Hài Tích của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu Tuần Du ở Tân Tây Lan 2005
Vị Nữ Tu Kín trở thành Quan Thày của Việc Truyền Giáo
Tông Thư
Divini Aroris Scientia
KHOA HỌC CỦA TÌNH YÊU THẦN LINH
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
Tuyên Nhận Thánh Nữ Thérèse Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan
là Tiến Sĩ Hội Thánh
1. KHOA HỌC CỦA TÌNH YÊU THẦN LINH, một khoa học được Vị Cha của nguồn xót thương tuôn đổ qua Chúa Giêsu Kitô trong Thánh Thần, là một tặng ân được ban cho thành phần bé mọn và khiêm hạ để họ hiểu biết và loan báo những bí mật của vương quốc được che giấu khỏi thành phần thức giả và thành phần khôn ngoan; đó là lý do Chúa Giêsu đã hân hoan trong Thánh Thần, dâng lời ca ngợi Cha là Đấng đã ưu ái muốn như thế (cf Lk 10:21-22; Mt 11:25-26).
Mẹ Giáo Hội cũng hân hoan nhận thấy rằng trải suốt giòng lịch sử, Chúa đã tiếp tục tỏ mình ra cho thành phần bé mọn và thành phần khiêm hạ, giúp những ai được Người tuyển chọn, nhờ Thần Linh là Đấng “thấu suốt mọi sự, thậm chí thâm cung của Thiên Chúa” (1Cor 2:10), có thể nói về những tặng ân “được ban Thiên Chúa ban xuống trên chúng ta … bằng những lời lẽ không do cái khôn ngoan của con người mà do Thần Linh dạy dỗ, giải thích những chân lý thiêng liêng bằng ngôn từ thiêng liêng” (1Cor 2:12,13). Nhờ đó, Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội vào tất cả sự thật, phú bẩm cho Giáo Hội những tặng ân khác nhau, trang điểm Giáo Hội bằng những hoa trái của Ngài, làm tươi trẻ Giáo Hội bằng quyền năng của Phúc Âm và giúp Giáo Hội có thể nhận thức được các dấu chỉ thời đại để đáp ứng ý Chúa cách trọn vẹn hơn (cf. Lumen gentium, nn. 4, 12; Gaudium et spes, n. 4).
Sáng chói trong số những kẻ bé mọn được tỏ cho biết những bí mật nước trời một cách đặc biệt là Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan, một đan nữ tu tuyên khấn của Dòng Carmêlô Chân Không, vị năm nay kỷ niệm 100 năm về quê hương thiên đình.
Trong đời sống của mình, Chị Thérèse đã khám phá thấy “những ánh sáng mới, những ý nghĩa kín đáo và mầu nhiệm” (Ms A, 83v) và đã lãnh nhận từ vị Thày thần linh “khoa học yêu thương” được chị bấy giờ diễn đạt một cách đặc biệt sáng tạo nơi các bản văn của mình (cf. Ms B, 1r). Khoa học này là những gì thể hiện một cách rạng ngời cho thấy kiến thức của chị về mầu nhiệm nước trời cũng như về cảm nghiệm riêng tư của chị về ân sủng. Có thể coi khoa học này là một đặc sủng về đức khôn ngoan Phúc Âm mà Chị Thérèse, như các vị thánh và thày dạy đức tin khác, có được trong nguyện cầu (cf. Ms C, 36r·).
2. Việc tiếp nhận trước gương mẫu về đời sống và giáo huấn Phúc Âm của chị trong thế kỷ của chúng ta là những gì xẩy ra mau chóng, toàn cầu và liên tục. Như để noi gương bắt chước mức độ chín mùi thiêng liêng sớm phát triển của chị, trong vòng có ít năm Giáo Hội đã công nhận thánh đức của chị. Thật vậy, vào ngày 10/6/1914, Đức Piô X đã ký sắc lệnh cho tiến hành voệc phong chân phước cho chị; vào ngày 14/8/1921, Đức Biển Đức XV đã tuyên bố những nhân đức anh hùng của Người Tôi Tớ Chúa, nhân dịp này nói về con đường thơ ấu thiêng liêng; và Đức Piô XI công bố chị là chân phước vào ngày 29/4/1923. Sau đó ít lâu, vào ngày 17/5/1925, cũng vị Giáo Hoàng này phong thánh cho chị trước một đám đông cả thể ở Đền Thờ Thánh Phêrô, đề cao những nhân đức sáng ngời của chị và tính chất sáng tạo nơi giáo huấn của chị. Hai năm sau, vào ngày 14/12/1927, để đáp ứng thỉnh nguyện của nhiều vị Giám Mục thừa sai, ngài đã công bố chị là quan thày của việc t ruyền giáo cùng với Thánh Phanxicô Xavier.
Mở màn bằng những tác động công nhận này, ánh quang rạng ngời thiêng liêng của Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu đã gia tăng trong Giáo Hội và lan ttràn khắp thế giới. Nhiều tổ chức sống đời tận hiến và các phong trào trong giáo hội, nhất là nơi những Giáo Hội trẻ trung, đã chọn chị làm quan thày và thày dạy, lấy hứng từ giáo huấn thiêng liêng của chị. Sứ điệp của chị, thường được tóm gọn lại thành những gì được gọi là “con đường bé nhỏ”, một con đường không là gì khác ngoài con đường thánh thiện của Phúc Âm đối với tất cả mọi người, đã được học hỏi nghiên cứu bởi các thần học gia và chuyên viên về tu đức. Các vương cung thánh đường, các đền thờ, các đền thánh và các nhà thờ trên khắp thế giới đã được xây cất và cung hiến cho Chúa dưới sự bảo trợ của vị Thánh thành Lisieux này. Giáo Hội Công Giáo tôn kính chị qua những nghi lễ Đông phương và Tây phương khác nhau. Nhiều tín hữu đã cảm thấy được quyền năng chuyển cầu của chị. Nhiều người trong số được kêu gọi sống thừa tác vụ linh mục hay đời tận hiến, nhất là ở các xứ truyền giáo và tu viện, qui ơn Chúa kêu gọi họ cho việc chuyển cầu và gương sống của chị.
3. Các vị Mục Tử của Giáo Hội, bắt đầu với các vị tiền nhiệm của tôi là các Vị Giáo Hoàng của thế kỷ này, những vị nêu gương thánh đức của chị cho tất cả mọi người, cũng nhấn mạnh là Chị Thérèse là thày dạy của đời sống thiêng liêng bằng một giáo huấn vừa thiêng liêng vừa sâu xa được chị rút tỉa từ Phúc Âm theo sự hướng dẫn của vị Sư Phụ thần linh và rồi truyền đạt cho anh chị em mình trong Giáo Hội một cách hiệu nghiệm nhất (cf. Ms B, 2v-3).
Giáo huấn thiêng liêng này đã được thông đạt cho chúng ta chính yếu qua cuốn tự truyện của chị, một tác phẩm bao gồm 3 bản thảo được chị viết vào những năm cuối đời của chị và được phát hành một năm sau khi chị qua đời với tên gọi là Histoire d’une âme – Truyện Một Tâm Hồn (Lisieux 1898), đã khơi lên một niềm hứng khởi phi thường mãi cho tới thời của chúng ta đây. Cuốn tự truyện này, được chuyển dịch cùng với những bản văn khác của chị sang 50 ngôn ngữ, đã làm cho Chị Thérèse được biết đến ở hết mọi nơi trên thế giới, thậm chí cả ở ngoài Giáo Hội Công Giáo. Một thế kỷ sau khi qua đời, Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu vẫn tiếp tục được công nhận như là một trong những vị đại sư của đời sống thiêng liêng trong thời đại của chúng ta.
4. Bởi thế không lạ gì Tòa Thánh đã nhận được nhiều thỉnh nguyện xin ban cho chị tước hiệu Tiến Sĩ của Hội Thánh Toàn Cầu.
Trong những năm gần đây, nhất là nhân dịp may gần tới ngày kỷ niệm bách niên đầu tiên sau cái chết của chị này, những yêu cầu ấy càng ngày càng nhiều hơn nữa, bao gồm cả phía những Hội Đồng Giám Mục; ngoài ra còn có những hội nghị học hỏi cũng được tổ chức và nhiều sách vở viết ra cho thấy Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu đã có được một sự khôn ngoan phi thường và qua giáo huấn của mình chị đã giúp cho rất nhiều con người nam nữ thuộc mọi bậc sống nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu Kitô và Phúc Âm của Người.
Trước những sự kiện ấy, tôi đã quyết cẩn thận nghiên cứu xem vị Thánh thành Lisieux này có những điều kiện tiên quyết nào chăng để được ban tặng tước hiệu Tiến Sĩ của Giáo Hội Hoàn Vũ.
5. Theo chiều hướng ấy, tôi muốn vắn tắt nhắc lại một số biến cố trong đời sống của Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu. Được sinh ra ở Alencon, Pháp quốc, ngày 2/1/1873, chị được rửa tội hai ngày sau đó ở Nhà Thờ Đức Bà, lãnh nhận tên Marie-Francoise-Thérèse. Cha mẹ chị là Louis Martin và Zélie Guérin, những vị được tôi mới công nhận các nhân đức anh hùng. Sau khi mẹ qua đời ngày 28/8/1877, Thérèse cùng với cả gia đình di chuyển tới thành phố Lisieux là nơi được cha và các chị quí thương, chị đã được giáo dục cách gắt gao nhưng đầy dịu dàng.
Vào cuối năm 1879 chị lãnh nhận bí tích Thống Hối lần đầu tiên. Vào Lễ Hiện Xuống năm 1883 chị đã được một ơn lạ là ơn được chữa lành chứng bệnh trầm trọng nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ Thắng Trận. Được giáo dục bởi các tu sĩ Dòng Biển Đức ở Lisieux, chị đã được Rước Lễ Lần Đầu vào ngày 8/5/1884, sau một cuộc sửa soạn thiết tha cho đến độ có được một cảm nghiệm ngoại thường về ân sủng hiệp nhất thân mật với Chúa Giêsu. Sau đó mấy tuần, vào ngày 14/6 cùng năm, chị đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức với ý thức sống động về những gì tặng ân Thánh Linh cho chị được thông phần vào ân huệ Hiện Xuống. Vào Lễ Giáng Sinh 1886, chị có được một cảm nghiệm linh thiêng sâu xa được chị diễn tả là một “cuộc hoán cải toàn vẹn”. Từ đó, chị chế ngự nỗi yếu hèn về cảm xúc gây ra bởi việc mất mẹ và bắt đầu “chạy như một con người lực lưỡng“ trên con đường nên hoàn thiện (cf. Ms A, 44v45v).
Chị Thérèse muốn theo đuổi đời sống chiêm niệm, như các chị của mình là Pauline và Marie ở Dòng Carmelô thành Lisieux, thế nhưng không được vì tuổi trẻ của chị. Trong cuộc hành hương tới Ý quốc, sau khi thăm viếng Nhà Thánh Loretto và những nơi chốn của Thành Đô Muôn Thuở, trong cuộc triều kiến với Đức Giáo Hoàng của tín hữu thuộc Giáo Phận Lisieux vào ngày 20/11/1887, chị đã bạo dạn theo tình con thảo xin Đức Lêô XIII được phép vào Dòng Carmêlô năm 15 tuổi.
Vào ngày 9/4/1988 chị đã vào Dòng Carmêlô ở Lisieux, nơi chị đã lãnh nhận áo dòng trong Dòng Đức Trinh Nữ nào vào ngày 10/1 năm sau đó và tuyên khấn vào ngày 8/9/1890, lễ Sinh Nhật Trinh Nữ Maria. Ở Dòng Carmêlô, chị đã theo đuổi con đường nên trọn lành được phác họa bởi Mẹ Sáng Lập là Thánh Teresa của Chúa Giêsu, bằng một nhiệt tình và lòng trung thành chân thực trong việc chu toàn các công việc khác nhau của cộng đồng được trao phó cho chị. Được soi sáng bởi Lời Chúa, nhất là bị thử thách trước bệnh tật yếu đau nơi người cha yêu dấu của mình là Martin Louis, người đã qua đời ngày 29/7/1894, Chị Thérèse lao mình tiến bước trên con đường thánh đức, nhấn mạnh đến tính chất chính yếu của tình yêu. Chị đã khám phá ra và truyền đạt cho các tập sinh thuộc phần chăm sóc của chị con đường nhỏ thơ ấu thiêng liêng là con đường nhờ đó chị càng ngày càng tiến sâu vào mầu nhiệm Giáo Hội, và được tình yêu Chúa Kitô lôi kéo, chị cảm thấy trong mình ơn gọi tông đồ và truyền giáo thôi thúc chị mang hết mọi người cùng với chị đến gặp gỡ Vị Quân Phu thần linh này.
