thày được toàn quyền trên trời dưới đất" (Mathêu 28:18).

 

Thật vậy, "chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi", thế nhưng, nếu "chúng theo Tôi", thì chúng còn cần phải được "Tôi biết chúng" nữa. Bởi vì, tự bản chất hiền lành của mình, chiên của Người cũng dễ bị sói dữ ăn thịt, nếu không có Người luôn ở với chúng, ở chỗ "biết chúng", như tỏ ra quan tâm đến chúng, đến từng nhu cầu của chúng, tỏ ra chăm sóc cho chúng, bằng cách đáp ứng nhu cầu của chúng, và sẵn sàng đi tìm kiếm chúng, một khi chúng bị lạc đàn.

 

Đời sống của Kitô hữu là một hành trình đức tin là như thế: trước hết ở chỗ "nghe tiếng Tôi" khi lãnh nhận Phép Rửa tái sinh; sau nữa ở chỗ được Đấng biết họ, "Tôi biết chúng" thông ban sự sống thần linh cho: "Vị Chủ Chiên nhân lành đến cho chiên được sống và sống viên mãn" (Gioan 10:10), và sau hết, ở chỗ, "chúng theo Tôi" để truyền đạt sự sống thần linh viên mãn nơi mình nhờ được hiệp thông thần linh với Cây Nho là Chúa Kitô (xem Gioan 15:4), như trường hợp của tông đồ Phêrô được Chúa Kitô là Đấng úy thác cho ngài sứ vụ chăn dắt các chiên con chiên mẹ cho kèm theo số phận hy sinh cho chiên thì được Người kêu gọi "Hãy theo Thày" (Gioan 21:19).

Bài Đọc I (Tông Vụ 11:19-26):

 

Nếu trong bài Phúc Âm Chúa Kitô đã khẳng định tính chất của thành phần chiên của Người là "Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi",  "các ông không tin, vì các ông không thuộc về đàn chiên tôi", thì thành phần dân ngoại Hy Lạp ở Antiôkia trở lại theo lời rao giảng của những ai đã tin theo Chúa Kitô nhờ lời rao giảng của các tông đồ sau biến cố Hiện Xuống ở Giêrusalem, nhất là của nhị vị Barnabê và Phaolô, mà nếu so với đa số dân Do Thái và riêng thành phần lãnh đạo giáo quyền của họ đã tỏ ra hết sức cứng lòng tin, cho dù có được đích thân Chúa Kitô rao giảng và tỏ mình ra, thì thành phần dân ngoại Hy Lạp này quả thực đúng là "Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi":

 

"Trong những ngày ấy, vì cơn bách hại xảy ra nhân dịp Têphanô bị giết, có nhiều người phải sống tản mác, họ đi đến Phênixê, Cyprô và Antiôkia, họ không rao giảng lời Chúa cho một ai ngoài những người Do-thái. Nhưng một ít người trong họ quê ở Cyprô và Xyrênê; khi đến Antiôkia, họ cũng rao giảng Chúa Giêsu cho người Hy-lạp nữa. Và tay Chúa ở với họ; nên có đông người tin trở về với Chúa. Tin đó thấu tai Hội Thánh Giêrusalem, nên người ta sai Barnaba đến Antiôkia. Khi đến nơi và thấy việc ơn Chúa thực hiện, ông vui mừng và khuyên bảo mọi người hãy vững lòng tin nơi Chúa; Barnaba vốn là người tốt lành, đầy Thánh Thần và lòng tin. Và có đoàn người đông đảo tin theo Chúa. Vậy Barnaba đi Tarxê tìm Saolô. Gặp được rồi, liền đưa Saolô về Antiôkia. Cả hai ở lại tại Hội Thánh đó trọn một năm, giảng dạy cho quần chúng đông đảo; chính tại Antiôkia mà các môn đồ lần đầu tiên nhận tên là Kitô hữu".

