SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014

 

2015

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XXI Thường Niên 

23-29/8/2015

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html) 


Chúa Nhật

 

sự sống tín phục


Ngày 23: Thánh Rôsa Lima đồng trinh

Rôsa là thánh nữ tiên khởi của miền Nam Mỹ Châu. Cha mẹ ngài gốc Tây Ban Nha, nhưng vì sinh kế phải sang Pérou lập nghiệp tại thủ đô Lima vào khoảng năm 1543. Chính tại đây, Rôsa đã chào đời vào năm 1586.

Ngay từ nhỏ, Rôsa đã có một đời sống đạo đức gương mẫu. Mặc dầu được mọi người trong gia đình chiều chuộng, Rôsa vẫn luôn tỏ ra thùy mị đơn sơ từ lời nói tới cách ăn mặc. Ðược cắp sách tới trường, Rôsa chăm lo trau dồi các môn học, nhất là về văn chương. Khi cha mẹ già yếu bệnh tật, Rôsa phải bỏ học hầu giúp gia đình và phụng dưỡng cha mẹ.

Ðể giữ mình trinh khiết, năm 1608, ngài xin mặc áo dòng Ba Thánh Ða Minh. Từ đó ngài bắt đầu sống một cuộc đời ăn chay đền tội nhiệm nhặt, xa tránh những thú vui ồn ào. Những lúc nhàn rỗi, ngài thường tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện, đọc Thánh Kinh và suy gẫm về ý nghĩa lễ Misa. Cuộc sống chiêm niệm ấy đã đem lại nhiều lại nhiều tư tưởng đạo đức cao sâu cho ngài.

Ngoài ra, ngài còn ao ước đi truyền giáo các nơi xa xôi, nhưng vì gánh nặng gia đình, vì sức yếu nên ngài không thực hiện được ước mơ. Bù lại, ngài hăng hái tham gia vào việc từ thiện giúp đỡ các bệnh nhân và người nghèo khổ.

Ngài chết ngày 23/8/1617 vì bệnh ung thư, sau những năm dài say mê với công việc bác ái. Ngài được nổi tiếng vì những phép lạ đã làm. 

Ðức Giáo Hoàng Clêmentê X đã phong ngài lên hàng các thánh trinh nữ năm 1671.


Bài Đọc I: Gs 24, 1-2a. 15-17. 18b
Đáp Ca: Tv 33, 2-3. 16-17. 18-19. 20-21. 22-23
Bài Đọc II: Ep 5, 21-32

Phúc Âm: Ga 6, 61-70


Bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan cho chu kỳ phụng vụ Năm B hôm nay, Chúa Nhật XXI Thường Niên, là bài Phúc Âm thứ 5 về chủ đề Bánh Hằng Sống (the living bread), Bánh Sự Sống (the bread of life), được Giáo Hội chọn đọc từ Chúa Nhật Tuần XVII Thường Niên Năm B, chu kỳ theo Phúc Âm của Thánh ký Marcô.


Bài Phúc Âm hôm nay là phần cuối cùng của Đoạn 6 về chủ đề Bánh Sự Sống, phần liên quan đến tác dụng bất lợi về bài giảng chủ đề Bánh Sự Sống này, một tác dụng bất lợi xẩy ra không phải nơi dân chúng cho bằng ngay trong nội bộ thành phần môn đệ của Chúa Kitô: "Khi ấy, có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu nói rằng: 'Những lời này nghe sao mà chói tai quá! Ai mà có thể chấp nhận được chứ!'"


Tuy nhiên, cho dù bài giảng của mình gây phản tác dụng rất trầm trọng như thế nơi chính nội bộ môn đệ đoàn của mình, Chúa Giêsu vẫn không hề hay không chịu đính chính gì hết, chẳng hạn như Người có thể trấn an các môn đệ của Người rằng: "Ồ các con hiểu lầm lời Thày nói mất rồi, Thày chỉ nói về Bánh Sự Sống theo nghĩa bóng mà thôi, chỉ là biểu hiệu thôi, chứ thực tế làm sao lại có chuyện người ta lại ăn thịt và uống máu Thày được chứ!"


Người chẳng những không đính chính và giải thích theo xu hướng mị dân như thế, trái lại Người còn nhất định và cương quyết tiếp tục giữ vững và bênh vực lập trường trung thực của Người, bênh vực những gì Người đã nói như là những chân lý bất khả sai lầm và không thể chối cãi:


"Tự biết rằng các môn đệ đang lẩm bẩm về chuyện ấy, Chúa Giêsu nói với họ: 'Điều đó làm các con khó chịu ư? Vậy nếu các con thấy Con Người lên nơi đã ở trước thì sao? Chính thần trí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích gì? Nhưng lời Ta nói với các con là thần trí và là sự sống. Nhưng trong các con có một số không tin'".