Vào ngày 9/6/1895, lễ Chúa Ba Ngôi, chị dâng mình làm vật hy tế cho Tình Yêu nhân hậu của Thiên Chúa. Vào ngày ¾ năm sau đó, nửa đêm Thứ Năm Tuần Thánh rạng Thứ Sáu Tuần Thánh, chị nhận thấy những triệu chứng đầu tiên vê cơn bệnh sẽ đưa chị đến chỗ chết. Chị Thérèse đón nhận nó như là cuộc viếng thăm huyền nhiệm của Vị Phu Quân thần linh. Đồng thời chị trải qua một cơn thử thách về đức tin kéo dài cho tới khi chị qua đời. Vì sức khỏe của chị càng ngày càng suy yếu, chị được chuyển đến bệnh xá ngày 8/7/1897. Các chị của chị và những tu sĩ khác tập trung các lời nói của chị, trong khi đó những khổ đau và thử thách của chị, được chịu đựng cách nhẫn nại, cứ gia tăng cho tới khi chị qua đời vào chiều ngày 30/9/1897. Chị đã viết cho một trong những người an hem thiêng liêng của chị là Cha Bellière (Thư 244) là “Con không chết đi, con đang đi vào cõi sống”. Những lời nol1i cuối cùng của chị, “Chúa Trời con ơi, con yêu mến Chúa”, là dấu ấn của cuộc sống chị.
6. Chị Thérèse Hài đồng Giêsu đã lưu lại cho chúng ta những bản văn đáng coi chị là thày dạy đời sống thiêng liêng. Tác phẩm chính của chị vẫn là truyện kể về đời chị ở trong ba bản viết tay tự truyện (Manuscrits autobiographiques A, B, C), đầu tiên được xuất bản với tên gọi chẳng mấy chốc trở thành nổi tiếng là “Truyện Một Tâm Hồn”.
Trong Bản Thảo A, được viết theo lời yêu cầu của chị Agnes of Jesus, vị bấy giờ là Đan Viện Trưởng của đan viện ấy, và được trao cho người chị này vào ngày 21/1/1896, Chị Thérèse đã diễn tả những giai đoạn về kinh nghiệm tu trì của mình: những năm đầu tiên của thời thơ ấu, nhất là thời điểm Rước Lễ Lần Đầu và Thêm Sức của chị, thời thanh thiếu niên, cho tới khi chị vào Dòng Carmêlô và khấn lần đầu.
Bản Thảo B, được viết trong cuộc tĩnh tâm của chị trong năm đó theo lời yêu cầu của chị Marie Thánh Tâm, chất chứa một số đoạn hay nhất, nổi tiếng nhất và thường được trích dẫn nhất từ vị Thánh thành Lisieux này. Những đoạn này cho thấy tầm mức hoàn toàn trưởng thành của vị Thánh khi chị nói về ơn gọi của chị trong Giáo Hội là Phu Thê của Chúa Kitô và là Mẹ của các linh hồn.
Bản Thảo C, được viết vào Tháng 6 và những ngày đầu tháng 7 năm 1897, một ít tháng trước khi chị qua đời và giành cho Đan Viện trưởng Marie de Gonzague, vị đã yêu cầu viết ra, hoàn tất những hồi tưởng ở Bản Thảo A về đời sống trong Dòng Carmêlô. Những trang này cho thấy sự khôn ngoan siêu nhiên của tác giả. Chị Thérèse thuật lại một số cảm nghiệm tuyệt vời xẩy ra trong giai đoạn cuối đời của chị. Chị giành những trang cảm kích này cho cuộc thử thách đức tin của chị: một ơn thanh tẩy nhận chìm chị vào một đêm tối tăm lâu dài và đau đớn, một đêm tối được chiếu soi bởi lòng tin tưởng của chị vào tình yêu thương nhân hậu cha con của Thiên Chúa. Một lần nữa, không cần tự lập lại, Chị Thérèse làm cho ánh sáng của Phúc Âm rạng ngời chiếu tỏa. Ở đây chúng ta thấy được những trang tuyệt vời nhất chị đã viết về việc tin tưởng phó mình vào bàn tay của Thiên Chúa, về mối hiệp nhất giữa tình yêu mến Thiên Chúa và tình yêu thương tha nhân, về ơn gọi truyền giáo của chị trong Giáo Hội.
Trong ba bản thảo khác nhau này, những bản thảo qui tụ lại thành một mối hiệp nhất về chủ đề và thành một diễn giải gia tăng về đời sống và linh đạo của mình, Chị Thérèse đã lưu lại cho chúng ta một tự thuật nguyên thủy là câu truyện về tâm hồn của chị. Nó cho thấy nơi đời sống của chị Thiên Chúa đã cống hiến cho thế giới một sứ điệp rõ ràng, nói lên đường lối phúc âm, đó là “con đường bé nhỏ”, một con đường mà hết mọi người có thể thực hiện, vì hết mọi người đều được kêu gọi nên thánh.
Trong 266 bức thư chúng ta có được, ngỏ cùng các phần tử gia đình, cùng thành phần nữ tu và “những ngiười anh” thừa sai, Chị Thérèse chia sẻ sự khôn ngoan của chị, khai triển một giáo huấn thực sự là một thứ thực hành sâu xa trong việc hướng dẫn thiêng liêng cho các linh hồn.
Các bản văn của chị cũng bao gồm 54 Bài Thơ, một số có một chiều sâu về thần học và tu đức rất nhiều theo cảm hứng Thánh Kinh. Đáng được đề cập tới là Cuộc Sống Yêu Thương -Vivre d'Amour!... (bài 17) và Ôi Maria, Tại Sao Con Mến Mẹ - Pourquoi je t'aime, ơ Marie! (bài 54), một tổng hợp độc đáo về cuộc hành trình của Trinh Nữ Maria theo Phúc Âm. Trong thành phần tác phẩm văn chương này còn có 8 Récréations pieuses, tức những sáng tác về thi ca và kịch nghệ được cưu mang và thực hiện bởi vị Thánh này cho cộng đồng của chị vào một số ngày lễ theo truyền thống của Dòng Carmêlô. Trong số những bản văn này cần phải đề cập tới một loạt 21 Prières. Chúng ta cũng không thể nào quên được tuyển tập về tất cả những gì chị nói vào những tháng cuối đời của chị. Những lời nói này, có mấy ấn bản, được biết như là Novissima verba, cũng được đặt cho tên gọi là Derniers Entretiens.
7. Từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng các bản văn của Thánh Thérèse Hài Đồng Giêsu và từ tiếng vang chúng gây ra trong Giáo Hội, có thể nhận định thấy những khía cạnh nổi bật từ “giáo huấn xuất chúng” của chị, một giáo huấn là yếu tố chính yếu cho việc tặng ban tước hiệu Tiến Sĩ của Giáo Hội.
Trước hết, chúng ta thấy được một đặc sủng khôn ngoan. Người nữ tu Carmêlô trẻ này, không hề được học hành đặc biệt về thần học, nhưng được soi sáng bởi ánh sáng Phúc Âm, cảm thấy chị được vị Sư Phụ thần linh dạy dỗ, Vị như chị nói, là “Tiến Sĩ trên hết các Tiến Sĩ” (Ms A, 83v), và từ Người chị lãnh nhận “giáo huấn thần linh” (Ms B, 1r). Chị cảm thấy rằng những lời của Thánh Kinh được nên trọn nơi chị: “Ai là kẻ nhỏ bé hãy đến với Ta… Vì đối với ai bé mọn thì tình thương sẽ được chứng tỏ” (Ms B, 1v; cf Prv 9:4; Wis 6:6), và chị biết rằng chị được chỉ dẫn sống theo khoa học yêu thương, một khoa học được giấu đi trước thành phần khôn ngoan khéo léo, một khoa học được Vị Sư Phụ thần linh đoái thương tỏ ra cho chị như cho những thơ nhi (Ms A, 49r; cf. Lk 10:21-22).
Đức Piô XI, vị đã coi Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu là “Tinh Tú của giáo triều ngài”, đã không ngần ngại chủ trương trong bài giảng của ngài trong ngày tuyên phong hiển thánh cho chị, 17/5/1925: “Thần chân lý đã cởi mở và làm cho chị biết những gì Ngài thường giấu thành phần khôn ngoan khéo léo và tỏ ra cho những kẻ bé mọn; bởi thế mà chị đã hoan hưởng kiến thức về những sự thuộc thượng giới – như Vị Tiền Nhiệm vừa qua của Ta chứng thực – đến nỗi chị tỏ cho mọi người khác thấy được con đường cứu độ chắc chắn” (AAS 17 [1925], p. 213).
Giáo huấn của chị chẳng những am hợp với Thánh Kinh và đức tin Công giáo, mà còn là những gì trổi vượt (“eminet”) về chiều sâu và cái tổng hợp khôn ngoan nó đạt được. Giáo huấn của chị cùng một lúc là lời tuyên xưng đức tin của Giáo Hội, là một cảm nghiệm về mầu nhiệm Kitô giáo và là một đường lối nên thánh. Chị Thérèse cống hiến một tổng hợp chín mùi về linh đạo Kitô giáo: Chị tổng hợp thần học và đời sống thiêng liêng; chị cho thấy mình có một sức mạnh và thẩm quyền, một khả năng lớn lao trong việc thuyết phục và thông đạt, như được chứng tỏ nơi việc tiếp nhận và phổ biến sứ điệp của chị trong Dân Chúa.
Giáo huấn của Chị Thérèse cho thấy, bằng sự gắn bó và mối hiệp nhất hòa hợp, những tín điều của đức tin Kitô giáo như là một giáo huấn của chân lý và là một cảm nghiệm của đời sống. Về vấn đề này không được quên là việc hiểu biết về kho tàng đức tin được các Vị Tông Đồ chuyển đạt, như Công Đồng Chung Vaticanô II dạy, đạt được tiến bộ trong Giáo Hội nhờ ơn trợ giúp của Thánh Linh: “Có sự gia tăng ved62 minh thức ở những thực tại và lời nói được truyền đạt… nhờ việc chiêm niệm và học hỏi của tín hữu là thành phần ngẫm suy những điều ấy trong lòng mình (cf. Lk 2:19 và 51). Việc phát triển này xuất phát từ cảm quan sâu xa về những thực tại thiêng liêng họ cảm nghiệm được. Và nó xuất phát từ việc giảng dạy của những ai đã lãnh nhận, cùng với quyền thừa kế trong hàng giáo phẩm, đặc sủng vững chắc về chân lý” (Dei Verbum, n. 8).
Trong các bản văn của Chị Thérèse thành Lisieux, chúng ta có lẽ không thấy, như nơi các vị Tiến Sĩ khác, một trình bày uyên bác về những điều liên quan tới Thiên Chúa, nhưng chúng ta có thể nhận thấy được một chứng từ sáng ngời về đức tin, một đức tin, khi chấp nhận bằng lòng yêu mến tin tưởng việc hạ cố và cứu độ xót thương của Thiên Chúa nơi Chúa Kitô, tỏ ra cho thấy mầu nhiệm và thánh đức của Giáo Hội.
Bởi thế, chúng ta có thể chính đáng nhận thấy nơi vị Thánh thành Lisieux này đặc sủng của một Tiến Sĩ Giáo Hội, vị tặng ân Thánh Linh chị đã lãnh nhận để sống và thể hiện cảm nghiệm đức tin của chị, và vì kiến thức đặc biệt của chị về mầu nhiệm Chúa Kitô. Nơi chị thấy được những tặng ân của luật mới, tức là ân sủng Thánh Linh, Đấng tỏ mình ra nơi đức tin sống động tác hành qua đức bác ái (cf. St Thomas Aquinas, Summa Theol., I-II, q. 106, art. 1; q. 108, art. 1).
Chúng ta có thể áp dụng vào Chị Thérèse những gì được vị Tiền Nhiệm Phaolô VI của tôi nói về một vị Thánh trẻ khác và là Tiến Sĩ của Giáo Hội, đó là Thánh Catherine thành Siena: “Cái tác động chúng ta nhất về vị Thánh này đó là sự khôn ngoan thâm sâu của chị, tức là, tình trạng chị thấm nhiễm thấu suốt, sâu xa và say mê những chân lý thần linh và các mầu nhiệm đức tin… Việc đồng hóa này chắc chắn là một ân huệ của những tặng ân thiên phú đặc biệt nhất, nhưng cũng là những gì kỳ diệu hiển nhiên do bởi đặc sủng khôn ngoan của Thánh Linh” (AAS 62 [1970], p. 675).
8. Với giáo huấn chuyên biệt và kiểu cách không thể sai lầm của mình, Chị Thérèse xuất hiện như là một vị thày đích thực dạy đức tin và đời sống Kitô giáo. Trong các bản văn của chị, như được các Đức Thánh Cha nói tới, có sự hiện diện ban sự sống của truyền thống Công giáo là truyền thống dồi dào phong phú, như Công Đồng Chung Vaticanô II lại nói, “được tuôn ra nơi việc thực hành và đời sống của Giáo Hội, nơi niềm tin tưởng và việc nguyện cầu của Giáo Hội” (Dei Verbum, 8).
Nếu lưu ý tới thể loại văn chương, tương xứng với học vấn và văn hóa của chị, và nếu thẩm định theo những hoàn cảnh đặc biệt của thời đại chị sống, thì giáo huấn của Chị Thérèse thành Lisieux cho thấy một cách hòa hợp thiên định với truyền thống chân thực nhất của Giáo Hội, cả về việc giáo huấn của chị tuyên xưng đức tin Công giáo cũng như việc giáo huấn của chị phát động một đời sống thiêng liêng chân thực nhất, một đời sống thiêng liêng được trình bày cho tất cả mọi tín hữu hiểu bằng một ngôn từ sống động khả đạt.
