SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014

 

2015

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XX Thường Niên 

16-22/8/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html) 




Chúa Nhật


sự sống huyết nhục

 

Bài Đọc I: Cn 9, 1-6

Đáp Ca: Tv 33, 2-3. 10-11. 12-13. 14-15

Bài Đọc II: Ep 5, 15-20

Phúc Âm: Ga 6, 51-59


Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh vẫn tiếp tục với Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XX Thường Niên Năm B hôm nay, qua đoạn 6 Phúc Âm của Thánh ký Gioan về Bánh Hằng Sống.


Thật vậy, nếu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước, Chúa Giêsu đã khẳng định ở câu cuối cùng cũng là câu đầu của bài Phúc Âm hômn nay, rằng "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Tôi sẽ ban, chính là thịt Tôi cho thế gian được sống", thì trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu còn khẳng định hơn nữa về tác dụng của Bánh Hằng Sống này, như sau:


"Thật, Tôi bảo thật quí vị: Nếu quí vị không ăn thịt Con Người và uống máu Người, quí vị sẽ không có sự sống trong quí vị. Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời, và TôiTôi sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống. Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì ở trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy".


Trong bài suy niệm cho Chúa Nhật tuần trước, chúng ta đã suy diễn câu khẳng định của Chúa Kitô "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Tôi sẽ ban, chính là thịt Tôi cho thế gian được sống" như sau: 


1- "Bánh hằng sống từ trời xuống" đây trước hết và trên hết là chính bản thân Chúa Kitô; 2- "ai ăn bánh này sẽ sống đời đời" nghĩa là ai nhận biết và tin tưởng Chúa Kitô thì được sự sống đời đời (xem Gioan 17:3); 3- "bánh Tôi sẽ ban chính là thịt Tôi cho thế gian được sống" ám chỉ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô và việc Người thiết lập Bí Tích Thánh Thể là hy tế hiện thực Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, một biến cố mang lại sự sống đời đời cho trần gian qua thừa tác vụ thánh của Giáo Hội. 


Nếu "bánh Tôi sẽ ban chính là thịt Tôi cho thế gian được sống", mà "bánh Tôi sẽ ban" đây ám chỉ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, được hiện thực nơi Bí Tích Thánh Thể trong Phụng Vụ của Giáo Hội thì quả thực "thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống". Ở chỗ, "Này là mình Thày sẽ bị nộp vì các con" (Luca 22:19) và "Này là máu Thày sẽ đổ ra cho nhiều người(Mathêu 26:28; Marcô 14:24).


Đúng thế, Chúa Giêsu Kitô là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), như "Bánh hằng sống từ trời xuống" để "ai tin ("ăn") Người thì được sống đời đời" (xem Gioan 6:40 và 51 / Gioan 3:16), và "Lời đã hóa thành nhục thể" đây đã "ban sự sống" cho riêng các môn đệ cũng như qua trung gian Giáo Hội Nhiệm Thể Người cho chung thế gian, bằng cuộc Vượt Qua của Người, một biến cố nhờ đó các vị đã tin vào Người mà được sự sống đời đời (xem Gioan 17:19,3), một sự sống làm cho họ nên một với Chúa Kitô: "Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì ở trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy".


Và chính vì được hiệp nhất nên một với Chúa Kitô mà họ cũng được nên một với Cha để thế gian cũng được thông phần vào sự sống thần linh hiệp nhất nên một này: "Con sống trong họ, Cha sống trong Con - để mối hiệp nhất của họ được nên trọn. Nhờ đó thế gian sẽ nhận biết rằng Cha đã sai Con, và Cha yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con" (Gioan 17:23).  


Tuy nhiên, Cuộc Vượt Qua ban sự sống đời đời của Chúa Kitô là một mầu nhiệm siêu việt, trí khôn tự nhiên của loài người không thể nào nắm bắt được, thấu hiểu nổi, như phản ứng trong bài Phúc Âm cho thấy: "Vậy người Do-thái tranh luận với nhau rằng: 'Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?'".


Đó là lý do, trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô mới khuyên Kitô hữu Thành Êphêsô về cả 2 phương diện tiêu cực và tích cực như sau: "Anh em chớ ăn ở bất cẩn, nhưng hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên Chúa. Anh em chớ say sưa rượu chè, vì rượu sinh ra dâm dục, nhưng hãy tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần". Về tiêu cực: "chớ ăn ở bất cẩn" và "chớ say sưa rượu chè", về tích cực: "hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên Chúa" và "hãy tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần". Có thế họ mới có thể "ở trong Tôi và Tôi ở trong (họ)".


Theo chiều hướng của Bài Đọc 2, về việc sống khôn ngoan hơn là khờ dại, ở chỗ tìm kiếm những thứ lương thực ăn uống làm cho mình được sống trường sinh bất tử, Sách Cách Ngôn trong Bài Đọc 1 hôm nay cũng kêu gọi "những kẻ mê muội rằng: 'Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi. Các ngươi hãy bỏ sự ngây dại đi, thì sẽ được sống, và hãy bước theo đường lối khôn ngoan'".


Chiều hướng sống khôn ngoan của Bài Đọc 1 và 2 để được sự sống chân thật còn phản ảnh nơi Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca chất chứa tâm tình chúc tụng ngợi khen Chúa (câu 1), cùng với lời kêu gọi tôn sợ Chúa (câu 2), nhờ đó mà được sống trường sinh phúc lộc (câu 3), và cũng nhờ đó mới có thể làm lành lánh dữ mà bình an vui sống (câu 4). 


1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. 

 

2) Các thánh nhân của Chúa hãy tôn sợ Chúa, vì người tôn sợ Chúa chẳng thiếu thốn chi; bọn sang giàu đã sa cơ nghèo đói, nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo. 


3) Các đệ tử ơi, hãy lại đây, hãy nghe ta, ta sẽ dạy cho các con biết tôn sợ Chúa. Ai là người yêu quý cuộc đời, mong sống lâu để hưởng nhiều phúc lộc. 


4) Hãy giữ lưỡi đừng nói ra điều ác, và ngậm môi cho khỏi thốt ra lời gian ngoa. Hãy lo tránh ác và hành thiện, hãy tìm kiếm và theo đuổi bình an. 


  

 

Thứ Hai

sự sống thiếu sót


Bài Đọc I: (Năm I) Tl 2, 11-19

Đáp Ca: Tv 105, 34-35. 36-37. 39-40. 43ab và 44

Phúc Âm: Mt 19, 16-22

Bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần XX Thường Niên hôm nay tiếp theo ngay sau bài Phúc Âm của Thứ Bảy tuần trước, bài Phúc Âm về "Nước Trời thuộc về những người" sống tinh thần khiêm hạ như trẻ nhỏ.

Về nội dung, có thể nói bài Phúc Âm hôm nay tiếp nối bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước. Vì trong bài Phúc Âm hôm nay Nước Trời dường như không thuộc về thành phần giầu có như người giầu có trong bài Phúc Âm, cho dù người giầu có này sống đạo đàng hoàng chứ không vì giầu mà bê bối. 