Trong câu "chính thần trí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích gì? Nhưng lời Ta nói với các con là thần trí và là sự sống", Chúa Kitô đã khẳng định những gì Người đã nói là chân lý, là trung thực, không sai lầm, trái lại, còn mang lại sự sống nữa, chỉ cần tin vào lời Người nói, chứ đừng theo xác thịt thuộc thế giới hạ cấp không thể nào thấu hiểu được những gì thuộc thế giới thần linh huyền diệu siêu việt. 


Chính vì thái độ dứt khoát của Người với các môn đệ như thế, dứt khoát không đính chính, không ve vuốt, không mị dân, sau đó (chứ không phải trước đó) mới xẩy ra chuyện: "Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa". Nhưng Người vẫn chấp nhận cái hậu quả ấy chứ không vì thế mà đem sự thật bất biến nơi lời Người dạy thỏa hiệp với xác thịt, với trần gian.


Thật ra, trước bài giảng về Bánh Sự Sống, Chúa Giêsu đã biết trước hậu quả của nó nơi thành phần môn đệ của Người rồi: "Vì từ đầu Chúa Giêsu đã biết ai là những kẻ không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người". Nên Người cũng đã khẳng định với thành phần thính giả của Người ngay từ đầu những gì Người lập lại một lầmn nữa trong bài Phúc Âm hôm nay về nguyên tắc bất diệt và bất khả thiếu là cần phải có ơn sủng đặc biệt mới có thể đến với Người, mới có thể chấp nhận Người: "Bởi đó, Ta bảo các con rằng: Không ai có thể đến với Ta, nếu không được Cha Ta ban cho" (xem lại câu Gioan 6:44 tương tự như câu 65 này)


Đúng thế, những môn đệ nào còn ở lại với Người, còn trung thành với Người, cho dù không nắm bắt được tất cả sự thật nơi những lời Người nói, là những tâm hồn "được Cha là Đấng sai Tôi lôi kéo" (Gioan 6:44). Bởi thế, họ chẳng những không bỏ đi như một số các môn đệ khác mà còn vững tin vào Thày của họ hơn bao giờ hết, được chứng thực qua câu tuyên xưng của vị tông đồ đại diện Phêrô ở cuối bài Phúc Âm hôm nay khi trả lời cho vấn nạn Người đặt ra:


"'Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?'. Simon Phêrô thưa Người: 'Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa'".


Trong câu trả lời này của vị tông đồ trưởng Phêrô, chúng ta thấy chỉ vì các tông đồ, trước hết và trên hết, tin vào bản thân Chúa Kitô, tin vào đúng căn tính của Người: "Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa", mà các vị mới có thể chấp nhận tất cả những lời Người nói và việc Người làm, nghĩa là những gì Người "là Đấng Kitô Con Thiên Chúanói và làm cũng đều chân thật, không bao giờ sai lầm, trái lại, còn ban sự sống nữa, nên các vị không thể nào bỏ Người: "Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai đây? Chỉ Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời thôi"


Thái độ và tinh thần gắn bó của các tông đồ đối với Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay, ở chỗ các vị không bỏ Người mà đi như một số môn đệ khác, là mô phạm cho Giáo Hội đối với Chúa Kitô như vậy, như lời khuyên của Thánh Phaolô ngỏ cùng các người làm vợ sau đây: 


"Người vợ hãy phục tùng chồng mình, như đối với Chúa: vì chồng là đầu người vợ, như Đức Kitô là đầu Hội Thánh: chính Người là Đấng Cứu Chuộc thân thể mình. Nhưng như Hội Thánh phục tùng Đức Kitô thể nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình trong mọi sự như vậy"


Tại sao thế? Nếu không phải tại vì Giáo Hội thuộc về Chúa Kitô và được Người yêu thương hiến mình cho Giáo Hội hay sao: "Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và phó mình vì Hội Thánh, để thánh hoá Hội Thánh, khi Người dùng nước và lời hằng sống rửa sạch Hội Thánh, ngõ hầu bày tỏ cho mình một Hội Thánh vinh quang, không vết nhơ, không nhăn nheo hay phải điều gì khác tương tự, nhưng thánh thiện và vẹn tuyền".