Chị đã làm cho Phúc Âm chiếu rọi một cách thu hút trong thời đại của chúng ta đây; chị đã có sự mệnh làm cho Giáo Hội là Nhiệm Thể của Chúa Kitô được nhận biết và yêu mến; chị đã giúp vào việc chữa lành những linh hồn khắc khổ và sợ hãi của Bè Rối Jansenism chủ trương nhấn mạnh tới phép công thẳng của Thiên Chúa hơn là lòng thương xót thần linh. Nơi tình thương của Thiên Chúa chị đã chiêm ngắm và tôn thờ tất cả mọi thiện hảo thần linh, vì “cho dù đức công minh của Ngài (và có lẽ còn hơn cả các thiện hảo khác nữa) đối với con dường như được mặc lấy tình yêu” (Ms A, 83v). Bởi vậy, chị đã trở nên hình ảnh sống động của Vị Thiên Chúa, Đấng, theo lời nguyện cầu của Giáo Hội, “cho thấy quyền toàn năng của mình nơi tình thương và việc thứ tha của Ngài” (cf Sách Lễ Rôma, lời nguyện mở đầu, Chúa Nhật 26 Thường Niên).
Cho dù Chị Thérèse không có một hệ thống giáo huấn thực sự và thích đáng, nhưng cái đặc biệt rạng ngời về giáo huấn tỏa ra từ các bản văn của chị, những bản văn, như thể được đặc sủng của Thánh Linh, đã nắm bắt được chính cốt lõi của sứ điệp Mạc Khải bằng một nhãn quan mới mẻ độc đáo, cho thấy một giáo huấn mang một phẩm chất xuất chúng.
Cốt lõi sứ điệp của chị thực sự là chính mầu nhiệm Thiên Chúa Tình Yêu, về Vị Thiên Chúa Ba Ngôi, vô cùng trọn hảo nơi bản thân mình. Nếu cảm nghiệm thiêng liêng chân thực của Kitô giáo cần phải am hợp với những chân lý mạc khải, trong đó Thiên Chúa thông đạt bản thân mình ra cùng với mầu nhiệm ý muốn của Ngài (cf. Dei Verbum, 20, thì phải nói rằng Chị Thérèse đã cảm nghiệm được mạc khải thần linh, đến nỗi chiêm ngắm được những chân lý sâu xa của đức tin chúng ta được liên kết trong mầu nhiệm sự sống Ba Ngôi. Ở tột đỉnh, như nguồn mạch và đích điểm, là tình yêu nhân hậu của ba Ngôi Thần Linh, như chị diễn tả như thế, nhất là trong Lời Nguyện Hiến Tế cho Tình Yêu Nhân Hậu. Ở gốc rễ, về phía chủ thể, đó là cảm nghiệm được là con cái thừa nhận của Chúa Cha trong Chúa Giêsu; đó là ý nghĩa đích thực nhất của vai trò con cái thiêng liêng, tức là cảm nghiệm về tình nghĩa con cái thần linh, theo tác động của Thánh Thần. Cũng ở tận căn gốc, và đứng trước chúng ta, đó là tha nhân của chúng ta, là những người khác, mà vì phần rỗi của họ, chúng ta cần phải hợp tác với Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, bằng cùng một tình yêu nhân hậu như của Người.
Nhờ vai trò làm con cái thiêng liêng này người ta cảm nghiệm thấy rằng hết mọi sự đều xuất phát từ Thiên Chúa, quay trở về với Ngài và ở trong Ngài, cho phần rỗi của tất cả mọi người, trong mầu nhiệm của tình yêu nhân hậu. Đó là sứ điệp về giáo huấn đã được giảng dạy và sống bởi vị Thánh này.
Như đối với các vị Thánh của Giáo Hội trong mọi thời đại, với chị cũng thế, theo cảm nghiệm thiêng liêng của chị, Chúa Kitô là tâm điểm và là tất cả Mạc Khải. Chị Thérèse biết Chúa Giêsu, yêu Người và làm cho người được mến yêu bằng một lòng thiết tha của một người phu thê. Chị đã thấu nhập các mầu nhiệm về thời thơ ấu của Người, những lời nói của Người trong Phúc Âm, cuộc khổ nạn của Người Tôi Tớ khổ đau hằn lên Thánh Nhan của Người, nơi ánh quang rạng ngời sự sống hiển vinh của Người, nơi việc hiện diện Thánh Thể của Người. Chị đã ca khen tất cả những biểu lộ yêu thương thần linh của Chúa Kitô, như chúng được trình bày trong Phúc Âm (cf. PN 24, Jésus, mon Bien-Aimé, rappelle-toi!).
Chị Thérèse đã được một ánh sáng đặc biệt về thực tại của Nhiệm Thể Chúa Kitô, về tính chất khác biệt nơi những đặc sủng trong Giáo Hội, những tặng ân của Thánh Linh, về quyền năng tối thượng của tình yêu, một tình yêu một cách nào đó là chính con tim của Giáo Hội, nơi chị tìm thấy ơn gọi của mình như là một tâm hồn chiêm niệm và truyền giáo (cf. Ms B, 2r·-3v·).
Sau hết, trong những chương độc đáo nhất về giáo huấn thiêng liêng của chị, chúng ta cần phải nhắc lại việc Chị Thérèse khôn ngoan đi sâu vào mầu nhiệm và cuộc hành trình của Trinh Nữ Maria, đạt được những thành quả rất gần gũi với giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II ở chương tám trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân cũng như với những gì chính tôi đã dạy trong Thông Điệp Mẹ Đấng Cứu Chuộc – Redemptoris Mater ngày 25/3/1987.
9. Nguồn mạch chính yếu cho cảm nghiệm thiêng liêng của chị và cho
giáo huấn của chị đó là Lời Chúa trong Cựu Ước và tân Ước. Chính chị đã thú
nhận như thế, đặc biệt nhấn mạnh đến lòng chị say mê Phúc Âm (cf. Ms A,
83v). Các bản văn của chị chứa đựng trên 1 ngàn lời trích dẫn từ thánh kinh:
trên 400 từ Cựu Ước và trên 600 từ Tân Ước.
Mặc dù không đủ học hỏi và thiếu những nguồn liệu để học hỏi và giải thích
các sách thánh, Chị Thérèse đã tự trầm mình vào việc suy niệm Lời Chúa với
một đức tin và lòng tự phát đặc biệt. Dưới ảnh hưởng của Thánh Linh, chị đã
đạt được một kiến thức sâu xa về Mạc Khải cho chính bản thân chị và cho
người khác. Nhờ việc chị ưu ái tập trung vào Thánh Kinh – chị thậm chí còn
muốn học tiếng Do Thái và Hy Lạp để hiểu hơn nữa tinh thần và chữ nghĩa của
các cuốn sách thánh – chị đã tỏ cho thấy tầm mức quan trọng của các nguồn
thánh kinh nơi đời sống thiêng liêng, chị đã nhấn mạnh đến tính chất độc đáo
và mới mẻ của Phúc Âm, chị đã chừng mực vun trồng việc dẫn giải thánh kinh
có tính cách thiêng liêng Lời Chúa trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Nhờ đó chị
đã khám phá ra những kho tàng kín ẩn, khi nhận lấy cho mình những lời và
những đoạn, một cách có lắm khi quyết liệt về phương diện siêu nhiên, như
khi chị đọc các bản văn của Thánh Phaolô (cf.1Cor 12-13), chị đã nhận ra ơn
gọi yêu mến của chị (cf Ms B, 3r-3v). Được soi sáng bởi Lời mạc khải, Chị
Thérèse đã viết những trang sáng tỏ về mối hiệp nhất giữa tình yêu Thiên
Chúa và tình yêu tha nhân (cf. Ms C,11v-19r); và chị coi lời cầu nguyện của
Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly như chính là lời chị bày tỏ để chuyển cầu cho
phần rỗi của tất cả mọi người (cf Ms C, 34r-35r).
Giáo huấn của chị, như đã nói, am hợp với giáo huấn của Giáo Hội. Từ thời
thơ ấu chị đã được gia đình chị dạy cho biết tham phần vào việc cầu nguyện
và tôn thờ trong phụng vụ. Trong vấn đề sửa soạn cho việc Xưng Tội lần đầu,
Rước Lễ lần đầu và bí tích Thêm Sức, chị đã cho thấy chứng cớ về một lòng
mến yêu đặc biệt đối với những sự thật của đức tin, và chị đã học Giáo Lý
hầu như từng chữ một (cf. Ms A, 37r-37v.). Về cuối đời, chị đã viết Kinh Tin
Kính Các Tông Đồ bằng máu của chị, như là một biểu lộ lòng chị dứt khoát gắn
bó với việc tuyên xưng đức tin.
Ngoài những lời Thánh Kinh và giáo huấn của Hội Thánh, Chị Thérèse khi còn
trẻ được nuôi dưỡng bởi giáo huấn của cuốn Gương Chúa Kitô, một cuốn sách,
như chính chị công nhận, chị hầu như thuộc lòng (cf. Ms A, 47r). Quan trọng
cho việc hoàn trọn ơn gọi của chị là tu sĩ Dòng Carmêlô là những bản văn về
đàng thiêng liêng của Mẹ Sáng Lập Teresa Giêsu, nhất là những bản văn giải
thích về ý nghĩa chiêm niệm và giáo hội nơi đặc sủng của Dòng Carmêlô của Mẹ
Teresa (cf. Ms C, 33v). Thế nhưng, Chị Thérèse được đặc biệt nuôi dưỡng bởi
giáo huấn thần bí của Thánh Gioan Thánh Giá, vị là sư phụ thiêng liêng thực
sự của chị (cf. Ms, 83r). Bởi vậy, không lạ gì nếu chị là người từng là môn
đệ nổi nang nơi học đường của hai vị Thánh này, những vị sau đó đã được
tuyên bố là các vị Tiến Sĩ của Hội Thánh, cần phải trở thành một thày dạy
đời sống thiêng liêng.
10. Giáo huấn thiêng liêng của Chị Thérèse thành Lisieux đã giúp vào việc mở rộng vương quốc của Thiên Chúa. Nhờ gương thánh đức của chị, gương trọn hảo trung thành với Mẹ Giáo Hội, gương hoàn toàn hiệp thông với Tòa Thánh Phêrô, cũng như nhờ những ân sủng đặc biệt chị mang lại cho nhiều anh chị em thừa sai, chị đã góp phần phục vụ đặc biệt cho việc loan báo và cảm nghiệm mới mẻ về Phúc Âm của Chúa Kitô cũng như cho việc phát triển đức tin Công giáo ở hết mọi quốc gia trên trái đất.
Không cần dài giòng về tính cách phổ quát của giáo huấn Chị Thérèse cũng như về việc rộng rãi chấp nhận sứ điệp của chị trong thế kỷ này từ khi chị qua đời: nó đã được ghi nhận rõ ràng đàng hoàng trong những nghiên cứu được thực hiện cho việc ban tặng chị tước hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh.
Một sự kiện đặc biệt quan trọng về vấn đề này đó là Huấn quyền của Giáo Hội chẳng những công nhận thánh đức của Chị Thérèse mà còn đề cao sự khôn ngoan nơi giáo huấn của chị nữa. Đức Piô X đã nói rằng chị là “vị thánh lớn nhất trong thời tân tiến”. Khi hân hoan nhận được ấn bản Ý ngữ đầu tiên Truyện Một Tâm Hồn, ngài đã ca ngợi những hoa trái cxuất phát từ linh đạo của Chị Thérèse. Đức Benedict XV, vào dịp tuyên bố các nhân đức anh hùng của vị Tôi Tớ Chúa này đã giải thích con đường thơ ấu thiêng liêng và ca ngợi kiến thức về các thực tại thần linh Thiên Chúa đã ban cho Chị Thérèse để chị dạy những người khác các đường lối cứu độ (cf. AAS 13 [1921], pp. 449-452). Vào cả dịp phong chân phước lẫn phong thánh cho chị, Đức Piô XI đã dẫn giải và khuyến dụ về giáo huấn của vị Thánh này, nhấn mạnh đến cái minh thức thần linh đặc biệt của chị (Discorsi di Pio XI, vol. I, Turin 1959, p. 91) và cho chị là một thày dạy đời sống (cf. AAS 17 [1925], pp. 211-214). Khi Đền Thờ thành Lisieux được thánh hiến vào năm 1954, Đức Piô XII đã đề cập nhiều điều, trong đó, ngài nói rằng Chị Thérèse đã thấp nhập tới tận tâm điểm của Phúc Âm qua giáo huấn của chị (cf. AAS 46 [1954], pp. 404-408). Đức Hồng Y Angelo Roncalli, vị Giáo Hoàng tương lai Gioan XXIII, đã đến thăm viếng Lisieux mấy lần, nhất là khi ngài làm Khâm Sứ Tòa Thánh ở Paris. Vào các dịp khác nhau trong giáo triều của mình, ngài đã tỏ lòng mộ mến vị Thánh này và giải thích mối liên hệ giữa giáo huấn của Thánh Têrêsa Avila với người con của thánh nhân là Chị Thérèse thành Lisieux (Discorsi, Messaggi, Colloqui, vol. II [1959-1960], pp. 771-772). Nhiều lần trong khi Công Đồng Chung Vaticanô II đang diễn tiến, các vị Nghị Phụ cũng đã nhắc đến gương mẫu và giáo huấn của chị. Vào dịp kỷ niệm 100 năm qua đời của chị, Đức Phaolô VI đã viết một bức Thư gửi cho Đức Giám Mục Bayeux và Lisieux, trong đó ngài ca ngợi gương mẫu của Chị Thérèse trong việc tìm kiếm Thiên Chúa, coi chị như là bậc thày của việc cầu nguyện và của thần đức cậy, và là mô phạm của mối hiệp thông với Giáo Hội, kêu gọi thành phần giáo chức, giáo dục, mục tử và thần học gia hãy học hỏi nghiên cứu giáo huấn của chị (cf. AAS 65 [1973], pp. 12-15). Chính tôi, vào một số lần đã hoan hỉ nhắc nhở về con người và giáo huấn của vị Thánh này, nhất là trong chuyến hành hương không thể quên được của tôi ở Lisieux ngày 2/6/1980, thời điểm tôi đã nhắc nhở mọi người rằng: “Người ta có thể xác tín nói về Chị Thérèse thành Lisiuex rằng Thần Linh Thiên Chúa đã giúp cho tâm can của chị có thể trực tiếp tỏ ra cho dân chúng trong thời đại chúng ta mầu nhiệm nền tảng này, th đã giúp cho tâm can của chị có thể trực tiếp tỏ ra cho dân chúng trong thời đại chúng ta mầu nhiệm nền tảng này, thực tại về Phúc Âm ấy… ‘Con đường bé nhỏ’ là con đường ‘thơ ấu thánh hảo’. Có một cái gì đó đặc thù nơi con đường này, đó là cái thiên phú của Thánh Thérèse thành Lisieux. Đồng thời nó cũng khẳng định và làm mới mẻ sự thật căn bản nhất và phổ quát nhất. Còn sự thật nào của sứ điệp Phúc Âm thực sự căn bản hơn và phổ quát hơn sự thật này: Thiên Chúa là Cha của chúng ta và chúng ta là con cái của Ngài” (Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. III/1 [1980], p. 1659).