 

Thứ Tư

 

Phúc Âm (Gioan 12:44-50):

 

Chủ đề "Thày là sự sống" về khía cạnh Mục Tử Thần Linh cho Tuần IV Phục Sinh vẫn còn được thấy tỏ hiện trong bài Phúc Âm của Thứ Tư trong Tuần IV Phục Sinh hôm nay. Ở chỗ, Vị Mục Tử Thần Linh là Chúa Kitô đây, sở dĩ yêu thương chiên của mình đến độ hiến mạng sống cho chiên được sự sống và là sự sống viên mãn chẳng những vì chiên thuộc về Cha là chính Đấng đã trao chiên cho Người mà còn vì Người là Đấng Thiên sai thật sự, Đấng vì được Cha sai nên luôn chỉ làm theo ý của Cha, đúng như những gì Cha muốn và cách thức Cha muốn, như Người đã tự chứng về bản thân Người với dân Do Thái trong bài Phúc Âm hôm nay:

 

"Ai tin vào Ta thì không phải là tin vào Ta, nhưng là tin vào Ðấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Ðấng đã sai Ta. ...  Bởi vì Ta đã không tự mình nói ra, nhưng Cha là Ðấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải công bố gì. Và Ta biết rằng lệnh của Người là sự sống đời đời. Những điều Ta nói, thì Ta nói theo như Cha đã dạy".

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta còn thấy một điều rất quan trọng nữa, đó là nguyên tắc phán xét tối hậu, ở chỗ, Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu, chỉ biết yêu thương - "đến độ đã ban Con Một mình" (Gioan 3:16), chỉ biết bày tỏ tình yêu của mình ra "cho đến cùng" (Gioan 13:1), cho đến hết cỡ - "không dung tha cho Con Một của Ngài, một phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Rôma 8:32), như ánh sáng không thể nào không soi chiếu như bản chất tự nhiên của mình, còn những gì được ánh sáng soi chiếu có tiếp nhận ánh sáng hay chăng, hoặc có được thừa hưởng ánh sáng hay chăng là tùy ở những thứ ấy. Đó là lý do Chúa Giêsu Kitô đã khẳng định và tuyên bố với thành phần thính giả nghe Người rằng:

 

"Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy, vì Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian. Ai khinh dể Ta, và không chấp nhận lời Ta, thì đã có người xét xử: lời Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết". 

 

Do đó, để có thể dung hòa giữa 2 thái cực chủ trương một là có Lòng Thương Xót Chúa hay là có hỏa ngục chứ không thể nào có cả hai, hãy căn cứ vào nguyên tắc trong bài Phúc Âm hôm nay ngay trên đây. Nghĩa là có cả hai: Thiên Chúa không thể nào không yêu thương, không thương xót, vì đó là bản tính của Ngài, và kẻ nào không chấp nhận tình yêu thương vô cùng nhân hậu của Ngài thì tự họ bị hư đi, và chính tình yêu vô cùng nhân hậu bất diệt của Thiên Chúa sẽ trở thành hình phạt cho họ đời đời trong hỏa ngục, nơi họ chỉ còn khóc lóc và nghiến răng, khóc lóc vì đau khổ và nghiến răng vì hối hận nhưng đã quá muộn.

 

Kinh nghiệm làm người cũng đã cho thấy điều ấy. Ở chỗ, một khi con người chối bỏ lương tâm, thì chính lương tâm nơi họ sẽ trở thành quan án của họ và cắn rứt họ, đến độ họ không thể nào chịu được, có trường hợp phải tự ra đầu thú để bớt ray rứt lương tâm cho dù có bị tù đầy khổ sở xác thân và cuộc đời. Khi chết cũng vậy, chính lương tâm là tòa phán xèt con người, và tự mình họ biết họ đi về đâu: Thiên Đàng hay hỏa ngục.