Trước hết, người giầu trong bài Phúc Âm sống đạo đàng hoàng, đến độ dường như vẫn còn cảm thấy thiếu một cái gì đó cho dù về vật chất giầu sang phú quí, nên mới lên tiếng hỏi Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm việc lành gì để được sống đời đời?" 

Sau nữa, "người thanh niên" này không vì giầu mà sống bê bối, như lời anh ta đã thưa cùng Chúa Giêsu, Đấng đã liệt kê các giới răn căn bản trong Thập Giới để được cứu rỗi hay "để được sống đời đời", những giới răn "chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối. Hãy thảo kính cha mẹ, và yêu thương kẻ khác như chính mình", những giới răn mà anh ta đã tự thú với Người rằng"Tất cả những điều đó tôi đã giữ từ khi còn niên thiếu, vậy tôi còn thiếu sót gì nữa chăng?" 

Đúng thế, con người được dựng nên theo hình ảnh và tương tự như Thiên Chúa nên lòng luôn khắc khoải cho tới khi được nghỉ yên trong Ngài mà cho dù giầu sang phú quí về vật chất họ vẫn cảm thấy xao xuyến bất an làm sao ấy. Thái độ của người thanh niên giầu sang trong bài Phúc Âm đã cho thấy rõ tâm trạng này, chẳng những ở vấn nạn được anh ta đặt ra hỏi Chúa Giêsu: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm việc lành gì để được sống đời đời?", mà còn ở hành động cuối cùng của anh ta được Phúc Âm thuật lại rằng: "Khi người thanh niên nghe lời đó thì buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều sản nghiệp".

Tuy nhiên, tâm trạng vẫn còn "thiếu sót" này của chàng thanh niên giầu có trong bài Phúc Âm hôm nay cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì, ơn gọi nên trọn lành không phải ai cũng có thể theo đuổi, hễ muốn là được, mà cần phải được kêu gọi và tuyển chọn như các vị tông đồ. Mà muốn nên trọn lành thì điều kiện tiên quyết đó là từ bỏ tất cả những gì con người sở hữu, nhờ đó họ mới có thể tiến đến chỗ bỏ mình và vác thập giá mà theo Chúa Kitô Vượt Qua được, như chính Người đã kêu gọi trong bài Phúc Âm hôm nay: "Nếu anh muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải anh có và bố thí cho người nghèo khó, thì anh sẽ được kho tàng trên trời, rồi đến mà theo Tôi".

Dấu hiệu còn cảm thấy "thiếu sót" và "buồn rầu" của người thanh niên giầu có trong bài Phúc Âm dầu sao cũng đáng mừng, vì chúng chứng tỏ người thanh niên giầu có này vẫn còn ý thức đức tin, vẫn còn khao khát nên trọn lành, tuy chưa thể thực hiện ngay được, hơn là những con người tham lam làm giầu đến độ bỏ Chúa, bỏ lễ Chúa Nhật, cho đến khi Chúa để cho thất bại, tan gia bại sản thì đâm ra trách Chúa, hận Chúa, tại sao Chúa để cho họ bị khốn khó như vậy v.v. Tại sao họ không tự trách mình bỏ Chúa mà lại trách Chúa bỏ họ nhỉ?! Thật là đáng thương...

Trường hợp của dân Do Thái trong Bài Đọc Một cho Năm Lẻ hôm nay cho thấy số phận của dân Do Thái cho dù được Chúa thương tuyển chọn và tỏ mình ra cho vẫn luôn có khuynh hướng bỏ Chúa mỗi khi họ được bình an và giầu thịnh, khiến họ vì thế đã bao nhiêu lần phải gánh chịu hậu quả của tình trạng bỏ Chúa của họ, ở chỗ họ bị Chúa để cho các quyền lực ngoại bang thống trị và hành khổ h, cho dù sau đó họ được Thiên Chúa giải cứu, họ lại quên Ngài và bỏ Ngài.


"Chúa khiến các vị thủ lãnh đứng ra giải thoát chúng khỏi tay những người bóc lột, nhưng chúng cũng chẳng muốn nghe theo các vị thủ lãnh. Chúng hướng lòng về các thần ngoại và thờ lạy các thần ấy. Chúng đã vội bỏ đường lối các tổ tiên chúng đã đi, dù chúng có nghe biết các điều răn của Chúa, nhưng chúng vẫn làm mọi điều trái nghịch. Khi Chúa khiến các vị thủ lãnh đứng ra, Người tỏ lòng thương xót chúng, nghe lời những kẻ khốn cực kêu van, và giải thoát chúng khỏi tay những người bóc lột sát hại. Nhưng sau khi vị thủ lãnh chết, chúng lại đổi lòng, làm những điều xấu xa hơn cha ông chúng đã làm, theo các thần ngoại, phụng sự và thờ lạy các thần ấy. Chúng không từ bỏ những điều chúng bày đặt ra và đường lối quá ương ngạnh chúng quen đi".


Bài Đáp Ca hôm nay cho thấy nhận thức về dân Do Thái trong lịch sử cứu độ của họ, một lịch sử bao gồm toàn là chuyện họ trắng trọn và liên lỉ bất trung với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, Vị Thiên Chúa không phải vị thế mà bỏ họ, trái lại, Ngài đã lợi dụng chính những yếu hèn của họ, lợi dụng chính cái bất trung của họ để tỏ danh thánh của Ngài là Đấng thủy chung của họ, Đấng luôn hiện diện với họ và cứu giúp họ cho đến cùng. 

 

1) Họ không chịu tiêu diệt những dân mà Chúa đã có lệnh truyền cho họ. Họ đã hoà mình với người chư dân, và học theo công việc chúng làm. 


2) Họ sùng bái tà thần của chúng, những tà thần đã hoá thành lưới dò hại họ. Họ đã giết những người con trai và con gái, để làm lễ cúng tế quỷ thần. 


3) Bởi những việc đó, họ tự làm ô uế bản thân, và do hành động tội lỗi, họ đã ngoại tình. Chúa đã bừng cơn thịnh nộ với dân tộc, và tởm ghét phần gia nghiệp của Người. 


4) Nhiều lần Chúa đã thương giải phóng nhưng họ manh tâm chống lại Người. Nhưng Người đã nhìn đến cảnh gian truân của họ, khi Người nghe lời họ kêu xin. 

 


Thứ Ba

 

sự sống tăng bội

 

Bài Đọc I: (Năm I) Tl 6, 11-24a

Đáp Ca: Tv 84, 9. 11-12. 13-14

Phúc Âm: Mt 19, 23-30


Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XX Thường Niên tiếp tục bài Phúc Âm hôm qua là bài phúc âm về người thanh niên giầu có chưa thể nên trọn lành được vì còn ham của cải trần gian tuy vẫn sống đạo đàng hoàng.

Bài Phúc Âm hôm nay, trước hết, liên quan đến tình trạng người giầu có khó vào Nước Trời, ngoại trừ có ơn đặc biệt của Thiên Chúa, như chính Chúa Giêsu khẳng định:

"'Thầy bảo thật các con: Người giàu có thật khó mà vào Nước Trời. Thầy còn bảo các con rằng: Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời'. Các môn đệ nghe vậy thì bỡ ngỡ quá mà thưa rằng: 'Vậy thì ai có thể được cứu độ?' Chúa Giêsu nhìn các ông mà phán rằng: 'Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được'". 