Những chi tiết đơn giản này dựa vào một chuỗi liên tục những chững từ của các vị Giáo Hoàng thuộc thế kỷ này về thánh đức và giáo huấn của Thánh Thérèse Hài Đồng Giêsu, cũng như vào việc lan truyền toàn cầu sứ điệp của chị là những gì hiển nhiên cho thấy mức độ Giáo Hội đã chấp nhận giáo huấn thiêng liêng của vị Thánh trẻ này nơi các vị mục tử và thành phần tín hữu của mình.
Một dấu hiệu cho thấy giáo hội chấp nhận giáo huấn của vị Thánh này đó là lời kêu gọi sống giáo huấn của chị nơi nhiều văn kiện thuộc Huấn Quyền bình thường của Giáo Hội, nhất là khi nói về ơn gọi chiêm niệm và truyền giáo, về lòng tin tưởng vào vị Thiên Chúa công chính và nhân hậu, về niềm hân hoan của Kitô giáo và về ơn nên thánh. Chứng cớ cho thấy sự kiện này đó là sự hiện diện của giáo huấn chị nơi Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo mới đây (các khoản 127, 826, 956, 1011, 2011, 2558). Chị là người rất yêu thích học hỏi đức tin nơi giáo lý xứng đáng được bao gồm trong số nhiều chứng nhân thế giá của tín lý Công giáo.
Chị Thérèse có được một tính cách phổ cập phi thường. Con người của chị, sứ điệp Phúc Âm về “con đường bé nhỏ’ của lòng tin tưởng và của vai trò con cái thiêng liêng đã được chấp nhận và tiếp tục đón nhận một cách đặc biệt hân hoan vượt hết mọi biên giới.
Tầm ảnh hưởng của sứ điệp chị trước hết vươn tới những con người nam nữ có thánh đức và nhân đức anh hùng được cính Giáo Hội công nhận, tới các vị mục tử của Giáo Hội, tới các chuyên viên về thần học và tu đức học, tới các vị linh mục và chủng sinh, tơi các tu sĩ nam nữ, tới các phong trào giáo hội và các cộng đồng mới, tới hết mọi con người nam nữ thuộc mọi thân phận và ở mọi châu lục. Chị Thérèse đã cống hiến cho hết mọi người cái khẳng định của bản thân chị rằng mầu nhiệm Kitô giáo, mà chị là chứng nhân và tông đồ bằng cách nhờ cầu nguyện trở thành “tông đồ của các tông đồ”, như chị hiên ngang gọi mình như thế (Ms A, 56r), cần phải được hiểu theo nghĩa đen, một cách thực tế bao nhiêu có thể, vì nó có giá trị cho hết mọi thời và mọi nơi. Quyền lực của sứ điệp chị là ở chỗ ý nghĩa cụ thể của nó về cách thức làm thế nào tất cả mọi lời hứa của Chúa Giêsu được nên trọn nơi người tín hữu biến tin tưởng đón nhận trong đời sống của mình sự hiện diện cứu độ của Đấng Cứu Chuộc.
11. Tất cả những lý do ấy là chứng cớ rõ ràng cho thấy hợp thời biết bao giáo huấn của vị Thánh thành Lisieux cũng như về ảnh hưởng đặc biệt của sứ điệp chị tác dụng trên con người nam nữ trong thế kỷ của chúng ta. Ngoài ra, còn một số hoàn cảnh đã góp phần vào việc làm cho vấn đề chọn chị làm Thày Dạy của Giáo Hội trong thời đại của chúng ta thậm chí có một ý nghĩa hơn nữa.
Trước hết, Chị Thérèse là một nữ giới, thành phần khi tiến đến với Phúc Âm đã biết nắm bắt được cái phong phú kín ẩn của Phúc Âm với một cụ thể tính cùng với cái âm hưởng sâu xa của cuộc sống và sự khôn ngoan là những gì thuộc về cái thiên phú của nữ giới. Ví tính chất phổ quát của mình chị đã nổi bật trong muôn vàn phụ nữ thánh đức là thành phần ngời sáng về sự khôn ngoan Phúc Âm của các vị.
Chị Thérèse cũng là một con người chiêm niệm. Trong thầm lặng của Dòng Carmêlô của mình, chị đã sống một cuộc mạo hiểm cả thể của cảm nghiệm Kitô giáo cho tới độ biết được chiều rộng, chiều dài, chiều cao và chiều sâu của tình yêu Chúa Kitô (cf Eph 3:18-190. Thiên Chúa đã không muốn những bí mật của Ngài mãi giữ kín, nhưng để cho Chị Thérèse có thể loan báo những bí mật của Đức Vua (cf. Ms C, 2v). Bằng đời sống của mình, Chị Thérèse đã cống hiến một chứng từ và minh họa thần học về vẻ đẹp của đời sống chiêm niệm như là việc hoàn toàn hiến thân cho Chúa Kitô, Vị Phu Quân của Giáo Hội, và như là một sự xác nhận thượng quyền của Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Đời sống của chị là một đời sống kín ẩn mầu nhiệm sinh hoa kết trái trong việc truyền bá Phúc Âm và làm cho Giáo Hội và thế giới thơm phức mùi vị ngọt ngào của Chúa Kitô (cf LT 159, 2v).
Sau hết, Chị Thérèse thành Lisieux là một con người trẻ. Chị đã đạt tới tầm mức trưởng thành về thánh đức trong giai đoạn đầu của tuổi trẻ (cf. Ms C, 4r). Bởi thế, chị trở thành như là một Thày Dạy đời sống phúc âm, đặc biệt có tác dụng nơi việc soi chiếu đường đi nước bước cho giới trẻ, thành phần cần phải là những lãnh đạo viên và là những chứng nhân của Phúc Âm cho các thế hệ mới.
Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu chẳng những là vị Tiến Sĩ trẻ nhất của Giáo Hội mà còn là một vị tiến sĩ gần chúng ta nhất về thời gian, sự kiện như thể nhấn mạnh tới tính cách liên tục trong việc Thần linh Chúa sai các sứ giả của Ngài đến với Giáo Hội, những con người nam nữ là thày dạy và là những chứng nhân cho đức tin. Thật thế, bất cứ những gì đổi thay có thể được nhận thấy nơi giòng lịch sử và bất chấp cái âm vang chúng thường gây ra trên đời sống và ý nghĩ của cá nhân ở mọi lứa tuổi, chúng ta không bao giờ được lạc mất cái tính chất liên tục liên kết các vị Tiến Sĩ của Hội Thánh với nhau: ở hết mọi bối cảnh lịch sử, các vị vẫn là những chứng nhân cho một Phúc Âm bất biến, và với ánh sáng cùng sức mạnh xuất phát từ Thánh Linh, các vị trở thành sứ giả của Phúc Âm, hướng về việc loan báo Phúc Âm một cách tinh tuyền cho thành phần đương thời của các vị. Chị Thérèse là một Thày Dạy cho thời đại của chúng ta, một thời đại khao khát những lời sự sống và thiết yếu, những tác động chứng nhân anh hùng và khả tín. Vì lý do ấy chị cũng được mến yêu và chấp nhận bởi anh chị em thuộc các cộng đồng Kitô giáo khác, thậm chỉ bởi cả những người không phải Kitô hữu.
12. Năm nay, năm đang cử hành bách niên cái chết hiển vinh của Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan, trong lúc chúng ta đang dọn mừng Đại Năm Thánh 2000, sau khi nhận được rất nhiều thỉnh nguyện thư có thế giá, nhất là từ nhiều Hội Đồng Giám Mục khắp thế giới, và sau khi chấp nhận dơn chính thức, hay Supplex Libellus, ngỏ cùng tôi vào ngày 8/3/1997 từ Đức Giám Mục Bayeux va Lisieux, cũng như từ Bề Trên Tổng Quyền Dòng Carmêlô Đi Chân không của T rinh Nữ Maria Núi Carmêlô và từ vị Tổng Cáo Thỉnh Viên của cùng dòng, tôi quyết định trao phó cho Thánh Bộ Điều Tra Phong Thánh là cơ quan có thẩm quyền về vấn đề này, trong việc nghiên cứu đặc biệt về vấn đề điều tra để ban tặng danh hiệu Tiến Sĩ cho vị Thánh này, “sau khi nghe ý kiến của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin liên quan tới vấn đề tín lý xuất sắc” (Apost. Const. Pastor Bonus, n. 73).
Sau khi đã thu thập những văn kiện cần thiết, hai Thánh Bộ trên đã đặt vấn đề trong các cuộc họp với những vị cố vấn của hai cơ quan này: Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin vào ngày 5/5/1997, liên quan tới vấn đề “tín lý xuất sắc”, và Thánh Bộ Điều Tra Phong Thánh vào ngày 29/5 cùng năm, để khảo sát “Positio” đặc biệt. Vào ngày 17/6 sau đó, các vị Hồng Y và Giám Mục là phần tử của hai Thánh Bộ này, thực hiện một phương thức do tôi chuẩn y trong dịp này, đã gặp gỡ trong một khóa họp khoáng đại liên bộ và bàn luận về vấn đề hồ sơ, đều tỏ ý nghĩ đồng loạt ưng thuận về vấn đề ban tặng tước hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội Hoàn Vũ cho Thánh Thérèse Hài đồng Giêsu và Thánh Nhan. Bản thân tôi được thông báo về ý nghĩ này từ Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, cũng như từ Quyền Tổng Trưởng Thánh Bộ Điều Tra Phong Thánh là Đức Tổng Giám Mục Alberto Bovone, Tổng Giám Mục hiệu tòa Caesarea ở Numidia.
Theo đó, vào ngày 24/8 vừa rồi, trong khi nguyện kinh Truyền Tin trước sự hiện diện của các vị Giám Mục và trước đám rất đông giới trẻ qui tụ lại từ khắp nơi trên thế giới ở Paris cử hành Ngày Giới Trẻ Thế Giới 12, tôi đích thân loan báo ý định tuyên bố Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan làm Tiến Sĩ của Giáo Hội Hoàn Vũ trong khi cử hành Chúa Nhật Khánh Nhật truyền Giáo ở Rôma.
Hôm nay, ngày 19/10/1997, tại Quảng Trường Thánh Phêrô, đầy những tín hữu từ khắp nơi trên thế giới, và trước sự hiện diện của rất đông các vị Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục, trong khi long trọng cử hành Thánh Lễ, tôi tuyên bố Chị Thérèse Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan làm Tiến Sĩ của Giáo Hội Hoàn Vũ bằng những lời lẽ như sau: Để thỏa đáng những mong ước của nhiều Chư Huynh trong hàng Giáo Phẩm và rất nhiều tín hữu khắp thế giới, sau khi tham khảo Thánh Bộ Điều Tra Phong Thánh và nghe ý kiến của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin liên quan tới giáo huấn xuất sắc của chị, bằng một kiến thức vững vàng và sau một thời gian dài suy nghĩ, bằng tất cả thẩm quyền tòa thánh của Mình, Chúng Tôi tuyên bố Thánh Thérèse Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan, trinh nữ, là một vị Tiến Sĩ của Giáo Hội Hoàn Vũ. Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.