 

Bài Đọc I (Tông Vụ 12:24 - 13:5a):

 

Theo gương Mục Tử Thần Linh là "cửa chuồng chiên", đến chỉ làm theo ý muốn của Đấng đã sai mình, thành phần môn đệ trung thực của Người cũng luôn tuân theo tác động thần linh mà Thánh Thần của Đấng Phục Sinh và Thăng Thiên đã ban cho họ và sai đến với họ để Người có thể ở cùng họ cho đến tận thế (xem Mathêu 28:20), và qua họ tiếp tục vai trò Mục Tử Thần Linh của Người nơi dân ngoại, chẳng hạn qua nhị vị Saolô và Barnabê ở Antiôkia trong bài đọc một hôm nay:

 

"Bấy giờ trong Hội Thánh Antiôkia có những tiên tri và tiến sĩ, trong số đó có Barnaba, Simon cũng gọi là Nigê, Luxiô người thành Xyrênê, Manahê bạn của vua Hêrôđê lúc còn thơ ấu, và Saolô. Ðang khi các ông làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo các ông rằng: 'Hãy để riêng Saolô và Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định'. Vậy sau khi ăn chay cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường. Ðược Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường Do-thái".

 

Thứ Năm

 

Phúc Âm (Gioan 13:16-20):

 

Khía cạnh "Mục Tử Thần Linh" của chủ đề "Thày là sự sống" trong Tuần Thứ IV Phục Sinh tiếp tục được chất chứa trong bài Phúc Âm của Thứ Năm hôm nay. Ở chỗ Chúa Kitô tỏ mình ra cho các tông đồ biết "Ta là cửa chuồng chiên... Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân...Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào", khi Người phục vụ các vị là chiên của Người bằng cách rửa chân cho các vị, và vì thế, để vào "qua cửa chuồng chiên" là Người thì các tông đồ cũng phải noi gương bắt chước Người thì mới thực sự phản ảnh vai trò Mục Tử Thần Linh của Người, nhờ đó mới mang lại cho chiên sự sống và là sự sống viên mãn. 

 

"Sau khi đã rửa chân các môn đệ, Chúa Giêsu phán với các ông: 'Thật, Thầy bảo thật các con: Tôi tớ không trọng hơn chủ, kẻ được sai không trọng hơn đấng đã sai mình. Nếu các con biết điều đó mà thực hành thì có phúc...Thật, Thầy bảo thật các con: Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Ðấng đã sai Thầy".  

 

Bài Đọc I (Tông Vụ 13:13-25):

 

Đúng thế, vai trò Mục Tử Thần linh của Chúa Kitô Thiên Sai đã được tiếp nối bởi những ai được Người tuyển chọn và sai đi, thành phần như Người khẳng định trong bài phúc âm là "Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy", vì họ đã '"qua cửa chuồng chiên" là chính Người mà vào, nghĩa là đã noi gương bắt chước tinh thần phục vụ của Người, ở chỗ chỉ lo cho lợi ích của chiên, hơn là của mình, đến độ sẵn lòng hy sinh cho chiên được sống, nhờ đó, lời chứng đầy thâm tín của họ trở thành khả tín và có sức thuyết phục, như trường hợp của Tông Đồ Phaolô ở Antiôkia trong bài đọc thứ nhất hôm nay:

 

"Phaolô đứng lên, giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng và nói: 'Hỡi người Israel và những kẻ kính sợ Thiên Chúa, hãy nghe đây... Bởi dòng dõi Ðavít, theo lời hứa, Thiên Chúa ban cho Israel Ðức Giêsu làm Ðấng Cứu Ðộ, Ðấng mà Gioan đã báo trước khi người đến rao giảng phép rửa thống hối cho toàn dân Israel. Khi Gioan hoàn tất hành trình, ngài tuyên bố: 'Tôi không phải là người mà anh em lầm tưởng; nhưng đây, Người sẽ đến sau tôi mà tôi không đáng cởi dây giày dưới chân Người'".