Trong Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Gioduệ, cũng cho thấy dân Do Thái,  cho dù lịch sử cứu độ đã cho thấy họ đã liên lỉ bất trung bội nghĩa với Ngài, vẫn cảm nhận được Đấng đã tuyển chọn dân tộc của họ, nên khi họ được vị thủ lãnh của họ là Gioduệ đặt vấn đề với họ: 


"Nếu các ngươi không muốn tôn thờ Thiên Chúa, thì cho các ngươi lựa chọn: hôm nay, các ngươi hãy tuỳ ý chọn phải tôn thờ ai hơn: hoặc là các thần cha ông các ngươi đã tôn thờ ở Mêsôpôtamia, hoặc các thần của người xứ Amôrê, nơi các ngươi đang ở. Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ tôn thờ Chúa".


Họ đã tỏ ra cương quyết trung thành với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, Đấng hằng ở với họ và cứu độ họ như sau: "Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Chúa mà tôn thờ những thần ngoại. Chúa là Thiên Chúa chúng tôi, chính Người đã dẫn chúng tôi và cha ông chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi nhà nô lệ. Người đã làm những việc kỳ diệu cả thể trước mắt chúng tôi và đã gìn giữ chúng tôi suốt con đường chúng tôi đã đi, giữa tất cả mọi dân chúng tôi đã đi qua. Chúa đã trục xuất tất cả những dân đó cũng như người Amôrê trên phần đất chúng tôi đã tiến vào".


Bài Đáp Ca hôm nay bày tỏ nhận thức về thân phận của "người hiền đức" là tiêu biểu cho những ai tín phục Chúa, như các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay, hay như dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay, hoặc Giáo Hội trong Bài Đọc 2 hôm nay, được Thiên Chúa quan tâm (câu 2), được Thiên Chúa cứu chữa (câu 3), được Thiên Chúa giải thoát (câu 4):


1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa, linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. 


2) Thiên Chúa để mắt coi người hiền đức, và tai Người lắng nghe tiếng họ cầu. Thiên Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. 


3) Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ; Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. Thiên Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương giập nát. 


4) Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân, nhưng Thiên Chúa luôn luôn giải thoát. Người giữ gìn họ xương cốt vẹn toàn, không để cho một cái nào bị gãy. 


5) Sự độc dữ sẽ sát hại đứa ác nhân; kẻ ghét người hiền sẽ phải đích thân đền tội. Thiên Chúa cứu chữa linh hồn tôi tớ của Người, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Người, người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi.


Thứ Hai

sự sống hiếu trung

 

Ngày 24: Thánh Bartôlômêô tông đồ

Bartôlômêô là một trong số 12 tông đồ của Chúa Giêsu quê tại Cana. Theo truyền thống thì chính ngài là Natanael đã được Philipphê dẫn tới gặp Chúa (Gio I, 45-50) và được Chúa khen: "Ðây là người Israel chân chính không có gì xảo trá".

Sau ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngài được sai giảng Phúc Âm tại miền Lycôni, Ấn Ðộ và Arménie. Nhờ tài ăn nói hùng biện, lòng đạo đức và những phép lạ của ngài, nhiều người ngoại đã từ bỏ tà thần trở về với Thiên Chúa. Ngài cũng đã trừ quỷ cho nhiều người, đặc biệt là công chúa của vua Polêmon và giúp cả gia đình nhà vua theo đạo.

Các sư sãi và quan chức triều đình thấy thế ghen tức và âm mưu làm hại ngài bằng cách vu cáo với vua Attiges để ra lệnh hành hạ ngài bằng đủ mọi cực hình và cho trảm quyết ngài vào năm 52.

 

Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần
Bài Đọc 1: 1Thes. 1:1-5,8b-10
Đáp Ca: Tv 149:1b-2,3-4,5-6a và 9b
Phúc Âm: Mt 23:13-22


Tiến trình của Phúc Âm cho ngày thường trong Mùa Thường Niên được phân chia như sau: 9 tuần lễ đầu (từ tuần 1 đến hết tuần 9, và là 9 tuần thường niên Hậu Mùa Giáng Sinh) theo Phúc Âm của Thánh ký Marcô, sau đó là 12 Tuần (từ tuần 10 sang Mùa Phục Sinh đến hết tuần 21) theo Phúc Âm của Thánh ký Mathêu, và cuối cùng là 13 tuần (từ tuần 22 đến hết tuần 34) theo Phúc Âm của Thánh ký Luca. Còn Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho ngày thường trong tuần được Giáo Hội chọn đọc cho các mùa đặc biệt như Mùa Giáng Sinh (cả tuần trước lễ Hiển Linh) Mùa Chay (cả tuần 4 và 5) và Mùa Phục Sinh (liên tục từ Tuần 2 trở đi).