Điều này được thích đáng ban bố, Chúng Tôi chỉ thị Tông Thư này phải được cẩn thận bảo trì và hoàn toàn có công hiệu hiện nay cũng như trong tương lai; bởi thế, nó phải được nhận định và xác định như là một quyền lợi, và bất cứ những gì phản do nỗ lực của bất cứ ai, bởi bất cứ thẩm quyền nào, biết hay không biết, đều vô hiệu và bất thành.
Làm tại Rôma, ở Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 19/10/1997, năm thứ 20 giáo triều của tôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Lễ Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu
mở màn cho Thánh Ðức Mẹ Mân Côi hằng năm.
Sau đây là bài thơ "tại sao con mến Mẹ?" của chị
liên quan đến các mầu nhiệm Mân Côi Mẹ tham dự với Con Mẹ.
Con vẫn hỏi vì sao con mến Mẹ!
Sao lòng con luôn rung cảm vì yêu!
Vì sao khi suy tưởng vẻ cao siêu,
Của Mẹ, mà lòng con không sợ hãi!
Con say sưa và ngắm nhìn mê mải,
Mẹ uy linh vượt trên khắp thánh thần.
Thân con là cát bụi vướng phù vân,
Maria! Con cúi đầu trước bệ.
Trẻ thơ ngây cần say yêu tình Mẹ.
Chia sầu đau và san sẻ niềm vui.
Để dắt con thoát sóng thẳm dập vùi,
Mẹ đã tốn biết bao là châu lệ!
Ngắm đời Mẹ theo tin mừng vạch vẽ,
Con dám nhìn, dám gần lại ngay bên.
Khó chi đâu con dẫu đứa con hèn,
Cũng như con, Mẹ khổ đau và chết.
Khi sứ thần báo tin vui kỳ tuyệt,
Mời Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa toàn năng,
Con ưa nhìn lòng Mẹ trắng hơn băng,
Kho trinh đức chói chang trời mầu nhiệm.
Ôi lạy Mẹ, Mẹ Đồng Trinh Vô Nhiễm,
Chúa qúi yêu lòng Mẹ vượt trời cao,
Lòng khiêm nhu, lòng êm dịu ngọt ngào,
Hoài thai Chúa Giêsu, nguồn phúc cả.
Mẹ tự xưng là nữ tỳ nhu hạ,
Nhưng Chúa yêu đã yêu dấu phận hèn.
Đức nhu mì nâng Mẹ vượt cao lên,
Mẹ kéo cả Ba Ngôi vào lòng Mẹ.
Chúa Thánh Linh đem tình yêu vẹn vẽ,
Bao trùm lên hồn Mẹ rất trinh trong.
Và Ngôi Con xuống chiếm ngự cõi lòng,
Nên Anh Cả của đoàn em tội lệ.
Maria dẫu thân con nho bé,
Con cũng từng chiếm hữu Chúa vô cùng,
Như Mẹ, con không run sợ hãi hùng:
Khổ của Mẹ cũng cùng con chia sẻ.
Maria! Đây con là con Mẹ,
Phúc Mẹ hiền không trối lại con sao?
Khi tẻ đắng con đón Chúa ngự vào,
Chúa đã ngờ được nghỉ an trong Mẹ.
Ôi Nữ Vương của triều thần diễm lệ,
Cho con theo chân Mẹ, cảm mùi hương,
Đường hẹp đi Mẹ cho thấy tỏ tường,
Luôn thực hiện những khiêm hèn nhỏ mọn.
Maria! Con muốn là con nõn.
Cõi vinh quang trần thế tựa phù vân.
Xin dậy con bài yêu mến thân nhân,
Mà Mẹ đã thi hành nơi thân quyến.
Thành Bê-Lem một chiều mùa đông úa,
Mẹ đã từng bị xua đuổi khinh chê,
Vì nghèo nàn. Hàng quán qúi sang kia,
Chỉ tiếp đón những hạng người quyền phú.
Mẹ nghèo nàn đành hang lừa tạm trú,
Ngay nơi đây Mẹ sinh Chúa Tình Yêu.
Ôi Mẹ là Mẹ Chúa cả cao siêu!
Mẹ vĩ đại biết bao trong nghèo cực!
Con thấy Đấng Vô Cùng lên tiếng khóc,
Trong lớp khăn đơn bạc quấn quanh thân.
Mẹ ơi! Con đâu tị với Thiên Thần?
Chúa các vị là Anh con chí ái.
Con cao lời tụng ca tình hà hải,
Mẹ nở ra Bông Hoa Thánh Thần Linh.
Con mến yêu nghe khúc hát an bình.
Mẹ nắm giữ những điều trong tim dạ.
Mẹ khuất tịch với tâm tình khiêm hạ,
Cùng đoàn người phụ nữ khác dâng con.
Mẹ hiến dâng Cứu Chúa các linh hồn,
Vị lão đại ấp yêu vòng tay ấm,
Còn cười tươi vang lên bài ca gấm,
Nhưng rồi thôi lệ nóng đã tuôn tràn.
Ôi tương lai! Một mũi nhọn gươm đao,
Si-Mê-An đã báo tin đau khổ.
Rồi cho đến suốt chiều đời loang đổ,
Mũi gươm đau vẫn đâm xé tâm tình:
Mẹ rụng rời từ tạ đất cha sinh,
Tránh cơn giận của một vì bạo chúa.
Trong lòng Mẹ trẻ Giêsu yên ngủ,
Thánh Giuse giục giã vội lên đường.
Mẹ lĩnh vâng không một chút tơ vương:
Mẹ đi ngay không dặn dò trì hoãn.
Đất Ai-Cập Mẹ dừng chân trú tạm.
Tâm hồn vui nhủ mồ hôi bần cùng,
Vì Giêsu là đất tổ thiên cung.
Thiếu chi nữa chuỗi tháng ngày lưu lạc.
Nhưng than ôi! Những ngày vui tan tác.
Nơi đền thờ Mẹ lạc mất Con yêu.
Ôi mênh mông! Biển cả đắng tiêu điều!
Trẻ Giêsu suốt ba ngày biệt tích.
Lúc tái ngộ tình yêu đương cảm kích:
Nói cùng Con khi luật sĩ hững hờ:
Ôi Con ơi! Sao con nỡ làm ngơ?
Cha và Mẹ tìm Con bao lệ ứa!
Và Hài Nhi - Ôi nhiệm mầu Thiên Chúa,
Vừa trả lời, vừa giơ rộng cánh tay:
Tìm Con chi? Con phải nghĩ từng giây
Đến công việc của Cha Con trao phó.
Và Tin Mừng kể thêm rằng:
từ đó, Chúa Hài Nhi sống tuân phục Mẹ Cha.
Lòng con dang dang cảm động thiết tha,
Chúa vâng lịnh ý tình bao yêu mến.
Bây giờ con mới hiểu lời mầu nhiệm,
Vua của con đáp Mẹ ở đền thờ.
Mẹ ơi, con Mẹ muốn để tình thơ,
Dìu linh hồn giữa đêm tin tăm tối.
Vua trời cao muốn vạch đường chỉ lối,
Để Mẹ vui trong ưu não tâm thần:
Khổ đau là hạnh phúc ở trần gian,
Vâng, đau khổ vì yêu là hạnh phúc,
Giêsu! Hãy thi hành lời hối thúc!
Xin Mẹ thưa cùng Chúa chớ lo con:
Con sẵn vâng Người khuất khỏi tâm hồn,
Cho đến ngày đức tin thành hoàn tất.
Na-za-rét, ôi Nữ Trinh ẩn dật,
Mẹ từng qua cuộc sống thật khiêm nghèo.
Không xuất thần, không phép lạ kèm theo,
Tô điểm sáng cuộc đời trên dương thế.
Trên dương thế số linh hồn thơ trẻ,
Thật đông ngần. Họ không sợ ngước trông,
Lên Mẹ yêu, Mẹ khôn sánh, khâm sùng,
Mẹ thích thú dẫn đưa về bất diệt.
Trong cuộc sống lưu đầy, đầy da diết,
Con muốn theo chân Mẹ suốt ngày đêm.
Ngước trông lên hồn con ngập êm đềm,
Tìm trong Mẹ những vực sâu tình ái.
Ánh Mẹ nhìn đuổi xa ngàn sợ hãi,
Sẽ dậy con khóc lóc với hoan ca.
Không khinh chê những yến tiệc thanh hoa,
Mẹ lại muốn tham gia và chúc tặng.
Thành Cana đôi tân hôn lo lắng:
Tiệc đang vui mà rượu cạn vơi rồi.
Mẹ ân cần thưa Con Mẹ khúc nhôi,
Tin chắc Chúa rộng ban nguồn an ủi,
Chúa Giêsu bề ngoài như từ chối:
Can chi đâu tới Mẹ và tới Con?
Nhưng thâm tâm, tim Chúa lại dập dồn:
Vì lời Mẹ đầu tiên làm phép lạ.
Một ngày kia trên cảnh đời rộn rã,
Từng đoàn dân nghe Chúa giảng Tin Lành.
Có người chen qua lớp lớp vây quanh,
Báo tin Chúa: Mẹ và anh em đến.
Và Con Mẹ, tình thương không bờ bến,
Với chúng con, trước quần chúng bao la
Ai anh em? Ai chị? Ai Mẹ Ta?
Nếu không phải là người vâng Thánh Ý?
Ôi Nữ Trinh, Mẹ
Tình Yêu tế nhị,
Nghe lời Con, Mẹ chẳng chút buồn rầu,
Mẹ còn vui vì ý tứ cao sâu:
Hồn chúng con là gia đình của Chúa.
Vâng, Mẹ vui, Mẹ vui mừng tràn trụa:
Cho chúng con, Chúa ban cả tran tung.
Nhìn tấm lòng Mẹ quảng đại mênh mang,
Sao chúng con còn không yêu mến Mẹ?
Yêu chúng con Mẹ đem lòng tinh tế:
Vì chúng con, Mẹ đành rút thâm tình.
Yêu là cho, là tận tuyệt hy sinh:
Mẹ chứng tỏ để dắt dìu nâng đỡ.
Chúa Cứu Chuộc hiểu lòng bao rộng mở,
Ắp tâm tình của Mẹ với trần gian.
Mẹ là nơi trú ẩn rất an toàn,
Chúa để lại khi về trời mong đợi.
Đỉnh Can-Vê một chiều kia nắng lụi,
Mẹ kề bên Thánh giá hiến dâng lên,
Như linh mục khi dâng lễ chuộc đền
Con của Mẹ để Cha nguôi nghĩa nộ.
Lời tiên tri từ xưa nay sáng tỏ:
Đớn đau nào quằn quại qúa như tôi!
Mẹ Đồng Công cộng tác lễ đền bồi,
Đã đổ hết máu đào trong tim Mẹ.
Nhà Gioan trở thành am lặng lẽ,
Môn đệ yêu thay cho Chúa Giêsu:
Lời Phúc Âm lần chót vang nghìn thu,
Rồi từ đó lặng im về đời Mẹ.
Ôi thanh lặng êm đềm! Ôi vắng vẻ!
Tỏ tình yêu vô giới của Ngôi Lời,
Muốn tụng ca tình Mẹ nhiệm mầu trôi,
Để hứng thú đoàn con nơi cực lạc.
Sắp rồi đây, con sẽ nghe thần nhạc,
Sắp rồi đây, con ngắm Mẹ trên trời.
Bình minh con, Mẹ đã mỉm cười tươi,
Khi chiều xế, Mẹ cười thêm nụ nữa!
Con sợ chi ánh vinh quang rực rỡ,
Của Mẹ: Con cùng Mẹ khổ đau,
Ôi Nữ Trinh, con hy vọng ngày sau:
Ôm gối Mẹ, con là con Mẹ mãi.
Chuyển ngữ từ Pháp ngữ: Bảo-Phác Mai-Tuyết.
(Bảo-Phác Mai-Tuyết” tên thật là Phan Thiện Giản,
một tu sĩ dòng Đức Mẹ Đồng Công,
người đã dịch sang Việt ngữ một số sách đạo đức,
như cuốn Vinh Quang Mẹ Maria của Thánh An-Phong,
vị sáng lập dòng Chúa Cứu Thế-
dưới bút hiệu chính thức là Phạm Duy Lễ”.
Bảo-Phác Mai-Tuyết là biệt hiệu được dịch gỉa sử dụng
duy cho bài thơ này mà thôi.
Bảo-Phác Mai-Tuyết là âm nghĩa
được dịch ra từ tên thánh khấn dòng của dịch gỉa,
đó là Bônifaciô Maria Mẹ Xuống Tuyết)”
Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Chìa khóa nhỏ kia ơi
Tôi phải phát ghen thôi,
Mỗi ngày em được mở
Nhà tạm của Chúa Trời.
Nhưng tôi cũng có thể,
Với đức tin mạnh mẽ
Mở được cửa nhà chầu,
Ẩn mình bên Thánh Thể.
***
Tôi ước mong được cháy,
Nơi cung thánh Chúa Trời
Ánh diệu huyền le lói.
Như đèn chầu kia thôi.
Nhưng lửa thiêng tôi đó
Là kiếm nhiều linh hồn,
Mỗi ngày dâng cho Chúa,
Làm họ cháy yêu thương. . .
Tôi ghen lúc bình minh,
Hời đá thánh xinh xinh!
Như nơi hang diễm phúc,
Được Thiên Chúa giáng sinh.