Bài Phúc Âm hôm nay còn liên quan đến thành phần đã bỏ mọi sự mà theo Chúa, thành phần đã được bù đắp bằng những thứ về cả đời này lẫn đời sau như thế này:

 

"Bấy giờ Phêrô thưa Người rằng: 'Này đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?' Chúa Giêsu bảo các ông rằng: 'Thầy bảo thật các con: Các con đã theo Thầy, thì trong ngày tái sinh, khi Con Người ngự trên toà vinh hiển, các con cũng sẽ ngồi trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel. Và tất cả những ai bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, vợ con, ruộng nương vì danh Thầy, thì sẽ được gấp trăm và được sự sống đời đời. Nhưng có nhiều kẻ trước hết sẽ nên sau hết, và kẻ sau hết sẽ nên trước hết'".

 


Trước hết, thành phần "bỏ mọi sự mà theo Thày" - "sẽ ngồi trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel": Nghĩa là nhân loại sẽ được xét xử căn cứ vào chứng từ của thành phần theo Chúa, một chứng từ cho thấy "đức tin hoạt động qua đức ái" (Galata 5:6), một chứng từ nhờ đó họ có thể nhận biết Thiên Chúa mà được sống


Đó là lý do trong cuộc chung thẩm, Vị Thẩm Phán Tối Cao đã phân loại chiên dê theo tiêu chuẩn "đức tin hoạt động qua đức ái" này, khi Người phán xét cả hai về đức bác ái theo bề ngoài nhưng thật ra phán xét đức tin của họ, ở chỗ dê không thấy Người nơi thành phần anh chị em hèn mọn nhất của Người nên không thương giúp bởi đó bị loại trừ, còn chiên dù không thấy vẫn ra tay bác ái cứu trợ nên được cứu độ (xem Mathêu 25:31-46). 


Sau nữathành phần "bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, vợ con, ruộng nương vì danh Thầy" - "sẽ được gấp trăm và được sự sống đời đời": Theo Phúc Âm Thánh Marco đoạn 10 câu 30 thì câu nói của Chúa Kitô đây còn được xác định rõ ràng "đời này" và "đời sau" nữa: "sẽ được gấp trăm" ngay "ở đời này" và "được sự sống trường sinh" "ở đời sau". Mà nếu thành phần môn đệ theo Chúa Kitô mà quả thực "được gấp trăm" ngay "ở đời này" thì chắc chắn họ sẽ "được sự sống trường sinh" "ở đời sau". 


Đúng thế, ngay "ở đời này" thành phần môn đệ theo Chúa Kitô không phải là thành phần "có tinh thần nghèo khó" nên đã được "Nước Đức Chúa Trời làm của mình vậy" (Mathêu 5:3) hay sao, và họ cũng không phải là thành phần "hiền lành" nên đã "được đất làm của mình vậy" (Mathêu 5:5) hay sao, một thứ "đất" biểu hiệu cho thế gian hay nhân loại. Nghĩa là họ dám đánh đổi tất cả mọi sự họ có để tậu cho bằng được thửa ruộng thế gian là nơi kho tàng Chúa Kitô được chôn giấu (xem Mathêu 13:44). Như thế không phải là họ đã thực sự được "gấp trăm" ngay "ở đời này" hay sao, là được cả Chúa Kitô lẫn ơn cứu chuộc thế gian của Người?


Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, một nhân vật đã được Thiên Chúa tuyển chọn, một nhân vật cảm thấy mình thấp hèn trước sứ vụ cao cả Chúa trao cho: ""Ngươi hãy mạnh mẽ tiến đi mà giải thoát Israel khỏi tay quân Mađian: chính Ta sai ngươi đó'... 'Thôi, xin Chúa, con dựa vào đâu mà giải thoát Israel? Đây gia đình con là gia đình rốt hết trong chi tộc Manassê, và con là con út trong nhà cha con'".


Nhưng Thiên Chúa đã trấn an nhân vật mang tên Gideon này, vì Ngài muốn tỏ mình ra qua tình trạng thấp hèn của ông, tức muốn biến tình trạng thấp hèn của chàng thành quyền năng vô địch của Ngài, nhờ đó chàng được tăng bội "gấp trăm" ngay "ở đời này", như lời Chúa hứa với chàng trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Ta sẽ ở cùng ngươi: ngươi sẽ đánh ngã quân Mađian như đánh một người vậy". 


Ngay trong lời tuyên phán của Thiên Chúa với Quan Án Gideon ở đây chúng ta cũng thấy ẩn chứa tính cách "gấp trăm", nếu không muốn nói là gấp ngàn, gấp vạn lần qua câu: "ngươi sẽ đánh ngã quân Mađian như đánh một người vậy", như chúng ta thấy cuộc chiến diễn ra quả đúng như thế (xem Sách Quan Án nguyên Đoạn 7): ở chỗ, chỉ với 300 tinh binh, vị quan án này đã oanh liệt chiến thắng đạo binh nhiều như châu chấu và lạc đà nhiều như cát biển của đạo quân quá hùng hậu của dân Midian, Amaleck và Kedemite (câu 7 và 12). 


Bài Đáp Ca hôm nay như phản ảnh tâm trạng của một Quan Án Gideon khi được Thiên Chúa kêu gọi và trao sứ mệnh giải thoát dân của Ngài, và khi thấy được việc Ngài tỏ mình ra qua tình trạng thấp hèn của mình thì nhận biết lòng nhân hậu của Ngài qua việc Ngài tiếp tục ở với dân của Ngài và ra tay giải cứu dân của Ngài khi tới thời điểm của Ngài và theo cách thế của Ngài;

 

1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an, bình an cho dân tộc và các tín đồ của Chúa, và cho những ai thành tâm trở lại với Người. 


2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống. 


3) Vâng Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất Nước chúng tôi sẽ sinh bông trái. Đức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Ngài. 


Thứ Tư

 

sự sống đảo ngược


Bài Đọc I: (Năm I) Tl 9, 6-15

Đáp Ca: Tv 20, 2-3. 4-5. 6-7

Phúc Âm: Mt 20, 1-16a

Lời Chúa cho Thứ Tư Tuần XX Thường Niên hôm nay được tiếp tục trước hết với Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu với 16 cầu đầu ở đoạn 20 về dụ ngôn thuê thợ làm vườn nho và trả công đồng đều cho họ bao gồm cả người làm nhiều giờ nhất, từ "giờ thứ ba" trong ngày đến người ít giờ nhất, từ "giờ thứ 11" trong ngày, tức cách nhau 8 tiếng đồng hồ.


Sự kiện chủ trả lương đồng đều cho cả nhóm thợ được thuê sớm nhất lẫn nhóm thợ thuê muộn nhất bề ngoài có vẻ bất công, như chính cảm nhận của nhóm thợ đến làm sớm nhất: 

"Đến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: 'Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết'. Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng. Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn; nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Đang khi lãnh tiền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: 'Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?'" 

Thật ra, theo lý thì người chủ này chẳng những không bất công một chút nào với nhóm thợ được ông thuê làm vườn nho cho ông sớm nhất mà còn theo tình tỏ ra hết sức rộng lượng nữa là đằng khác với nhóm thợ được ông thuê làm vườn nho cho ông muộn nhất và ít vất vả nhất nữa, như chính câu trả lời của ông với nhóm thợ than phần hành động của ông cho thấy:

"Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao? Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?" 