Tuần XXI Thường Niên này là tuần cuối cùng theo Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho ngày thường trong tuần. Ba ngày đầu là những bài Phúc Âm ở đoạn 23, liên quan đến những lời Chúa Giêsu thậm tệ khiển trách thành phần luật sĩ và biệt phái, theo chiều hướng của bài Phúc Âm của Thứ Bảy tuần trước, chiều hướng giả hình của 2 thành phần đóng vai trò làm thày dạy trong dân này

Trong bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước, Chúa Giêsu chưa trực tiếp khiển trách 2 thành phần này, mà chỉ mới nói về họ với dân chúng và các môn đệ của Người thôi, về thái độ ham danh vọng của họ, và khuyên dân chúng và các môn đệ của Người đừng bắt chước họ liên quan đến 3 danh xưng họ thích được gọi là "cha", là "thày", là "xếp". Trong bài Phúc Âm hôm nay và 2 ngày tới, Người trực tiếp nói thẳng vào mặt họ, vạch trần những sai lầm của họ ra, không phải để bôi xấu họ cho bằng để bênh vực dân chúng cho khỏi chẳng những khuynh hướng ham danh của họ mà còn giáo huấn sai lầm của họ nữa, như Phúc Âm hôm nay cho thấy: 


"Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng! Các người bảo: 'Ai chỉ Đền Thờ mà thề, thì có thề cũng như không; còn ai chỉ vàng trong Đền Thờ mà thề, thì bị ràng buộc'. Đồ ngu si mù quáng! Thế thì vàng hay Đền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn? Các người còn nói: 'Ai chỉ bàn thờ mà thề, thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề, thì bị ràng buộc'. Đồ mù quáng! Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh, cái nào trọng hơn? Vậy ai chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và mọi sự trên bàn thờ mà thề. Và ai chỉ Đền Thờ mà thề, là chỉ Đền Thờ và Đấng ngự ở đó mà thề. Và ai chỉ trời mà thề, là chỉ ngai Thiên Chúa và cả Thiên Chúa ngự trên đó mà thề".

Cái sai lầm lệch lạc nơi giáo huấn của hai thành phần sư phụ trong dân này là ở chỗ họ coi cái trọng thành cái hèn và coi cái hèn thành cái trọng, lấy cái chính làm cái phụ và lấy cái phụ làm cái chính, theo quan niệm thiển cận và phán đoán duy vật của họ, như Chúa Giêsu đã thẳng thắn phân tích cho họ biết một cách nặng lời không kiêng nể như sau: "Đồ ngu si mù quáng! Thế thì vàng hay Đền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn?.... Đồ mù quáng! Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh, cái nào trọng hơn?" 

Chính vì giáo huấn sai lầm như thế của họ mà Chúa Giêsu đã cảnh báo cho họ biết về hậu quả tại hại liên quan đến nguy hiểm cho thành phần được họ dẫn dắt chỉ bảo:

 

"Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình! Các người khoá cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào! Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người cũng không để họ vào... Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người".

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao thành phần chỉ đạo cho dân chúng là luật sĩ và biệt phái giả hình này sai lầm cả trong giáo huấn của họ như thế mà Chúa lại bảo cứ nghe họ như trong bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước? Có thể nói chỉ có người ban hành mới có thể sai lầm còn người tuân hành không bao giờ sai lầm, nếu vì lòng ngay không biết, do đó nếu thành phần tuân hành có sai trái cũng không bị phán xét và luận phạt.

Về phần Bài Đọc 1 thì từ Tuần XXI Thường Niên này, phần phụng vụ Lời Chúa không còn đọc các bài Thánh Kinh Cựu Ước như các tuần trước nữa, (ngoại trừ tuần 25 và 26 tạt lại với Cựu Ước một chút), mà đọc các Thư của Thánh Phaolô, cho đến 2 tuần cuối là tuần thứ 33 và 34 thì đọc Sách Khải Huyền của Thánh Gioan. 