Lạy Chúa xin đoái thương
Ngự đến trong linh hồn,
Khác xa loài đá lạnh,
Hồn mà Chúa khát mong***
Hỡi khăn thánh mỹ miều!
Tôi ghen biết bao nhiêu,
Em được làm khăn trải
Cận kề Đấng tôi yêu.
Xin Mẹ đổi tim con
Thành khăn thánh trinh trong.
Để đỡ nâng hình bánh
Nơi Giêsu náu nương***
Đĩa thánh ôi! tôi ghen. . .
Vì Chúa ngự trên em,
Ôâi lạy Chúa cao cả
Thương ngự đến thân hèn.
Cho toại niềm mong mỏi
Đợi chi lúc chiều đời,
Bây giờ đây ngự đến,
Tôi thành Mặt Nhật thôi.***
Ước chi như Chén thánh
Chứa đựng Máu Chúa Trời!
Nhưng tôi mỗi buổi lễ
Đã được rước lấy rồi.
Hồn tôi Chúa ưa thích
Hơn chén ngọc bình vàng,
Trên bàn thờ, Máu Thánh
Cho tôi, chảy tuôn dòng.***
Giêsu, cây nho thánh,
Chắc Người đã hiểu rồi,
Con là chùm nho đỏ
Muốn tan nát vì Người.
Dưới bàn ép tiêu điều
Con chứng tỏ tình yêu.
Chẳng ước điều chi khác,
Muốn hủy tế mỗi chiều.***
Phúc thay con được lựa
Để hy sinh vì Chúa,
Như những hạt lúa mì;
Hạnh phúc nào hơn nữa!
Bạn yêu, xin mau đến
Con là một hiền thê
Con say sưa nhan thánh.
Hãy đồng hóa con đi1896.
Xuân Thu dịch từ "Mes desir près du Tabermacle".
Khởi đi từ 'lòng tham' rất trẻ thơ: "Em chọn tất cả!...", cô bé Têrêxa Hài Đồng Giêsu - đã sống trọn vẹn cuộc lữ hành trần thế của mình. Đỉnh cao 'lòng tham' của Têrêxa chính là chiếm lấy Chúa Giêsu. Nói cách khác, gạch nối giữa Chúa Giêsu Thánh Thể và Têrêxa chính là khát khao cháy bỏng của Con đường Thơ ấu Thiêng liêng.
1. No thỏa hôm nay từ cơn khát của trẻ thơ hôm qua
Đói khát là một trong những nhu cầu căn bản mà con người cần được thỏa mãn để được sống. Nhưng, không chỉ dừng lại ở thứ cơm bánh đời thường, Chúa Giêsu mời gọi con cái Ngài sống bằng 'lương thực' của Thiên Chúa trao ban (x. Ga 6). Bé Têrêxa đã tìm về tận nguồn để thỏa mãn cơn đói khát của trẻ thơ bằng thứ lương thực Chúa Giêsu trao ban.
Phần con đây, đứa bé
của trần gian,
Nhìn chén thánh, thấy sắc, hình của sữa.
Nhưng là thứ trẻ thơ ưa được có,
Là tình yêu chan chứa của Thánh Tâm. . .
Tình thương êm dịu, quyền phép toàn năng!
Sữa trinh nguyên của tôi là Thánh Thể!
(La Rosée Divine ou Le Lait Virginal de Marie - 2/2/1893)
Cơn khát của Têrêxa không chỉ là một ngày nhưng là cơn khát của một đời. Để có thể nhận được thứ "Sữa trinh nguyên", chị đã phải trải qua thời gian dài của chờ đợi trong đói khát: 4 năm dài chờ đợi để rước lễ lần đầu, từng ngày tiếp tục đợi chờ để được ăn. Chị tâm sự:
. . . chỉ có Chúa Giêsu mới làm cho con được thỏa mãn, con khao khát mong mỏi được rước Chúa lần thứ hai. Chừng một tháng sau vào dịp lễ Chúa Thăng Thiên, con đi xưng tội và cả gan xin phép rước lễ. Thật quá lòng mong ước, cha giải tội đã cho con toại nguyện. . . Từ lần ấy trở đi, càng ngày con càng khao khát rước Mình Thánh Chúa và con được phép rước lễ trong tất cả các lễ trọng. . . (Tự thuật).
Chính khát khao Thánh Thể của Têrêxa đã thôi thúc chị cầu nguyện để thúc đẩy Giáo Hội quay trở về với tận Nguồn của Đấng đã trao ban:
Chúa bỏ trời xuống thế hằng ngày không phải để ở trong bình vàng, nhưng để tìm một Thiên đàng khác mà Chúa yêu quý hơn ngàn lần: Thiên đàng ấy là linh hồn chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Ngài, đền thờ sống động của Chúa Ba Ngôi đáng tôn thờ yêu mến. (Tự thuật).
Sau thời gian dài, việc không cho rước lễ mỗi ngày đã được thay đổi với sắc lệnh của Đức Lêô XIII ngày 17/12/1890, nhưng trong Dòng kín Carmen, mãi sau khi chị Têrêxa qua đời lời tiên báo "không thiếu bánh ăn hàng ngày" mới có hiệu lực. Và có lẽ, quyết định cho trẻ em rước lễ lần đầu sớm hơn của Đức Pio X cũng khởi đi từ những khát khao chảy bỏng của trẻ thơ Têrêxa.
2. Từ cơn đói cơm bánh đến no thỏa Tình yêu
Thỏa mãn nhu cầu căn bản được no thỏa cơm bánh, con người cần một thứ nhu cầu khác cao hơn: yêu và được yêu. Bé Têrêxa cũng đã trải qua hành trình đó: khát cơm bánh và khát tình yêu:
Bánh Hằng Sống,
bánh trời, là Mình Thánh,
Phép nhiệm mầu do tình ái mê say.
Xin ngự đến lòng con ôi bánh trắng,
Chỉ hôm nay.
(Trích Mon chant d'aujourdhui: Bài ca hôm nay).
Kinh nghiệm của hòa quyện cũng chính là kinh nghiệm của tình yêu. Tình yêu thúc đẩy Têrêxa - người đang yêu -đi đến chỗ sống như Đấng là Tình yêu:
Sống vì yêu là sống
đời của Chúa,
Tuy là vua, là hoan lạc thiên đường,
Nhưng náu thân, trong tấm bánh tầm thường,
Con cũng muốn ẩn mình đi như thế.
Với người yêu cần những giờ lặng lẽ,
Lời yêu đương trao đổi suốt đêm ngày.
Chúa nhìn xem là cõi phúc mê say,
Con sống vì yêu.
(Trích: Vivre d'amour-Sống vì yêu).
Trong tự thuật nhiều lần chị cũng đã kể lại những kinh nghiệm sống ẩn mình bên Thánh Thể.
Mỗi buổi chiều con đều đi dạo với ba một lát; hai cha con đi viếng Thánh Thể, nay viếng nhà thờ này, mai viếng nhà thờ khác, . . .
. . . chả ai để ý đến con, nên con trèo lên gác nhà nguyện và chầu Mình Thánh Chúa cho đến lúc ba đến đón con. Con tìm thấy nìêm an ủi ở đây mà thôi, vì Chúa Giêsu chẳng phải là người bạn duy nhất của con đấy ư? Con chỉ biết nói chuyện với Chúa thôi, nói chuyện với người thế gian, thì dù nói chuyện đạo đức, con cũng thấy mệt lòng lắm. . . con thấy rằng nói chuyện với Chúa hơn la nói chuyện với nhau về Chúa, và trong những câu chuyện đạo đức cũng pha phôi nhiều tự ái lắm!
No thỏa tình yêu của Chúa Giêsu trao ban, Têrêxa còn đi xa hơn nữa: yêu mến và gắn bó với Nhiệm thể Ngài. Một cô bé 11 tuổi đã sống kinh nghiệm hiệp thông trong bí tích Thánh Thể vượt xa các nhà thần học. Cuộc hiệp thông không chỉ dừng lại ở các chi thể trong Giáo hội tại thế nhưng là cuộc hiệp thông với cả Giáo hội vinh thắng. Chị kể:
Niềm vui quá dạt dào quá, bao la quá lòng nó chưa chẳng hết, nên giòng lệ vui mừng lã chã tuôn rơi làm chị em bỡ ngỡ. Đến sau các chị hỏi nhau: "tại sao nó khóc thế nhỉ? Phải chăng lương tâm nó có đìêu gì áy náy đó?. . . không có, không phải đâu, chắc là nó tủi thân; vì hôm nay không có má, hay là tại chị nó ở trong dòng kín rồi đi không được. . . chị em bạn con không hiểu rằng ơn trời đổ xuống trong một tâm hồn lưu đày này, thì làm sao nó chịu được mà chẳng khóc. . . Ồ không, sự vắng mặt của má trong ngày con rước lễ lần đầu không hề làm con buồn, cả thiên đàng không ở trong tâm hồn con sao, mà Má thì chẳng ở trong thiên đàng ấy từ lâu rồi sao? Bởi vậy trong khi con rước Chúa Giêsu, con cũng tiếp rước cả má. Người đã chúc phúc cho con và vui mừng khi thấy con được hạnh phúc. . . con cũng không khóc vì xa vắng chị Pauline, dĩ nhiên là nếu có chị ở bên con thì hạnh phúc hơn, nhưng con đã dâng hy sinh ấy cho Chúa từ lâu rồi, hôm ấy con được vui mừng hoàn toàn. Con kết hợp cùng chị là người đã hiến trọn đời cho Đấng đã hiến thân mình cho con một cách âu yếm dịu dàng!. . . (Tự thuật)
3. Từ cơn khát Thánh Thể đến cơn khát Thánh Giá
Từ nhu cầu căn bản là cơm bánh Thánh Thể, Têrêxa đi đến chỗ khát khao sống tình yêu như một ơn gọi riêng biệt của chị giữa lòng Hội Thánh; và để rồi, khát khao của Têrêxa đi đến đỉnh của sự toàn thiện: khát khao thánh giá. Chị tâm sự rằng:
Tối hôm trước những ngày trọng đại ấy, chị Marie đặt con lên đầu gối và giúp con dọn mình như khi con rước lễ lần đầu; con còn nhớ có một lần chị nói về sư đau khổ và bảo con rằng: chắc Chúa sẽ bồng con trên cánh tay như bồng đứa con nhỏ, chứ không để con đi trên đường đau khổ đâu. . . Sáng hôm sau, khi rước lễ rồi, con lại nhớ đến lời chị nói hôm trước; tâm hồn con bỗng cảm thấy khát khao chịu đau khổ và đồng thời con tin rằng Chúa Giêsu sẽ dành cho con rất nhiều thánh giá. Con cảm thấy lòng tràn ngập an ủi đến nỗi coi những thánh giá ấy như những ân huệ lớn lao nhất của đời con. Đau khổ đã trở thành một hấp lực làm con say mê mà con vẫn chưa hiểu thấu cái sự tuyệt diệu của nó. Từ ngày ấy về trước con đã chịu đau khổ, nhưng không hề yêu đau khổ; còn từ nay về sau, con cảm thấy yêu đau khổ thật sự. Con cũng cảm thấy yêu một mình Chúa và tìm hoan lạc trong Người mà thôi. Thường trong lúc rước lễ con lặp lại lời sách Gương Phúc 26, 3: "Ôi Chúa Giêsu, Chúa chính là Đấng Dịu hiền khôn tả xin hãy biến đổi mọi an ủi ở đời thành những chua xót đắng cay cho con (Tự thuật).
Chúng ta có thể không cảm nghiệm được đau khổ của chị trong khuôn viên của đan viện. Và nếu có chăng, chúng ta có cảm giác một Têrêxa "bất bình thường" vì đam mê đau khổ. Khát khao Thánh Thể làm cho Têrêxa khát khao đau khổ, nhưng chắc một điều, Têrêxa không bao giờ tìm kiếm đau khổ vì đau khổ mà chỉ vì nó là phương thế để chị thể hiện tình yêu với Chúa Giêsu. Ước vọng chịu đau khổ của Têrêxa luôn luôn là ước vọng tuân hành thánh ý Chúa.
Em không ước muốn chịu đau khổ cũng như chết chóc nhưng em vẫn yêu quý cả hai. Lúc này chỉ còn lòng lòng phó thác hướng dẫn em, ngoài việc xin thánh ý Chúa thực hiện trọn vẹn trên em, thì em không biết nguyện cầu gì khác nữa (Tự thuật).
4. Thánh Thể - hành trình của trẻ thơ
Con đường trẻ thơ của Têrêxa không phải được hình thành trong nhà kín, nhưng đã là cả một hành trình khởi đi từ khi chị có trí khôn. Chính tâm hồn khát khao gắn bó với Thánh Thể đã làm nên hành trình của con đường thơ ấu của chị.
Khởi đi từ một thái độ rất trẻ thơ với Thánh Thể - Bánh phép - mà bé Têrêxa vẫn được chị Céline cho ăn mỗi lần sau khi chị đi dự lễ về, Têrêxa bắt đầu đi vào trong tiến trình thơ ấu bằng việc chuẩn bị đón nhận hồng ân Thánh Thể. Tuần cấm phòng 3 ngày trước đó đã để lại trong chị một kỷ niệm êm đềm khôn tả của hạnh phúc mong chờ Chúa Giêsu. Chị cảm nghiệm được rằng:
Chúa nhân lành không nỡ để sợi mây buồn nào làm vẩn đục tâm hồn con. . . Ngày con rước lễ lần đầu, con lại được vui mừng không vương chút ưu phiền, có lẽ con đã dọn mình kỹ lưỡng đến thế là cùng, và mọi đau đớn phiền muộn tan biến trong vòng gần một năm. Chúa Giêsu muốn cho con được nếm một thứ hoan lạc tinh ròng nhất ở dưới vũng châu lệ này. . .