 

Thứ Sáu

 

Phúc Âm (Gioan 14:1-6):

Khía cạnh "Mục Tử Thần Linh" trong chủ đề "Thày là sự sống" cho Mùa Phục Sinh hậu Bát Nhật Phục Sinh tiếp tục với bài Phúc Âm Thứ Sáu Tuần IV Phục Sinh hôm nay. Ở chỗ, Vị "Mục Tử Thần Linh" này tiếp tục tỏ mình ra là "cửa chuồng chiên", là đường lối đến với chiên của Người và sống cho chiên như Người. Nếu Vị "Mục Tử Thần Linh" "cửa chuồng chiên" ở nơi tấm gương "hiến mạng sống mình vì chiên" (Gioan 10:11) thì Người cũng muốn các môn đệ tiếp tục vai trò Mục Tử Thần Linh của Người cũng hiến mạng sống của họ vì chiên như thế, như Người đã ngầm nói trong bài Phúc Âm:

 

"Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi".

 

"Thày đi dọn chỗ cho anh em" đây là gì mà Người trước đó đã phải trấn an các môn đệ của Người rằng "anh em đừng xao xuyến", nếu không phải là Người "tự hiến để họ được thánh hóa trong chân lý" (Gioan 17:19), nghĩa là Người đi chịu chết, tự hiến "để họ được thánh hóa trong chân lý", tức là để họ nhận biết Người là ai, nhờ đó, họ cũng có thể chết vì Người và như Người để làm chứng cho Người, đúng như ý nghĩa sâu xa của câu Người nói với các tông đồ: "Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó". 

 

Bài Đọc I (Tông Vụ 13:26-33):

 

Nếu trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã tiên báo cho các tông đồ biết về số phận của Vị "Mục Tử Thần Linh" cần phải "đi để dọn chỗ cho anh em", tức là "tự hiến để họ được thánh hóa trong chân lý", hay hy sinh cho chiên được sống, trước hết là chính thành phần môn đệ được Người tuyển chọn ở với Người mà làm chứng nhân cho Người, thì trong bài đọc thứ nhất hôm nay, thành phần đã được Người tự hiến để thánh hóa họ trong chân lý ấy đã thực sự trở thành chứng nhân của Người và cho Người bằng chứng từ đầy xác tín và thuyết phục của họ:

 

"Thưa anh em, là con cái thuộc dòng giống Áp-ra-ham, và thưa anh em đang hiện diện nơi đây, là những người kính sợ Thiên Chúa, lời cứu độ này được gửi tới chúng ta. Dân cư thành Giê-ru-sa-lem và các thủ lãnh của họ đã không nhận biết Đức Giê-su; khi kết án Người, họ đã làm cho ứng nghiệm những lời ngôn sứ đọc mỗi ngày sa-bát. Tuy không thấy Người có tội gì đáng chết, họ vẫn đòi Phi-la-tô xử tử. Sau khi thực hiện tất cả mọi điều Kinh Thánh chép về Người, họ đã hạ Người từ trên cây gỗ xuống và mai táng trong mồ. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Trong nhiều ngày, Đức Giê-su đã hiện ra với những kẻ từng theo Người từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân. Còn chúng tôi, chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này : điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong Thánh vịnh 2: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con".

 

Thứ Bảy

 

Phúc Âm (Gioan 7-14):

 

Vai trò "Mục Tử Thần Linh" của Chúa Kitô là vai trò của một Đấng Thiên Sai, đến để làm theo ý Đấng đã sai chứ không phải theo ý của mình, đến độ làm cho thế gian nhờ mình mà nhận biết Cha, và đến độ bất cứ ai tin vào Người thì được sự sống, đúng như Người đã khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Bảy Tuần IV Phục Sinh về chủ đề "Thày là sự sống". 

 

"Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: 'Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha'?  Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.  Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm". 