Đúng thế, ông chủ vườn nho không bất công với nhóm thợ đầu tiên và 2 nhóm thợ sau đó. Bởi vì 3 nhóm thợ đến sớm này và ông đã thỏa thuận với nhau về tiền công đâu vào đấy rồi: 

"Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: 'Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng'. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy'". 

Còn việc ông chủ này trả cho nhóm thợ sau cùng bằng nhóm thợ đầu tiên là do lòng quảng đại của ông, bởi nhóm thợ sau cùng này không hề mặc cả và đòi hỏi gì, có việc làm là tốt rồi, bằng không sẽ bị ế lao công và thiện chí của họ, trong khi đó ông chủ cũng chẳng hứa trả cho họ bao nhiêu và họ phải làm như thế nào: "Đến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: 'Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?' Họ thưa rằng: 'Vì không có ai thuê chúng tôi'. Ông bảo họ rằng: 'Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta'".

Riêng với nhóm thợ cuối cùng này, theo lý họ cũng đáng được hưởng 1 đồng như nhóm thợ đầu tiên. Bởi vì họ cũng đã sẵn sàng đi làm từ ban đầu, đến độ họ cứ đợi mãi mà chẳng có ai thuê mướn. Chẳng những việc họ đã sẵn sàng làm việc từ sáng sớm, mà còn tỏ ra nhẫn nại chờ đợi được thuê mướn nữa, nhất là khi được thuê mướn không mặc cả gì như ba nhóm thợ đầu tiên, có việc là vui rồi, làm gì cũng được, lương bao nhiêu cũng OK, đủ cho họ xứng đáng lãnh nhận bằng đồng lương của nhóm đầu tiên, nếu không muốn nói là còn xứng đáng được hơn thế nữa.


Chưa hết, vấn đề còn được đặt ra với nhóm thợ cuối cùng đặc biệt này là tại sao chủ vườn nho đã ra thuê thợ làm vườn nho cho mình cả 3 lần trước đó mà lại không thấy họ là những người mà chính ông chủ cũng phải công nhận "sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?" Phải chăng vì họ đứng ở chỗ khác với 3 nhóm trước, và ông chủ mỗi lần đi một chỗ khác để tìm thuê thêm thợ, để rồi cuối cùng ông mới tới chỗ của họ đứng chờ, biểu hiệu cho vị thế và thân phận của mỗi người ở trong sự quan phòng thần linh của Thiên Chúa, Đấng kêu gọi họ vào lúc nào Ngài muốn.


C
ăn cứ vào dụ ngôn trong bài Phúc Âm này, vào nguyên tắc đối xử của ông chủ vườn nho với các nhóm thợ được ông thuê vào làm vườn nho cho ông, thì chúng ta thấy rằng chúng ta được quyền yêu thương người này hơn người kia, chẳng hạn Chúa Giêsu yêu Tông Đồ Gioan một cách đặc biệt trong số các tông đồ của Người, nhưng đừng vì thế, vì người được mình yêu hơn bởi một lý do chính đáng nào đó mà đối xử bất công với những người khác. Có nghĩa là, theo nguyên tắc, theo lý, phải yêu thương hết mọi người như nhau, như bản thân mình, nhưng, theo tình, chúng ta vẫn có thể yêu một người nào đó hơn, vì hoàn cảnh đáng thương cần cứu giúp của họ, hay vì khả năng phục vụ đắc lực cho công ích của họ v.v.

Trong lịch sử Giáo Hội cũng xẩy ra những trường hợp được Chúa Giêsu cảnh giác ở câu cuối của bài Phúc Âm hôm nay: "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết". Chẳng hạn một Tông Đồ của Các Tông Đồ Mai-Đệ-Liên, hay Một Đại Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, hoặc một Giáo Phụ Tiến Sĩ Âu Quốc Tinh v.v. Trường hợp của người thu thuế và người Pharisiêu trong dụ ngôn cả hai cầu nguyện trong đền thờ cũng cho thấy rõ đường lối "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết" ngược đời này vậy (xem Luca 18:9-14). Hay trường hợp của người con cả tính toán với cha như là một người làm công cho cha và của người con thứ chỉ muốn làm tôi tớ của cha vì cảm thấy bất xứng làm con của cha (xem Luca 15:11-32) cũng vậy: "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết". 

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết" đã xẩy ra ở trường hợp giữa hai đứa con của Quan Án Gideon, một đứa con của ông là Giotham còn sống sót trong vụ tất cả các người con khác của ông tất cả là 70 người (sinh bởi nhiều bà vợ khác nhau của ông) bị Abimêlech là đứa con của người vợ lẽ, không phải vợ chính thức của ông sát hại để tự phong vương và làm vua Israel 3 năm

Phải chăng kẻ sau hết sẽ nên trước hết đây là Giotham còn sống sót và kẻ trước hết sẽ nên sau hết đây là Abimelech sát hại anh em mình để tự phong vương cho mình? Thật sự hậu quả đã cho thấy rằng Abimelech đã bị trả nợ máu vì sát hại 70 người con của Gideon là anh em cùng cha khác mẹ của mình, một ác giả ác báo đúng như lời nguyền rủa của người con sống sót là Giotham (xem Sách Quan Án 9:53-57)

Thời Quan Án (Judges) chưa phải là thời quân chủ (king) theo lịch sử của dân do Thái. Nếu Saul là vị vua đầu tiên của dân Do Thái, một vị vua được Thiên Chúa tuyển chọn và xức dầu bởi vị Quan Án cuối cùng là Samuel (1Samuel 8:1,19-22; 9:26-27;10:1) thì Abimelech là một vị ngụy vương, do đó, nhân vật này đã bị Thiên Chúa hạ bệ. Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa nhận thức và tâm tình của dân Do Thái về vị vua của họ được Thiên Chúa tuyển chọn và phong vương thực sự: 

 

 

1) Lạy Chúa, do quyền năng Chúa mà vua vui mừng; do ơn Chúa phù trợ, vua xiết bao hân hoan! Chúa đã ban cho sự lòng vua ao ước, và điều môi miệng vua xin, Chúa chẳng chối từ.


2) Chúa đã tiên liệu cho vua được phước lộc may mắn, đã đội triều thiên vàng ròng trên đầu vua. Nhờ Chúa giúp mà vua được vinh quang cao cả, Chúa khoác lên người vua, oai nghiêm với huy hoàng. 


3) Vua xin Chúa cho sống lâu, thì Chúa đã ban cho một chuỗi ngày dài tới muôn muôn thuở. Chúa đã khiến vua nên mục tiêu chúc phúc tới muôn đời, Chúa đã cho vua được hân hoan mừng rỡ trước thiên nhan. 

 


Thứ Năm

sự sống hoan hưởng 


Ngày 20: Thánh Bernađô, tu viện trưởng, Tiến Sĩ Hội Thánh


Bernađô sinh năm 1090 tại Fontaine miền Bourgogne nước Pháp. Trong số 7 anh em, Bernađô thường được mẹ nuông chiều hơn cả, vì thế cậu thường rụt rè và nhát sợ. Khuyết điểm đó, sau này nhờ ơn Chúa, cậu đã vượt qua và trở nên một người mạnh dạn rao giảng lời Chúa.