Trong Thư 1 gửi cho Kitô hữu ở Giáo đoàn Thessalonica được Giáo Hội chọn cho Bài Đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy một thày dạy đức tin chuyên chính là Thánh Phaolô, vị nguyên là thành phần biệt phái, vị đã được Thiên Chúa tuyển chọn để làm tông đồ cho dân Ngoại, trong đó có Giáo đoàn Thessalonica, một giáo đoàn đã lãnh nhận mầm mống đức tin qua việc rao giảng của ngài nhờ Thánh Thần như ngài đã minh định: "Khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa. Anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em".

Chính nhờ vị tông đồ thày dạy dân ngoại này mà giáo đoàn này đã có một nền tảng vững chắc và được phát triển ở chỗ, như Thánh Phaolô nhận định trong Bài đọc 1 hôm nay về họ: "Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô". Đến độ, Thánh Phaolô còn cho biết thêm: 


"Quả thế, từ nơi anh em, lời Chúa đã vang ra, không những ở Macedonia và Akaia, mà đâu đâu người ta cũng nghe biết lòng tin anh em đặt vào Thiên Chúa, khiến chúng tôi không cần phải nói gì thêm nữa. Khi nói về chúng tôi, người ta kể lại chúng tôi đã được anh em tiếp đón làm sao, và anh em đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa thế nào, để phụng sự Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật, và chờ đợi Con của Người từ trời ngự đến, người Con mà Thiên Chúa đã cho trỗi dậy từ cõi chết, là Đức Giê-su, Đấng cứu chúng ta thoát cơn thịnh nộ đang đến".

Bài Đáp Ca hôm nay nói về "kẻ hiếu trung", như một Tông Đồ Phaolô chân chính, chứ không như thành phần luật sĩ và biệt phái trong bài Phúc Âm bị Chúa Giêsu nặng lời khiển trách, một vị tông đồ vì luôn tìm Chúa và làm mọi sự cho Chúa mà cuộc đời và hoạt động của ngài chẳng khác gì như "một bài ca mới, ngợi khen Người trong cộng đoàn những kẻ hiếu trung!": 

1- Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, ngợi khen Người trong cộng đoàn những kẻ hiếu trung! Hỡi Israel, nào hoan hỷ, vì có Chúa là Đấng tạo thành ngươi. Con cái Sion, hãy nhảy mừng, vì được Chúa làm Vua hiển trị.


2- Mừng Thánh Danh, nào dâng điệu vũ, nhịp trống hoạ đàn theo khúc hoan ca. Bởi vì Chúa mến chuộng dân Người, ban cho kẻ nghèo hèn được vẻ vang chiến thắng.

3- Kẻ hiếu trung hãy vui mừng rạng rỡ, nào phủ phục mà cất tiếng reo hò, miệng vang lời tán dương Thiên Chúa, Đó là niềm vinh dự cho mọi kẻ trung hiếu với Người. 
          

      

 

Thứ Ba


sự sống trung thực

 

Ngày 25: 1. Thánh Louis IX, vua nước Pháp

                2. Thánh Giuse Calasanz, linh mục

 

 

Thánh Louis IX, Vua Nước Pháp (1214-1270)

 

Thánh Louis sinh năm 1214 tại Poissy nước Pháp. Cha ngài là vua Louis VIII. Mẹ ngài là hoàng hậu Blanche de Castille. Chính gương mẫu đời sống thánh thiện của bà đã ảnh hưởng sâu đậm đến Louis trong thời niên thiếu. Cho tới khi trưởng thành, Louis vẫn thường hay nhắc lại lời nói của mẹ ngài: "Mẹ thà thấy con chết trước mặt mẹ còn hơn thấy con phạm tội trọng".

Ngài lên ngôi vua kế vị cha năm 12 tuổi và tới năm 19 tuổi, Louis kết hôn với Marguerite, con gái quận công miền Provence và cả hai sinh hạ được 11 người con. Trên ngai vàng, Luois luôn tỏ ra thanh liêm chính trực và hết mực thương dân, đặt danh dự của Giáo Hội và của dân tộc lên trên tư lợi và danh vọng cá nhân. Ðời sống đạo đức của nhà vua chẳng khác chi một thầy dòng khổ tu: dự lễ và đọc kinh mỗi ngày, xưng tội và đánh tội mỗi tuần. Ngoài ra, nhà vua còn tìm dịp thể hiện đức bác ái đối với người nghèo và những người bệnh tật.

Chính ngài đã lập Ðạo Binh Thánh Giá đi chiến đấu tại Giêrusalem. Lúc trở về, ngài đã xây một nhà nguyện để kính mão gai Chúa Giêsu do hoàng đế Constantin trao lại.