Đối với chị, việc chuẩn bị đó chính là "rắc vào lòng những cánh hoa mới cho Chúa Giêsu đến ngự được vui lòng. . . mỗi ngày con làm được rất nhiều việc hy sinh hãm mình, đó là những đóa hoa, . . . dốc quyết tập tành nhân đức (Tự thuật). Những đóa hoa mà ngay từ thời thơ ấu, chị đã thích thú tung lên khi đi kiệu Thánh Thể.
Con thích nhất là đi kiệu Thánh Thể, còn vui sướng nào được bằng tung hoa dưới đường Chúa qua! nhưng trước khi cánh hoa rơi xuống đất, con phải tung thật cao chừng nào có thể và con vui sướng khi thấy những cánh hồng của con chạm tới hào quang.
Đối với Têrêxa, không chỉ là những cánh hoa tung lên chạm tới hào quang, nhưng còn là cả cánh hoa cuộc đời - những cánh hoa bé nhỏ để được Chúa Giêsu Thánh Thể ghé môi hôn và làm cho nó tan biến. Chị kể lại cảm nghiệm của mình ngày rước lễ lần đầu:
Ôi ngọt ngào thay cái hôn đầu tiên Chúa Giêsu tặng cho linh hồn con. . . đó là cái hôn làm con cảm thấy Chuá yêu con quá, bất giác con thưa cùng Người: "Lạy Chúa con yêu Chúa và con xin tận hiến đời con cho Chúa". Chúa không đòi con phải chiến đấu hay hy sinh gì cả, vì Chúa Giêsu và bé Têrêsa đã nhìn ngắm nhau, đã hiểu nhau từ lâu lắm rồi. . . hôm ấy không phải chỉ là nhìn ngắm, nhưng là kết hợp cùng nhau, hai người đã trở nên một. Têrêsa đã tan biến đi như giọt nườc r?t xuống đại dương, rồi tan biến trong đại dương, chỉ còn lại mình Chúa Giêsu là Chúa và là vua. Têrêsa đã xin Chúa đừng để cho nó còn tự do, vì tự do làm cho nó sợ hãi. Nó cảm thấy mình yếu đuối quá, mỏng manh quá, nên muốn đời sống đời kết hợp cùng Chúa là sức mạnh vô biên!. . . (Tự thuật).
Chính kinh nghiệm kết hợp, hòa tan giúp Têrêxa khám phá ra sự thật của mình và bắt đầu bước đi vào trong tiến trình trẻ thơ cách trọn vẹn hơn bằng sự khiêm nhường, cậy trông và phó thác suốt cuộc đời. Cho tới những giây phút cuối cuộc hành trình, chị vẫn quả quyết:
Nếu tôi có làm lại cuộc đời, thì tôi chỉ muốn là một con trẻ bé nhỏ luôn giơ tay bám chặt lấy "Giêsu Hài Nhi".
Và chính trong khát khao cháy bỏng ấy mà trong từng ngày sống, chị vẫn đang tiếp tục nài xin:
Ôi! Con không được chịu Mình Thánh Chúa nhiều lần như lòng khao khát, nhưng lạy Chúa, Chúa không là Đấng Tòan Năng sao?. . . Xin Chúa ở lại trong con như trong nhà tạm. Xin Chúa đừng bao giờ lìa xa tấùm bánh nhỏ của Chúa đây. . . (Kinh dâng mình).
Lm. Giuse Têrêsa Trần Anh Thụ
Hài Tích của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu Tuần Du ở Tân Tây Lan
Theo tin của cơ quan truyền giáo Fides của Tòa Thánh Vatican thì Lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu năm 2005, quan thày của các xứ truyền giáo, được cử hành đặc biệt ở Tân Tây Lan với cuộc tuần du hài tích của vị nữ thánh này, một cuộc tuần du cho tới hết ngày 16/10/2005.
ĐGM Patrick James Dunn đã nói với Fides rằng khi hài tích của vị nữ thánh này tới vương cung thánh đường của giáo phận ở Auckland hôm 18/9, tín hữu đã đến chật hết ngôi vương cung này. Vị giám mục này cho biết thêm rằng điều làm ngài hết sức kinh ngạc đó là “việc thinh lặng và việc tỏ hiện tấm lòng tôn sùng sâu xa của những ai hiện diện”.
Hài tích này sẽ được đưa đến mọi giáo phận, ngừng lại ở các thành phố chính như Wellington và Auckland và những tỉnh nhỏ như Hamilton, New Plymouth và Wanganui.
Ở những nhà thờ khác nhau, tín hữu sẽ có cơ hội để tham dự những buổi cầu nguyện, Thánh Lễ, tôn thờ Thánh Thể, và lần hạt Mân Côi trước hài tích.
Những buổi suy niệm được tổ chức về cuốn nhật ký thiêng liêng của vị thánh là “Truyện Một Tâm Hồn”, và những tờ giấy tóm gọn về cuộc đời của chị cùng linh đạo của chị là để giúp cho tín hữu dọn mình đến thăm hài cốt của chị.
Hài tích của vị thánh dòng Cát Minh này cũng sẽ đến viếng thăm các tu viện dòng Cát Minh với các cuộc cử hành bao gồm các cộng đồng tu trì, các phong trào giáo dân và các đoàn thể giáo dân.
Vào Thứ Bảy là ngày lễ của chị, hài tích của chị sẽ được trưng bày để tôn kính ở vương cung thánh đường công giáo Wellington. Sau đó là việc tôn thờ Thánh Thể cả đêm cho đến Thánh Lễ sáng Chúa Nhật. Thánh Nữ Têrêsa nhỏ này được Giáo Hội công bố đồng quan thày các xứ truyền giáo với Thánh Phanxicô Xaviê vào năm 1947.
Một nam tu dòng Cát Minh địa phương cho biết: “Cuộc hành trình của các hài tích Thánh Têrêsa chắc chắn sẽ giúp cho việc kiên cường đức tin của các tín hữu và việc họ tôn sùng phép Thánh Thể. Tuy nhiên, nó cũng sẽ là một cơ hội để đưa tất cả mọi người ở Tan Tây Lan đến chỗ cảm nhận được những gì là siêu việt”.
Vị Nữ Tu Kín trở thành Quan Thày của Việc Truyền Giáo
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Vào ngày 19/10/1997, Chúa Nhật Truyền Giáo Thế Giới, kỷ niệm 100 năm qua đời của chị nữ tu dòng kín Carmelô ở Ly-Sơn (Lisieux) qua đời năm 24 tuổi, tu từ năm 15 tuổi, qua Tông Thư Divini Amoris Scientia, ĐTC Gioan Phaolô II đã tôn phong Chị Thánh làm Tiến Sĩ Hội Thánh nữa, vị tiến sĩ thứ 33, và là một trong 3 vị tiến sĩ nữ của Hội Thánh, cùng vị tiến sĩ nữ thứ 31 là Thánh Têrêsa Avilla (người Tây Ban Nha, được Đức Phaolô VI tôn phong ngày 27/9/1970) và vị tiến sĩ nữ thứ 32 là Thánh Catarina Sienna (người Ý, cũng được cùng vị Giáo Hoàng này tôn phong ngày 4/10/1970).
Hồ sơ phong thánh cho chị được chính thức bắt đầu khi Đức Piô X phê chuẩn sắc lệnh tiến hành vào ngày 10/6/1914, sau khi chị qua đời mới được 20 năm, kể như rất sớm hay quá sớm vào thời bấy giờ. Sau đó, vào ngày 14/8/1921, Vị Giáo Hoàng Biển Đức XV đã công nhận các nhân đức của chị và công bố chị là bậc Tôi Tớ Chúa. Và vào ngày 29/4/1923, chị được Đức Piô XI tuyên phong chân phước. Cuối cùng, vào ngày 17/5/1925, cũng vị Giáo Hoàng này đã tuyên phong hiển thánh cho chị. Hai năm sau, chị được tôn phong là quan thày của việc truyền giáo theo lời yêu cầu của nhiều vị Giám Mục thừa sai. Trước khi được tôn phong làm quan thày của các nhà truyền giáo trong Giáo Hội nói chung 4 năm rưỡi, tức vừa được tuyên phong chân phước ngày 29/4/1923, chị đã được tuyên nhận là quan thày của các Việc Truyền Giáo Dòng Carmêlô rồi.
Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu được tuyên phong làm quan thày của việc truyền giáo bởi Đức Piô XI qua Thánh Bộ Lễ nghi ngày 14/12/1927, một tước hiệu “tương đương với Thánh Phanxicô Xavier, với tất cả quyền lợi và đặc ân hợp với danh xưng này” (AAS 20 [1927] 147-148; AOCD 2 [1927] 200). Thánh Phanxicô Xavier, từ năm 1748, đã được tuyên phong là “quan thày của tất cả mọi miền đất đông thuộc Cape of Good Hope” (Benedict XV, Maximum illud 1919), sau đó vào năm 1904, ngài được tôn phong làm “quan thày của Công Cuộc Truyền Bá Đức Tin”. Thậm chí trong Thông Điệp Maximum Illud năm 1919, Vị Giáo Hoàng Biển Đức XV đã coi Thánh Phanxicô Xavier “xứng đáng so sánh với các vị tông đồ” (Benedict XV, Maximum illud, n. 7). Có một điều hay ở đây là chính Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu đã hết lòng tin tưởng phó mình cho Thánh Phanxicô Xavier qua một tuần cửu nhật được gọi là “tuần cửu nhật ân huệ”, từ ngày 4 tới 12 tháng 3 năm 1897, năm chị qua đời, để xin vị thánh Dòng tên Tây Ban Nha mô phạm truyền giáo tân thời này chuyển cầu cho ơn được sống ở trên trời mà lại sinh ích dưới thế.
Theo bản chất thì Giáo Hội là truyền giáo. Tức không truyền giáo không phải là Giáo Hội và còn là Giáo Hội nữa. Đó là lý do Chúa Giêsu đã khẳng định về thành phần môn đệ của Người rằng: “Các con là ánh sáng thế gian” (Mt 5:14). Bởi vì nếu không sáng soi không còn là và không phải là ánh sáng thế nào thì Kitô hữu là thành phần theo Chúa Kitô trên thực tế cũng không phải hay còn là Kitô hữu nữa nếu không làm việc tông đồ truyền giáo. Tất nhiên, nói đến truyền giáo thường là nói đến những gì trực tiếp liên quan tới hoạt động rao giảng Phúc Âm hay loan truyền Chúa Kitô cho lương dân hay dân ngoại. Còn nói đến tông đồ thường là nói đến vai trò chứng nhân, hay nói đến vấn đề truyền giáo bằng việc sống thánh chứng nhân của mình, để tất cả những ai sống quanh mình và gần mình có thể nhận biết và yêu mến Chúa Kitô. Nói chung, việc tông đồ truyền giáo là việc nhắm đến mục đích làm cho con người nhận biết Chúa Kitô để được cứu độ, tức là việc mang ơn cứu độ đến cho mọi người, cũng là việc cứu rỗi các linh hồn. Hiểu như thế mới thấy được ý nghĩa tại sao một nữ tu kín chẳng bao giờ đi đâu ngoài nội vi đan viện của mình mà lại trở thành quan thày của các nhà thừa sai truyền giáo như Chị Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu. Nhân ngày Khánh Nhật Truyền Giáo 2008 trong Năm Thánh Phaolô là Vị Tông Đồ Truyền Giáo cho Dân Ngoại, chúng ta hãy cảm nghiệm một lần nữa những tâm tình truyền giáo của vị nữ tu kín là quan thày các vị thừa sai.
Trong thư đề ngày 15/8/1892 gửi chị Céline là người chị của mình, Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu đã cho thấy tầm quan trọng của việc truyền giáo như sau: “Có một ngày em nghĩ đến việc làm sao để có thể cứu các linh hồn thì một câu Phúc Âm đã cho em hiểu được một cách rõ ràng. Vào một lần kia Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Người, khi Người chỉ cho các vị cánh đồng lúa chín, rằng: ‘Các con hãy ngước mắt mà coi cánh đồng đã chín đang chờ được gặt’ (Jn 4:35).
Sau đó một chút, chị viết thêm như thế này: “Thật vậy, mùa gặt thì bề bộn nhưng số thợ gặt lại suy giảm; bởi vậy, hãy xin chủ mùa sai thợ đến’. Ôi nhiệm mầu biết bao! Chúa Giêsu không phải là Đấng toàn năng hay sao? Ngài không phải là Đấng đã dựng nên tất cả mọi loài tạo vật hay sao? Vậy thì tại sao Chúa Giêsu lại nói rằng: ‘hãy sai chủ mùa sai thợ đến’? Tại sao? A! Chính là bởi vì Chúa Giêsu yêu thương chúng ta khôn tả đến độ Người muốn chúng ta dự phần với Người trong việc cứu độ các linh hồn, những linh hồn đã được cứu chuộc bằng giá máu đổ hết ra của Người”.