Bernađô vào dòng Citô năm 22 tuổi. Sau ba năm nhà tập, ngài được cử đi làm tu viện trưởng tại Clairvaux, một chi nhánh của dòng.

Ðời sống tu viện trong giai đoạn đầu hết sức kham khổ: đói khát, lạnh lẽo và thiếu thốn đủ thứ đã làm cho các tu sĩ ngã lòng nản chí. Nhưng ngài vẫn một mực kiên trì và làm gương cho các thầy bằng sự hy sinh hãm mình, dù sức khỏe ngài rất yếu kém.

Nhận thấy Bernađô là người có đức độ nên Ðức Giám Mục Guilliaume de Champeaux đã truyền chức linh mục cho ngài và sai ngài đi giảng thuyết. Ngài đã biện bác chống lại các lạc giáo. Nhiều bậc vị vọng đạo đời đã đến xin ngài chỉ dẫn cho trong mọi công việc. Tiếng tăm ngài vang khắp nơi, nhưng ngài vẫn khiêm tốn và ưa thích tìm về đời sống trầm lặng trong tu viện. Ngài đã viết nhiều tác phẩm rất có giá trị, nhất là về phương diện tín lý. Ngài đã giúp Ðức Giáo Hoàng Innôcentê II trong công việc chống lại bọn ly giáo Pierre de Léon.

Thánh nhân chết năm 1153 tại Clairvaux, hưởng thọ 63 tuổi, để lại nhiều tu viện do chính ngài lập nên và có nhiều bút tích quý giá. Ðức Piô VIII đã tôn phong ngài lên bậc Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1830. 

 

Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần

Bài Đọc I: (Năm I) Tl 11, 29-39a

Đáp Ca: Tv 39, 5. 7-8a. 8b-9. 10

Phúc Âm: Mt 22, 1-14

 

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Năm Tuần XX Thường Niên, không còn liên tục với các bài Phúc Âm trong tuần như các ngày trước, mà là một bài Phúc Âm bắt đầu từ đầu Đoạn 22, hoàn toàn bỏ Đoạn 21 và 17 câu của Đoạn 20. Tất nhiên, việc Giáo Hội cố ý chọn đọc các bài Phúc Âm hằng ngày trong tuần hay Chúa Nhật này phải liên tục với nhau về nội dung, cho dù có những đoạn và những câu Phúc Âm bị cắt bỏ như vậy, vì có thể những chỗ ấy chỉ là những biến cố không hợp vào thời điểm phụng vụ này. 


Chẳng hạn như biến cố Chúa Giêsu vào Thánh Giêrusalem và thanh tẩy đền thờ rồi nguyền rủa cây vả và vấn đề thẩm quyền của Chúa Giêsu (xem Mathêu 21:1-27), những gì mà hầu hết đã được Giáo Hội cho đọc theo Phúc Âm của Thánh ký Marco ở các ngày Thứ Sáu và Thứ Bảy Tuần VIII Thường Niên rồi, không cần đọc lại hay lập lại nữa.


Nếu bài Phúc Âm hôm qua về dụ ngôn người chủ vườn nho thuê thợ làm vườn nho và trả công cho họ bằng nhau liên quan cả đến ân sủng của Thiên Chúa thì bài Phúc Âm hôm nay về dụ ngôn một "vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử" lại càng liên quan đến ân sủng của Thiên Chúa


Thật vậy, nếu 4 nhóm thợ được chủ vườn nho thuê làm vườn nho cho ông để được trả công tương xứng, một khoản tiền công chẳng những công bằng về lý đối với 3 nhóm thợ đầu mà còn về tình với nhóm thợ cuối cùng, thì thành phần được mời đến dự tiệc cưới trong bài Phúc Âm hôm nay đây hoàn toàn liên quan đến tình nghĩa của Thiên Chúa, tức là họ chỉ việc đến hoan hưởng mà chẳng phải vất vả làm gì hết, một đặc ân bao gồm chẳng những thành phần được ấn định ám chỉ dân Do Thái mà còn tất cả mọi người không trừ ai ám chỉ chung nhân loại hay dân ngoại nữa:


Thành phần đã được ấn định: "Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai các đầy tớ khác mà rằng: 'Hãy nói cùng những người đã được mời rằng: Này ta đã dọn tiệc sẵn rồi, đã hạ bò và súc vật béo tốt rồi, mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới'. Nhưng những người ấy đã không đếm xỉa gì và bỏ đi: người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán, những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi".


Thành phần không được mời trước cũng được tham dự: "Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: 'Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới'. Các đầy tớ liền đi ra đường, gặp ai bất luận tốt xấu, đều quy tụ lại và phòng cưới chật ních khách dự tiệc".


Căn cứ vào dụ ngôn về việc mở tiệc cưới và mời khách đến dự hôm nay, chúng ta thấy nếu tiệc cưới đây ám chỉ mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô, Đấng là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), Đấng đã kết hiệp thiên tính và nhân tính lại với nhau nơi ngôi vị thần linh của mình, thì thành phần được mời đến tham dự tiệc cưới này, tức thành phần được tham phần vào chính mầu nhiệm nhập thể này tất nhiên phải bao gồm cả dân Do Thái là giòng dõi Chúa Giêsu được sinh ra về thể lý, lẫn dân ngoại vì Người mặc lấy nhân tính của cả loài người của họ và như họ.


Chính vì dân Do Thái đã được mời trước, ở chỗ đã được Thiên Chúa tuyển chọn và lập giao ước với qua các tổ phụ của họ, mà họ không chấp nhận Chúa Kitô đã đến trong xác thịt, lại còn giết Người nữa, nên họ đúng là thành phần đã từ chối không đến dự tiệc cưới vậy.

 

 

Tuy nhiên, để xứng đáng với đặc ân tự nhiên được tham dự tiệc cưới cứu độ này, thành phần tham dự cần phải tỏ ra xứng đáng nữa, bằng không sẽ bị loại trừ:


"Đoạn vua đi vào quan sát những người dự tiệc, và thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới. Vua liền nói với người ấy rằng: 'Này bạn, sao bạn vào đây mà lại không mặc y phục lễ cưới?' Người ấy lặng thinh. Bấy giờ vua truyền cho các đầy tớ rằng: 'Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng!' Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít".


Như bài Phúc Âm về việc trả lương cho thợ làm vườn nho, mới nghe qua thì có vẻ bất công thế nào thì việc ông vua đối xử với thành phần được ông lùa vào dự tiệc cưới của con ông đã bị ông trừng phạt vì không mặc áo cưới cũng thế. Ở chỗ, nếu những người này biết trước là cần phải mặc áo cưới thì có lẽ họ đã không vào, bởi bấy giờ họ không kịp sửa soạn áo cưới hay không có tiền mua áo cưới v.v.