Năm 1270, nhà vua còn lập thêm một đạo quân mới để chống lại những người Hồi Giáo, nhưng một cơn dịch lan tràn làm tan rã đạo quân của ngài và chính ngài cũng lâm bệnh và qua đời ngày 25/8/1270. 

 

Thánh Giuse Calasanz, Linh Mục (1556-1648)

 

Giuse Calasanz sinh năm 1556 tại Pétralta miền Aragon phía Bắc nước Tây Ban Nha. Ngay từ thời niên thiếu, ngài đã được hấp thụ một nền giáo dục hết sức phong phú nơi hiền mẫu. ngài yêu chuộng đọc kinh và hết sức giữ mình thanh khiết.
Sau khi mãn bậc trung học, ngài theo môn triết và luật tại viện đại học Lêrida và bắt đầu có ý định dâng mình cho Chúa.

Năm 1583, Calasanz thụ phong linh mục. Cuộc đời truyền giáo của ngài tại quê hương thu được nhiều thành quả tốt đẹp nhờ tài ba và sự thánh thiện của ngài.
Năm 1592, ngài rời quê hương đi Rôma, và không muốn cho ai để ý tới mình, ngài bèn lựa chọn những công việc âm thầm, bên những người nghèo khổ yếu đau và kém may mắn.

Nhận thấy có nhiều trẻ em nghèo phải bỏ học sống lang thang nơi đầu đường xó chợ, ngài quyết định lập một trường học miễn phí cho học sinh và lợi dụng cơ hội đó để giáo dục các em về phương diện đạo đức và luân lý.

Ngài đã tụ tập được một số anh em linh mục có cùng chí hướng lập thành một dòng (1597) chuyên lo việc giáo dục các trẻ em nghèo.

Sau gần 50 năm tận tụy với công việc tông đồ bên cạnh giới lao động, ngài qua đời ngày 25/8/1648, hưởng thọ 92 tuổi. 

Ðức Piô XII đã đặt ngài làm quan thầy các trường tư thục Công Giáo.

 

Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần
Bài Đọc 1: 1Thes. 2:1-8
Đáp Ca: Tv 139:1-3-4-6
Phúc Âm: Mt 23:23-26

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XXI Thường Niên vẫn tiếp tục những lời Chúa Giêsu khiển trách nặng nề thành phần luật sĩ và biệt phái. Nếu trong bài Phúc Âm hôm qua Người khiển trách họ đặc biệt về giáo huấn sai lầm của họ thì hôm nay Người khiển trách họ về khuynh hướng của họ, hoàn toàn phản ảnh thứ giáo huấn lệch lạc họ chủ trường và truyền dạy cho người khác, đó là coi trọng cái thường và coi thường cái trọng, đó là coi trọng bên ngoài mà lại coi thường bên trong:


Hai thành phần thày dạy trong dân này đã bị Chúa khiển trách là vì họ tỏ ra coi trọng cái thường và coi thường cái trọng:

"Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà. 

Cái trọng đây là gì, nếu không phải "công lý, lòng nhân và thành tín", những điều thuộc về tinh thần, làm nên nhân phẩm cùng nhân cách của con người, nhưng lại là những điều bị họ coi nhẹ, không bằng những cái thường hơn là "nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng". 

Thế nhưng, chính Chúa cũng không coi nhẹ cái thường ấy. Bởi thế, Người còn nhấn mạnh thêm với họ để tránh thái độ thái quá bất cập rằng: "Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ". Dầu sao những gì được coi là thường cũng không thể thiếu bởi nó chứng tỏ hay cho thấy sự thực hữu và chân chính của cái chính yếu, của cái quan trọng hơn. 

Hai thành phần thày dạy trong dân này còn bị Chúa khiển trách là vì họ tỏ ra coi trọng những gì là bên ngoài mà lại coi thường những thứ ở bên trong:

"Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ. Hỡi người Pharisiêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch".

"Bên ngoài chén đĩa" thì họ rửa làm sao cho sạch còn "bên trong" chén đĩa thì hôi thối bẩn thỉu. Nếu "bên trong đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ" thì ở đây Chúa muốn nói đến "bên trong" lòng người là nơi xuất ra những gì xấu xa tội lỗi làm cho con người ra ô uế (Marcô 7:20-23; Mathêu 15:19-20). Và như thế, "bên ngoài chén đĩa" đây có thể hiểu là dáng vẻ đàng hoàng, ăn mặc tề chỉnh, điệu bộ tử tế.... Cả ở đây, cho dù nhấn mạnh đến bề trong, Chúa Giêsu cũng quan tâm đến cả bên trong lẫn bên ngoài: "hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch".