 

Trong câu khẳng định trên đây của mình, Chúa Giêsu đã ngầm tái xác nhận lời tuyên xưng của Tông Đồ Phêrô “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mathêu 16:16) là chính xác. Vì là “Đức Kitô” Thiên Sai mà Người đến chỉ “nói” “làm” những gì Cha là Đấng đã sai Người muốn mà thôi, chứ không phải những gì Người muốn, và chính vì thế, Người cho thấy “Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày”, và cho thấy Người là “Con Thiên Chúa hằng sống”, “đồng bản thể với Cha” (Kinh Tin Kính), đến độ, “ai thấy Thày là thấy Cha”, nơi nhân tính của Người, qua những gì Người nói và làm trong bản tính của con người, một bản tính loài người được Người mặc lấy để “tỏ Cha ra” (Gioan 1:18), hay để Cha tỏ mình ra nơi Người và qua Người.

 

Nếu Chúa Giêsu tỏ mình ra là hiện thân của Cha như thế, thì thành quả hay tác dụng của niềm tin vào Vị Mục Tử Thần Linh Thiên Sai là ở chỗ làm cho kẻ tin vào Người được hiệp nhất nên một với Người, được Người biến đổi, thậm chí đến độ còn làm được những việc hơn Người làm nữa, như cành nho dính liền với thân nho thì sinh muôn vàn hoa trái nhờ nhựa sống từ thân cây, trong khi chính thân nho lại chẳng sinh hoa trái gì: 

 

"Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó". 

“Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” nghĩa là gì? Nếu không phải nghĩa là một khi Người Thăng Thiên "về cùng Cha" thì nhân tính của Người, một bản tính Người mặc lấy khi nhập thể vốn được Ngôi Hiệp với thần tính của Người trên thế gian, nhờ phục sinh đã trở thành linh thiêng,  bấy giờ được hoàn toàn hoan hưởng Thực Tại Thần Linh là Thánh Thần với Cha và như Cha. Bởi thế, ai tin vào Người thì được hiệp nhất nên một với Người là Đấng từ Cha sẽ sai Thánh Thần đến (xem Gioan 15:26) để nhờ đó họ có thể làm chứng về Người cho đến tận cùng trái đất (xem Tông Vụ 1:8).

"Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa" là vì thế - vì Chúa Kitô Phục Sinh và Thăng Thiên ở trong họ bằng Thánh Thần của Người, và "Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa" là như thế - ở chỗ nhờ Thánh Thần và cùng với Thánh Thần của Người họ có thể làm chứng về Người, nhờ đó Người được nhận biết và yêu mến khắp thế giới chứ không phải chỉ ở nơi dân Do Thái là thành phần vốn không tin Người cho dù Người đã tỏ hết mình ra cho họ, và nhờ đó Người là hạt lúa miến mục nát đi nơi mầu nhiệm khổ giá trổ sinh muôn vàn hoa trái là phần rỗi các linh hồn (xem Gioan 12:24).

Bài Đọc I (Tông Vụ ):

 

Vai trò Mục Tử Thần Linh của Chúa Kitô Thiên Sai tiếp tục sinh hoa trái nơi thành phần môn đệ được Người sai đi làm chứng về Người, như bài đọc một hôm nay cho thấy, đến độ, càng bị chống đối và thử thách, các vị càng sinh nhiều hoa trái như cành nho đã sinh trái thì cần được cắt tỉa đi cho càng sai trái hơn (xem Gioan 15:2):

"Tại I-cô-ni-ô cũng xảy ra như vậy: hai ông vào hội đường người Do-thái và giảng dạy, khiến rất đông người Do-thái và Hy-lạp tin theo. Nhưng những người Do-thái không tin theo thì xúi giục những người ngoại và làm cho họ có ác cảm với các anh em. Vậy hai ông ở lại một thời gian khá lâu, mạnh dạn vì dựa vào Chúa, là Đấng chứng nhận lời giảng về ân sủng của Người, khi cho tay các ông thực hiện những dấu lạ điềm thiêng".