Thế nhưng, áo cưới đây là gì, nếu không phải là việc chấp nhận Lời Nhập Thể, Đấng Thiên Sai, Đấng "đã đến trong xác thịt" (xem 2Gioan 7), "đã mặc lấy thân phận tôi đòi, được sinh ra như loài người" (Philiphê 2:7), "bởi một người nữ" (Galata 4:4): "Người đã ở trong thế gian, và nhờ Người mà thế gian đã được tạo thành, nhưng thế gian đã không nhận biết Người là ai. Người đã đến với những ai thuộc về Người nhưng họ đã không chấp nhận Người. Bất cứ ai chấp nhận Người thì Người đã ban cho họ được quyền trở nên con cái của Thiên Chúa" (Gioan 1:10-12).


Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, số phận người con gái là đứa con duy nhất của Quan Án Jephthah đã phải bất đắc dĩ sống đồng trinh không lập gia đình một cách đau buồn tủi hổ theo lời hứa vô tình của cha mình với Thiên Chúa để ông có thể thắng được quân Ammon, phải chăng là một hình ảnh xa xa về đời sống trinh nguyên liên quan đến Người Nữ diễm phúc được chọn sinh hạ Lời Nhập Thể?  


Nếu bài Phúc Âm liên quan đức tin chấp nhận Lời Nhập Thể và đáp ứng ý muốn của Thiên Chúa là Đấng kêu gọi tất cả mọi người đến chung hưởng sự sống đời đời của Con Ngài và với Con Ngài, thì Bài Đáp Ca hôm nay đã khen tặng thành phần tin tưởng vào Thiên Chúa như vậy:

 

1) Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa, không theo kẻ thờ thần tượng, không hướng về chuyện gian tà.


2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở tai con. Chúa không đòi hỏi hy lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến". 


3) Như trong Quyển Vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con. 


4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong Đại Hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi. 


Thứ Sáu

sự sống thông hưởng

Ngày 21: Thánh Piô X, Giáo Hoàng

Thánh Piô X, tên thật là Joseph Sarto, sinh năm 1835 tại làng Riese, miền Vénétia nước Ý. Ngài rất thông minh và cần mẫn làm việc. Học Tiểu Chủng Viện Padua, thụ phong linh mục năm 1858. Ngài đã từng làm phó xứ Tomholo, rồi chánh xứ Salzanô, và giữ những chức vụ quan trọng trong Giáo Triều. Ðược phong làm Giám Mục giáo phận Mantoue năm 1884. Ngài đã chu toàn xứ mạng chủ chăn, chuyên chăm huấn luyện các giáo sĩ, để ý đến phụng vụ và giới nghèo. Năm 1893, ngài được phong làm Hồng Y, Giáo Chủ Venise. Sau khi Ðức Giáo Hoàng Lêô XII mất, ngài được bầu lên thay ngày 04/8/1903. Dầu ngài cố gắng từ chối, nhưng vẫn không qua khỏi ý Chúa. Trên ngai Giáo Hoàng, ngài vẫn không bỏ lối sống xưa kia, nhất là lòng khiêm nhường, đơn sơ và khó nghèo là những đặc điểm nổi bật nhất. Ngài lo bảo vệ đức tin, lên án chống lại phái duy tâm, tiếp xúc với các nhóm ly giáo tranh đấu bảo vệ sự tự do của Giáo Hội, đặt một nền giáo dục vững chắc cho tu sĩ, soạn thảo cuốn giáo luật, khuyến khích việc tôn thờ Bí Tích Thánh Thể, việc năng rước lễ và việc trẻ em rước lễ sớm hơn.

Lo lắng và đau khổ cho cuộc thế chiến đang bắt đầu, ngài qua đời ngày 20/8/1914 và được Ðức Giáo Hoàng Piô XII phong thánh năm 1945.


Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần

Bài Đọc I: (Năm I) R 1, 1. 3-6. 14b-16. 22

Đáp Ca: Tv 145, 5-6. 7. 8-9a. 9bc-10

Phúc Âm: Mt 22, 34-40


Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần XX Thường Niên, cũng không liên tục với bài Phúc Âm hôm qua, cách bài Phúc Âm hôm qua 16 câu, trong đó có hai vấn đề được đặt ra cho Chúa Giêsu, trước hết là vấn đề được nhóm biệt phái cố tình gài bẫy Chúa Giêsu về việc nộp thuế cho Cesar (xem Mathêu 22:22:15-22), và sau đó là vấn đề được nhóm Saducê đặt ra về niềm tin phục sinh (xem Mathêu 22:23-33), cả hai vấn đề đã được Phúc Âm Thánh ký Marcô thuật lại ở Thứ Ba và Thứ Tư Tuần IX Thường Niên trước đây.


Tuy nhiên, bài Phúc Âm hôm nay, bài Phúc Âm về điều răn trọng nhất, dù đã được Giáo Hội chọn đọc theo Thánh ký Marcô cho Thứ Năm Tuần IX Thường Niên, Giáo Hội vẫn chọn đọc lại một lần nữa, chẳng những bởi tính cách quan trọng của giới răn trọng nhất này mà còn liên quan đến Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay nữa. Ngoài ra, giới răn trọng nhất trong bài Phúc Âm hôm nay cũng liên hệ với 2 bài Phúc Âm hôm qua và hôm kia trong tuần này. 


Ở chỗ, nếu con người sống trọn giới răn trọng nhất là mến Chúa hết mình và yêu nhau như mình: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy, là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi", thì các nhóm thợ làm vườn nho lâu giờ đã không tỏ thái độ bất mãn với chủ và ghen tị với nhóm thợ cuối giờ, và thành phần bất ngờ được mời đến dự tiệc cưới trong hoàng cung sẽ mặc áo cưới xứng đáng với đặc ân diễm phúc khôn lường của mình.


Ngoài ra, bài Phúc Âm hôm nay cũng liên quan đến ý nghĩa của câu chuyện trong Bài Đọc 1 cùng ngày, ở ngay câu trả lời của nàng dâu góa tên Ruth với người mẹ chồng góa là bà Noemi rằng: "Xin mẹ đừng bắt con bỏ mẹ mà ở lại, vì mẹ đi đâu thì con cũng đi theo đó. Dân tộc của mẹ là dân tộc của con, và Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con", cho dù nàng có được người mẹ góa chồng này thúc giục nàng hãy làm như nàng dâu cả của bà là ở lại quê hương của Moab của họ đừng theo bà về quê hương của bà nữa, vì dầu sao 2 người chồng của 2 nàng là 2 người con trai của bà đã chết"Kìa, chị dâu con đã ở lại với dân mình và các thần minh của họ, con hãy ở lại với chị con".


Trong câu trả lời của nàng dâu góa người Moab dân ngoại tên Ruth này với mẹ chồng của nàng là người Do Thái chất chứa tất cả giới răn trọng nhất: mến Chúa hết mình "Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con", và yêu người như mình: "Dân tộc của mẹ là dân tộc của con" - Chính vì thế: "Xin mẹ đừng bắt con bỏ mẹ mà ở lại, vì mẹ đi đâu thì con cũng đi theo đó".


Một người thuộc dân ngoại mà có một tấm lòng thủy chung vô cùng hiếm quí như vậy, thủy chung chẳng những với người chồng quá cố mà còn với mẹ chồng nữa, nhất là với cả Thiên Chúa của gia đình chồng, nên quả thực nàng đã xứng đáng được Thiên Chúa bên nhà chồng chọn làm bà cố nội của Vua Đavít, tức là người đã sinh ra đứa con trai mang tên Obed là ông nội của vua và Obed đã sinh ra bố của vua là Jesse (xem Mathêu 1:5-6), và vì thế nàng đã nghiễm nhiên trở thành bà cố tổ của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.