Đối với Chúa, căn cứ vào câu hay vào nguyên tắc Người vừa khẳng định thì bên ngoài lệ thuộc vào bên trong và bên trong chi phối bên ngoài: "hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch". Có nghĩa là một khi tinh thần của con người lành mạnh thì đời sống của họ cũng lành thánh, một khi tâm trí của con người chân thành thì hành động của họ cũng ngay thẳng, một khi bản chất của con người đơn sơ thì đời sống của họ dễ dạy v.v.

Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay đã cho thấy một Tông Đồ Phaolô đã tỏ ra xứng đáng là thày dạy dân ngoại ra sao, không giống như thành phần thày dạy trong dân Do Thái là luật sĩ và biệt phái bị Chúa Giêsu thậm tệ khiển trách trong bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến tinh thần và thái độ lệch lạc của họ, những lệch lạc không hề thấy nơi Thánh Phaolô, trái lại, ngài còn sống chứng nhân một cách trung thực và sống động của một Vị Mục Tử Nhân Lành Giêsu Kitô nữa, như chính lời ngài chia sẻ với Kitô hữu Giáo đoàn Thessalonica như sau: 

 

"Như anh em biết, chúng tôi đã đau khổ và bị làm nhục tại Philípphê; nhưng vì tin tưởng vào Thiên Chúa chúng ta mà chúng tôi đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em, qua những cuộc chiến đấu gay go. Lời giảng của chúng tôi không do sự sai lầm, không có dụng ý xấu, không nhằm lừa dối ai, nhưng vì Thiên Chúa đã thử luyện chúng tôi và giao phó Tin Mừng cho chúng tôi, thì chúng tôi cứ vậy mà rao giảng, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng thử luyện tâm hồn chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi đã dùng lời xu nịnh, như anh em biết; không bao giờ chúng tôi đã viện cớ để che đậy lòng tham, có Thiên Chúa chứng giám; không bao giờ chúng tôi đã tìm cách để được một người phàm nào tôn vinh, dù là anh em hay người khác, trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ Đức Kitô. Trái lại, khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ. Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi".

Bài Đáp Ca hôm nay bày tỏ cảm nhận về một vị Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, kể cả lòng người và mọi ý hướng của họ, như ý hướng xấu (qua thái độ cùng hành vi cử chỉ giả hình) khi hành sử quyền giảng dạy của thành phần luật sĩ và biệt phái là thày dạy trong dân Do Thái, hay ý hướng tốt của Tông Đồ Phaolô trong việc phục vụ chung cộng đồng dân ngoại và riêng cộng đoàn Thessalonica trong Bài đọc 1 hôm nay:

1- Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.


2- Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết. Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con. Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm, quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!


Thứ Tư

 

sự sống bôi bác  

 

Bài Đọc I: (Năm I) 1Thes. 2, 9-13
Đáp Ca: Tv 138, 7-8. 9-10. 11-12ab
Phúc Âm: Mt 23, 27-32


Hôm nay, Thứ Tư Tuần XXI Thường Niên, Giáo Hội tiếp tục bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu liên quan đến thành phần sư phụ trong dân Do Thái là luật sĩ và biệt phái, như trong 2 bài Phúc Âm hôm qua và hôm kia. 


Thật vậy, trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục khiển trách hai thành phần sư phụ trong dân này về thái độ giả hình chính yếu của họ, bề ngoài có vẻ đạo mạo tốt lành còn bề trong thì xấu xa ghê tởm, và bề ngoài có vẻ ta đây tốt lành chứ không giống như cha ông của mình đã từng sống bê bối tồi tàn.


Trước hết, về thái độ giả hình chính yếu của họ, bề ngoài có vẻ đạo mạo tốt lành còn bề trong thì xấu xa ghê tởm:


"Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình: vì các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ tốt đẹp, nhưng bên trong đầy xương kẻ chết và mọi thứ dơ nhớp. Các ngươi cũng thế, bên ngoài, các ngươi có vẻ là người công chính, nhưng bên trong, các ngươi đầy sự giả hình và gian ác".  