Từ cảm nhận này, chị đã đi đến kết luận rằng: “Ơn gọi của chúng ta không phải là đi gặt hái ở đồng ruộng đã chín mùa; Chúa Giêsu không nói với chúng ta rằng: ‘các con hãy nhìn xuống, hãy nhìn vào đồng ruộng và hãy đi gặt hái’. Sứ vụ của chúng ta còn cao quí hơn nữa kìa. Đây là những lời của Chúa Giêsu: ‘Hãy ngước mắt lên mà coi. Hãy coi còn nhiều chỗ trống ở trên trời kìa, Người xin các con hãy làm cho đầy những chỗ còn trống ấy. Các con là những Moisen đang nguyện cầu trên núi của Ta; các con hãy xin nơi Ta thành phần thợ gặt, và Ta sẽ sai họ đến. Ta chỉ chờ lời nguyện cầu mà thôi, chờ lời than thở của tấm lòng của các con mà thôi! Như thế thì việc tông đồ cầu nguyện không phải là việc cao hơn việc giảng dạy hay sao? Là tu sĩ Dòng Carmêlô, sứ vụ của chúng ta là sứ vụ hình thành các thợ truyền bá phúc âm là thành phần sẽ cứu nhiều triệu các linh hồn có chúng ta làm mẹ của họ vậy” (LT 135).
Vào Giáng Sinh năm 1886, chị đã cảm thấy ước muốn truyền giáo như sau: “Như các vị tông đồ của Chúa: ‘Thưa Thày, con đã đánh cá thâu đêm mà chẳng bắt được gì hết’… Người đã biến tôi thành một tay đánh cá các linh hồn. Con cảm thấy hết sức ước mong hoạt động để hoán cải các tội nhân, một ước muốn con cảm thấy quá ư là thiết tha mà con chưa từng cảm thấy trước đó” (Story of a Soul, pp. 98–99.)
Những tháng sau đó, vào Tháng 7/1887, chị đã cảm thấy ơn gọi truyền giáo của mình đang lúc chị ở trong Vương Cung Thánh Đường ở Ly-Sơn (Lisieux) như thế này: “Một Chúa Nhật kia, khi nhìn vào bức ảnh Chúa ở trên Thánh Giá, con ngỡ ngàng trước giòng máu tuôn xuống từ một trong hai bàn tay thần linh. Con đã cảm thấy một nỗi quặn thắt khi nghĩ rằng máu này đã đổ xuống đất mà không được ai vội vàng hứng lấy. Con quyết định bằng tinh thần của con đứng ở dưới chân cây Thập Giá để lãnh nhận sương sa thần linh. Con đã hiểu là con phải đổ máu ấy xuống trên các linh hồn… Con muốn dâng cho Người Yêu của con nước uống và con cảm thấy một nỗi khát khao các linh hồn. Tuy nhiên, không phải là những linh hồn của các vị linh mục đã thu hút con, mà là các linh hồn của thành phần đại tội nhân” (Story of a Soul, p. 99.) Và phải chăng thành phần đại tội nhân được chị cứu này, trước hết là tên sát nhân Pranzini, nhân vật được chị gọi là “người con đầu tiên” của chị (Một Tâm Hồn nguyên ngữ Pháp văn, trang 100).
Về cách thức để thực hiện việc truyền giáo là làm cho các linh hồn hoán cải để đượïc cứu độ như thế, vị thánh nữ quan thày của việc truyền giáo này đã nhấn mạnh đến vấn đề đau khổ và nguyện cầu.
Về vấn đề đau khổ để truyền giáo cứu độ, chị viết như sau: “Trong việc kiểm điểm trước khi Khấn Dòng, con đã tuyên bố ở dưới chân Tế Vật Giêsu những gì con muốn gia nhập Dòng Carmêlô, đó là con gia nhập dòng này là để cứu các linh hồn, nhất là để nguyện cầu cho các vị linh mục. Khi người ta muốn đạt đến mục đích, họ cần phải sử dụng phương tiện; Chúa Giêsu đã làm cho con hiểu rằng chính nhờ khổ đau mà Người muốn ban cho con các linh hồn, và nỗi thu hút được chịu khổ đã gia tăng cân xứng với tình trạng gia tăng khổ đau” (Truyện Một Tâm Hồn, trang 149).
Gần đến lúc qua khỏi đời này, vào ngày 19/3/1897, chị còn tỏ ra tham vọng muốn “cứu các linh hồn sau khi con chết” (Thư 221). Trong Thư 189, chị cho biết phương thế truyền giáo cứu độ đối với một nữ tu kín như chị thế này: “Không thể là một nhà truyền giáo bằng hoạt động, con muốn là một vị thừa sai bằng tình yêu và thống hối, như Thánh Têrêsa (Avila)”.
Một thí dụ điển hình cho tinh thần truyền giáo của vị quan thày của việc truyền giáo này là vào năm 1895, Nhà Kín Sài Gòn đã lập một đan viện ở Hà Nội. Giữa Nhà Kín Sài Gòn và Lisieux vẫn thường trao đổi thư từ với nhau. Mẹ Marie Gonzaga ở Lisieux đã tìm kiếm những ai tình nguyện trong đan viện của mẹ. Chị Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu đã đích thân xung phong như sau: “Con chẳng những đã chấp nhận sống tha hương ở một thành thị vô danh, mà còn chấp nhận cả những gì còn xót xa hơn thế nữa đối với con … Con đã chấp nhận sống tha hương vì các chị em của con… Thưa Mẹ: để sống ở một Đan Viện Carmêlô hải ngoại, mẹ đã nói với con rằng cần phải có một ơn gọi đặc biệt. Nhiều linh hồn cảm thấy được kêu gọi song lại không phải thế. Mẹ đã nói với con rằng con có ơn gọi này” (Truyện Một Tâm Hồn, trang 216-217).
Trong Thư 221 gửi cho linh mục Maurice Roulland là người anh thiêng liêng của mình, chị đã viết thế này: “Con nói là con sẽ đi Đông Dương, nếu Chúa muốn gọi con. Không, đó không phải là một giấc mơ, con có thể cam đoan với cha là nếu Chúa Giêsu nhân lành không đến tìm con sớm để đem về Carmêlô thiên đình thì con sẽ lên đường đi Carmêlô Hà Nội”.
Vị Thánh Nữ Quan Thày các nhà truyền giáo này còn nói những lời bất hủ cuối cùng trong cơn bệnh cuối đời của mình như sau: “Con cảm thấy rằng con sắp vào chốn nghỉ ngơi. Thế nhưng, con thực sự cảm thấy rằng sứ vụ của con mới sửa soạn bắt đầu, một sứ vụ làm cho Thiên Chúa được mến yêu như con đã mến yêu Ngài… Thiên đàng của con sẽ giành cho trần gian đến tận thế. Phải, con muốn sống thiên đàng của con bằng cách làm lành trên thế gian… Con không thể hoan hưởng hạnh phúc, con không thể nghỉ ngơi cho đến khi tất cả mọi linh hồn được cứu độ” (LC, July 7, 1897).
Nếu không một vị thánh nào mà không sống bé nhỏ mà chỉ có Chị Thánh Têrêsa lại được Giáo Hội tuyên phong là Tiến Sĩ Hội Thánh về giáo thuyết sống hồn nhỏ của chị, chính là vì chị chủ trương rõ ràng như thế và cho thấy chị đã sống thực sự như thế? Cũng vậy, nếu không một vị thánh nào nên thánh mà không sống đời cầu nguyện và không một vị thánh nào không thương mến các tội nhận và không mong cho Chúa được nhận biết và yêu mến, tức các thánh đều mong cho các linh hồn được nhận biết Chúa để được cứu rỗi, mà chỉ có chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là một nữ tu dòng kín Carmêlô được Giáo Hội tuyên phong là quan thày của các nhà truyền giáo. Chính là bởi vì chị có ý định rõ ràng và bày tỏ lòng khao khát cứu các linh hồn bằng đời cầu nguyện, và chẳng những chị muốn cứu các linh hồn ở đời này mà còn cả sau khi chị về trời nữa.
Thật thế, tất cả ý nghĩa và giá trị của đời sống Kitô giáo là thông đạt Sự Sống Thần Linh, là truyền giáo, vì họ "là ánh sáng thế gian" (Mt 5:14). Thế nhưng, họ không thể thông đạt sự sống thần linh này nếu chính họ không "sống viên mãn hơn" (Jn 10:10). Mà sự sống thần linh này là gì, nếu không phải là chính Đấng đã phán "Thày là sự sống" (Jn 14:6). Nhưng họ không thể "sống viên mãn hơn" để có thể tòa "ánh sáng sự sống" (Jn 8:12) là Chúa Kitô ra, nhờ đó làm cho mọi người nhận biết Chúa Kitô "là đường, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6), nếu họ không gặp gỡ Chúa Kitô, không cảm nghiệm Chúa Kitô bằng tất cả con người của mình, bằng đời sống cầu nguyện. Đó là lý do Kitô hữu nào càng sống cầu nguyện, càng nhận biết Chúa Kitô, càng mong muốn cho Người được nhận biết và yêu mến, càng Sống Thánh Chứng Nhân theo ơn gọi của mình. Điển hình là trường hợp của Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là người nữ tu âm thầm khả ái của chúng ta chỉ sống đời tận hiến 9 năm vắn vỏi hầu như tầm thường không ai biết đến nhưng đã trở thành quan thày cho việc truyền giáo vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Chúa Nhật 19/10/2008, Khánh Nhật Truyền Giáo, mừng Tân Chân Phước Louis Martin và Zélie Guérin, Cha Mẹ của Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
(xin xem bài về 2 Tân Chân Phước Louis và Zélie, Cha Mẹ Chị Thánh Têrêsa HĐ Giêsu)
Hồn Nhỏ Têrêsa Hài Đồng Giêsu: Ơn Gọi Mến Yêu
Vì con mạnh mẽ và mong mỏi được tử đạo, con đã tìm đọc những bức thư của Thánh Phaolô, hy vọng rằng cuối cùng sẽ tìm được câu giải đáp. Tình cờ con chú ý tới chương 12 và 13 bức thư thứ nhất ngài gửi cho tín hữu Corintô, và ở phần đầu con đọc thấy rằng không phải là ai cũng có thể làm tông đồ, tiên tri hay giảng dạy, rằng Giáo Hội được bao gồm bởi các phần tử khác nhau, và mắt không thể là tay. Cho dù con có thấy được câu giải đáp này chăng nữa, con vẫn chưa thỏa mãn và vẫn cảm thấy khắc khoải làm sao ấy.
Con cứ đọc tiếp, không để tâm trí bị phân tâm, cho đến khi con thấy được câu phấn khởi này: ‘Anh em hãy mong ước những tặng ân cao cả hơn. Và tôi sẽ chỉ cho anh em đường lối trổi vượt nhất’. Và vị Tông Đồ này nhấn mạnh rằng các tặng ân cao cả chẳng có nghĩa lý gì nếu thiếu lòng yêu mến và lòng mến yêu này thực sự là đường lối hảo hạng nhất trực tiếp dẫn đến Thiên Chúa. Thế là con tìm được bình an trong tâm hồn.
Khi con nhìn vào nhiệm thể Giáo Hội, con thấy mình chẳng những không thuộc về những phần thể được Thánh Phaolô nói đến, mà còn muốn đặc biệt hơn nữa trong toàn thân mình này. Con thấy tình yêu như là cái mấu chốt cho ơn gọi của con. Thật thế, con biết rằng Giáo Hội có một thân mình bao gồm các phần thể khác nhau, thế nhưng, trong thân mình này, vẫn thiếu phần thể cần thiết và cao quí hơn. Con biết rằng Giáo Hội có một con tim và con tim ấy dường như đang bừng lửa mến yêu. Con biết rằng tình yêu duy nhất này là những gì thúc đẩy các phần thể khác của Giáo Hội hoạt động, và nếu tình yêu này bị lịm tắt thì các vị tông đồ không còn loan truyền Phúc Âm nữa, các vị tử đạo không còn đổ máu nữa. Con thấy và nhận thức rằng tình yêu là những gì làm bừng lên tất cả mọi ơn gọi, tình yêu là tất cả mọi sự, tình yêu bao gồm hết mọi lúc và hết mọi nơi. Tóm lại, tình yêu là những gì vĩnh cửu.
Bấy giờ, hầu như say đắm với niềm vui chất ngất trong linh hồn mình, con than lên rằng: Giêsu ơi, tình yêu của con ơi, cuối cùng con đã thấy được ơn gọi của con rồi: ơn gọi của con là yêu mến. Con thực sự đã tìm thấy vị trí xứng hợp của con trong Giáo Hội rồi, và Chúa đã ban cho con chính vị trí ấy, ôi Chúa Trời con ơi. Trong lòng của Giáo Hội là mẹ của con, con sẽ là tình yêu, nhờ đó, con là tất cả mọi sự, vì niềm mong ước của con đã tìm thấy hướng đi của nó vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ The Office of Readings, St Paul Edition, Lễ Thánh Thérèse 1/10, theo nguồn Truyện Một Tâm Hồn, bản Pháp ngữ, xuất bản 1957, trang 227-229)