Dụ ngôn về đức vua mở tiệc cưới cho con trai của mình ở bài Phúc Âm hôm qua, mà tiệc cưới của người con trai này ám chỉ mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa hóa thân làm người, thì Thiên Chúa đã phải sửa soạn cho bữa tiệc cưới thần linh này từ lâu, chẳng những ngay sau nguyên tội, khi Ngài tự động hứa cứu chuộc loài người liên quan đến giòng dõi của người nữ (xem Khởi Nguyên 3:15), mà còn trong suốt giòng lịch sử cứu độ của dân Do Thái nữa, trong đó có nàng dâu Ruth thuộc dân ngoại Moab này, một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đã muốn cả dân ngoại nữa cũng được tham dự vào bữa tiệc cưới này của Con Mình.


Bài Đáp Ca hôm nay có một nội dung như thể nói về nàng dâu Ruth, qua những chỗ rất thích hợp với nàng như: "được Thiên Chúa nhà Giacóp phù trợ" (câu 1), "Thiên Chúa che chở những khách kiều cư" (câu 3), nhất là câu "Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ" (câu 4).


1) Phúc thay người được Thiên Chúa nhà Giacóp phù trợ, người đặt hy vọng vào Chúa là Thiên Chúa của mình: Người là Đấng đã tạo thành trời đất, biển khơi và muôn vật chúng đang chứa đựng. 


2) Người là Đấng trả lại quyền lợi cho người bị ức, và ban cho những người đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.


3) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù. Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân, Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. 


4) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường lối đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác. 



Thứ Bảy


sự sống chắp nối

Lễ Ðức Maria Trinh Nữ Vương

Vị Nữ Vương Thế Giới và Nữ Vương Hòa Bình

(Thánh Amadeus of Lausanne, Giám Mục: Hom. 7: SC 72; 188, 190, 192, 200)
 

Hãy quan sát mà xem thật là xứng hợp biết bao ngay trước cả khi được mông triệu, danh Mẹ Maria đã chiếu sáng lạ lùng trên khắp thế gian này rồi. Tiếng tăm của Mẹ đã được lan truyền khắp nơi ngay trước khi Mẹ được nâng lên trên các tầng trời uy nghi lộng lẫy. Vì vinh dự nhờ Con của mình, Vị Trinh Mẫu thật sự xứng đáng là người, trước hết, cai trị trái đất, rồi sau đó được đưa về trời trong vinh quang. Tiếng tăm của Mẹ xứng đáng được truyền bá dưới thế gian này, để Mẹ có thể tiến đến tuyệt đỉnh trên trời đầy vinh phúc. Như Mẹ đã nhờ Thần Linh Chúa mà được sinh ra đầy những nhân đức thế nào, thì Mẹ cũng đã được chuyển từ tình trạng nổi nang trần thế sang thực tại vinh quang trên trời như vậy.

Bởi vậy mà Mẹ đã bắt đầu được nếm hưởng những hoa trái của việc Mẹ sau này hiển trị trong khi vẫn còn sống trong xác thịt. Lúc thì Mẹ ngây ngất trong Thiên Chúa; lúc thì Mẹ cúi mình xuống trên tha nhân bằng một tình yêu khôn tả. Các thần trời phục dịch Mẹ, trong khi trên thế gian Mẹ được việc làm của con người tôn kính. Thần Gabiên và các thần trời phục vụ Mẹ trên trời. Thánh Gioan đồng trinh, hân hoan vui sướng vì Trinh Mẫu đã được trao phó cho ngài dưới chân cây thập giá, để cùng với các tông đồ khác chăm sóc cho Mẹ ở dưới thế gian này. Các thần trời hoan lạc vì được nhìn thấy vị nữ hoàng của mình, các thánh tông đồ hớn hở khi thấy vị tôn nữ của mình, và cả hai thành phần này đều vâng lời Mẹ với lòng sùng mộ ưu ái. 

Ở trong một thành trì nhân đức cao vời nhất, như biển cả ân sủng thần linh hay như một nguồn mạch yêu thương khôn dò tràn lan khắp nơi khắp chốn, Mẹ tuôn đổ những giòng nước ân sủng xuống trên những linh hồn tin tưởng và khát khao. Được gìn giữ cả xác thịt lẫn tâm thần khỏi sự chết, Mẹ đã xức dầu ban sinh lực trên thân xác cũng như linh hồn. Có ai đã thoát được Mẹ khi họ gặp rắc rối, buồn đau hay vô thức về các mầu nhiệm nước trời chăng? Ai đã không hân hoan vui vẻ quay trở lại với sinh hoạt hằng ngày vì lời kêu xin của họ đã được Người Mẹ Thiên Chúa ban cho?

Mẹ là một vị hôn thê, rất êm ái và biết cảm thương, là mẹ của thành phần làm dâu đích thực duy nhất. Trong sự thiện hảo dồi dào của mình, Mẹ đã làm tuôn chảy suối của khu vườn lý trí, giếng của những thứ nước hằng sống và là nước ban sự sống vọt lên thành một giòng suối chảy xiết từ núi Lêbanon linh thánh và chảy xuống từ Núi Sion cho đến khi chúng bao tỏa những bờ bến của hết mọi quốc gia xa xăm hẻo lánh. Nhờ được thần linh trợ giúp Mẹ đã tái hướng những giòng nước này, làm cho chúng trở thành những giòng nước an bình và là những ao hồ ân sủng. Bởi thế, khi mà Vị Trinh Nữ của mọi trinh nữ được Thiên Chúa cũng như được Con Mẹ, Vua các vua, tiến dẫn qua giữa hội đoàn các thần trời hân hoan cùng với các tổng thần hớn hở, giữa tiếng hát khen chúc tụng của các tầng trời, thì lời tiên tri của Vị Tác Giả Vịnh được nên trọn, lời mà vị tác giả này đã thưa lên cùng Chúa: bàn tay phải của Chúa đặt định vị trí cho nữ vương, mặc nhung gấm lụa là”.


(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ The Office of Readings, Saint Paul Editions, 1983, trang 1526-1527)


Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần (vì có năm ngày hôm nay không trùng với Lễ Mẹ Nữ Vương)
Bài Đọc 1: Ruth 2:1-3,8-11;4:13-17
Đáp Ca: Tv 128:1b-2,3,4,5
Phúc Âm: Mt 23:1-12

Bài Phúc Âm cho Thứ Bảy Tuần XX Thường Niên hôm nay cách bài Phúc Âm hôm qua 5 câu, 41-46, những câu cuối của Đoạn 22, những câu Phúc Âm về vấn đề Chúa Giêsu đặt ra cho thành phần biệt phái khiến "không ai dám hỏi Người một điều gì nữa từ đó trở đi" (Mathêu 22:46), đó là vấn đề nếu Đấng Kitô Thiên Sai là con của Vua Đavít thì tại sao chính vua lại gọi Người là Chúa


Phải, Giáo Hội đã không chọn đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu về vấn đề ấy, vì vấn đề này đã được Giáo Hội chọn đọc cho ngày Thứ Sáu Tuần IX Thường Niên theo Phúc Âm của Thánh ký Marcô rồi. Bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc hôm nay liên quan đến thành phần luật sĩ và biệt phái, thành phần bị Người thậm tệ quở trách và vạch trần bộ mặt giả hình của họ, như chúng ta đã thấy 1 chút trong bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô ở Thứ Bảy Tuần IX Thường Niên, và sẽ thấy tt cả ở trong các bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho 3 ngày đầu của tuần tới, tuần cuối cùng theo Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho Phụng Vụ Lời Chúa ngày thường trong tuần từ Tuần X Thường Niên.


Đúng thế, ngay từ bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nghiêm thẳng vạch trần chân tướng của hai thành phần luật sĩ và biệt phái đầy kiêu hãnh và ham danh trong dân này:


"Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là 'rabbi'".


Tuy hai thành phần luật sĩ và biệt phái vốn được coi là thày dạy trong dân này có những cử chỉ và hành động đầy gương mù gương xấu phản tác dụng bất khả chấp như vậy, nhưng "Đức Giêsu (vẫn) nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: 'Các kinh sư và các người Pharisiêu ngồi trên toà ông Moisen mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm'".  


Thế nhưng, trên thực tế rất khó thực hành theo bản tính tự nhiên của loài người. Chúng ta hay có khuynh hướng đồng hóa tội nhân với tội lỗi hay với gương mù gương xấu của họ. Ở chỗ, chúng ta chẳng những tỏ ra ghê tởm việc làm xấu xa hay tội lỗi của họ mà còn ghê tởm và khinh bỉ chính con người của họ nữa. Có những lúc hay nhiều lúc chúng ta thường tấn công họ bằng những lời nói nhục mạ họ, (thậm chí công khai qua phương tiện truyền thông: báo chí, email, internet, truyền thanh, truyền hình, thơ nặc danh, hay ngay cả trên tòa giảng v.v.), hơn là tế nhị và nhẹ nhàng khôn khéo sửa lỗi cho họ để họ dễ cảm nhận bản thân hèn yếu lỗi lầm của mình mà hoán cải trở về cùng Chúa theo tinh thần và đường lối được Chúa Giêsu huấn dạy trong bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước. 


Chúng ta thường đối xử với anh chị em lầm lỗi của chúng ta như thể chúng ta là con người toàn hảo, không bao giờ sai lỗi, động một tí là ném đá nhau, thậm chí như thể là quan án của họ, có quyền tối thượng trong việc thưởng pht nhau, trong khi chúng ta chưa thấu suốt được thâm tâm của nhau như Thiên Chúa là Đấng duy nhất có quyền phán quyết mọi người. Quả thực Chúa Giêsu nói về chúng ta quá đúng khi Người vừa khiển trách vừa nghiêm trọng cảnh giác chúng ta rằng: "Đồ giả hình! trước hết ngươi hãy lấy khỏi mắt của mình cái xà đi đã rồi ngươi mới thấy được một cách rõ ràng mà lấy đi cái rằm trong con mắt của anh chị em của ngươi" (Mathêu 7:5). 


Tuy nhiên, không phải đối xử một cách cảm thông với những người anh chị em lỗi lầm của mình đến độ không còn biết phân biệt đâu là phải là trái nữa. Ở chỗ, thương tội nhân nhưng không chấp nhận tội lỗi của họ. Bởi thế, cho dù ở ngay đầu bài Phúc Âm Chúa Giêsu khuyên hãy tôn trọng quyền giáo huấn của thành phần luật sĩ và biệt phái, cuối bài Phúc Âm Người vẫn khuyên dạy dân chúng và các môn đệ của Người "đừng có làm theo những việc của họ", mà hãy sống ngược lại như sau:


"Phần anh em, đừng để ai gọi mình là 'rabbi', vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô. Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên".

Trong huấn dụ của Chúa Kitô trên đây, về hình thức thì nên tránh ba danh xưng "thày", "cha" và "xếpđối với bản thân mình, ở chỗ, về tinh thần, cho dù mình có thực sự đóng vai là "sư phụ", là "thân phụ", là "lãnh tụ" chăng nữa, mình cũng phải dấn thân phục vụ hơn là hưởng thụ, hãy lợi dụng chức vụ là "thày", là "cha", là "xếp" của mình để mang lại lợi ích cho thành phần được trao phó cho mình, theo đúng dự định thần linh của Đấng đã tuyển chọn mình, theo gương của chính Đấng Kitô Thiên Sai, Đấng đã "đến không phải để được hầu hạ mà là hầu hạ và hiến mạng sống mình cho nhiều người" (Mathêu 20:28). 

Gương làm "xếp" theo tinh thần phục vụ hơn hưởng thụ của bài Phúc Âm hôm nay được phản ảnh nơi Ông Boaz, một chủ ruộng tốt lành đã tỏ ra biết cảm thông với trường hợp nghèo khổ của nàng góa Ruth và cảm phục tinh thần hiếu thảo của nàng đối với mẹ chồng của nàng:


"Ông Boaz nói với Ruth rằng: 'Nghe đây con ơi! Con đừng đi mót ở ruộng nào khác, cũng đừng rời khỏi đây, nhưng cứ theo sát các tớ gái của ta. Con hãy nhìn thửa ruộng chúng gặt và cứ đi theo chúng. Ta đã ra lệnh cho các tôi tớ không được đụng tới con. Nếu khát, cô cứ đến chỗ để bình mà uống nước các tôi tớ đã múc".

Nếu "ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên", như chính Chúa Kitô khẳng định ở câu kết bài Phúc Âm hôm nay, thì ông chủ ruộng Boaz nhờ hạ mình xuống bác ái phục vụ tha nhân nên đã được Thiên Chúa nâng lên làm ông cố nội của Vua Đavít, tức ông cố tổ của Chúa Giêsu Kitô vậy: 

"Vậy ông Boaz lấy cô Ruth, và nàng trở thành vợ ông. Ông đến với nàng. Nhờ ơn Chúa, nàng đã thụ thai và sinh một con trai... Các bà hàng xóm láng giềng đặt tên cho đứa trẻ và nói: 'Bà Naomi đã sinh được một cháu trai'. Họ đặt tên cho nó là Obed. Đó là cha của ông Jesse, là ông nội vua Đavít".

Bài Đáp Ca hôm nay như gói ghém tâm trạng hân hoan cảm tạ của Bà Naomi, một người phụ nữ góa chồng và cho dù không còn sinh con được nữa, nhưng nhờ đứa con dâu hiếu thảo của bà mà người ta đã cho rằng chính 'Bà Naomi đã sinh được một cháu trai', để nói dõi tông đường cho người chồng quá cố của bà cũng như cho các người con trai đã chết của bà. 

1- Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa, hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ. Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương, đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự.

2- Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại, đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn.

3- Lạy Chúa, mọi đế vương dưới trần đều cảm tạ khi nghe những lời miệng Ngài phán ra.

4- Họ sẽ ca ngợi đường lối Chúa: 'Vinh quang Chúa vĩ đại dường bao!'