Đúng thế, "các ngươi có vẻ là người công chính, nhưng bên trong, các ngươi đầy sự giả hình và gian ác", ở chỗ họ chủ trương công chính là tuân giữ trọn vẹn lề luật, nhưng một cách vị luật hơn là vị nhân, nghĩa là thà giữ luật hơn là làm lành và cứu giúp tha nhân khi cần trong ngày hưu lễ (xem Mathêu 12:10-12), như có bao nhiêu lần họ đã cự lại Chúa Giêsu vì Người đã chữa lành trong ngày hưu lễ. Bởi thế, đã có lần Người đã nhắc nhở họ rằng: "Hãy đi mà học ý nghĩa của câu 'Ta muốn tình thương chứ không phải tế vật'" (Mathêu 9:13;12:7). 


Họ đã chẳng coi lễ vật hơn tình thương là gì, đúng như giáo huấn và chủ trương lệch lạc của họ ở trong hai bài Phúc Âm hôm qua và hôm kia về việc coi thường cái trọng và coi trọng cái thường, coi thường cái chính và coi trọng cái phụ. Họ quả thực đã không nắm bắt được nguyên tắc và mục đích của luật lệ họ nắm giữ đó là "ngày hưu lễ được thiết lập vì con người hơn là con người vì ngày hưu lễ" (Marco 2:27).


Sau nữa, về thái độ giả hình có vẻ ta đây tốt lành chứ không giống như cha ông của mình đã từng sống bê bối tồi tàn trong quá khứ:


"Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình, các ngươi xây đắp phần mộ các tiên tri, trang hoàng mồ mả những người công chính, và các ngươi nói rằng: 'Nếu chúng tôi sống thời cha ông chúng tôi, ắt chúng tôi không thông đồng với các ngài trong việc đổ máu các tiên tri'. Vì thế, các ngươi tự chứng thực các ngươi là con cháu những kẻ đã giết các tiên tri. Vậy các ngươi cứ đong cho đầy đấu của cha ông các ngươi".


Thật vậy, "các ngươi cứ đong cho đầy đấu của cha ông các ngươi", ở chỗ họ là hậu sinh của cha ông họ đã đích thân tố cáo tội lỗi của cha ông họ trong việc cha ông họ sát hại các tiên tri và những người công chính được Thiên Chúa sai đến với dân tộc họ trong giòng lịch sử cứu độ của họ. 


Và họ đã đích thân tố cáo tội lỗi cha ông của họ, đã "đong cho đầy đấu của cha ông" họ, bằng cách đã "xây đắp phần mộ các tiên tri, trang hoàng mồ mả những người công chính" là thành phần bị cha ông họ bách hại và sát hại. Thế nhưng, như Chúa Giêsu cho biết, chính việc làm này của họ lại tố cáo họ "là con cháu những kẻ đã giết các tiên tri", chứ chẳng hơn gì cha ông của họ, một giòng dõi còn phạm tội nặng hơn cha ông mình nữa khi tìm cách sát hại chính Con Thiên Chúa làm người là bản thân Người, Đấng Thiên Sai của họ. 


Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay vẫn tiếp tục Bức Thư thứ nhất của Thánh Phaolô gửi Kitô hữu Giáo đoàn Thessalonica liên quan đến tinh thần và tính cách giảng dạy của ngài, không như thành phần thày dạy luật sĩ và biệt phái trong dân Do Thái, mà là một vị tông đồ dân ngoại chẳng những luôn để ý tránh gánh nặng và gương mù cho họ mà còn hết mình lo cho thiện ích thiêng liêng của họ, ở chỗ ngài đã sống làm sao và nói năng hành động như thế nào để nhờ đó họ có thể lãnh nhận tin mừng từ Thiên Chúa, như ngài đã thành thật phân trần với họ như sau:


"Anh em thân mến, anh em vẫn còn nhớ đến công lao khó nhọc của chúng tôi: chúng tôi phải làm việc ngày đêm để khỏi trở nên gánh nặng cho một ai trong anh em, khi chúng tôi rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa giữa anh em. Chính anh em là nhân chứng và cả Thiên Chúa cũng làm chứng: chúng tôi ăn ở thánh thiện, công chính và không đáng trách điều gì đối với anh em là những kẻ đã tin. Như anh em biết, chúng tôi đối xử với mỗi người trong anh em như cha đối xử với con cái mình, khi chúng tôi khuyên răn, khích lệ và van nài anh em hãy ăn ở sao cho xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi anh em vào hưởng nước trời và vinh quang của Người. Bởi thế, chúng tôi không ngừng cảm tạ Thiên Chúa, vì khi anh em nhận lãnh lời Thiên Chúa do chúng tôi rao giảng, anh em đã nhận lãnh lời ấy không phải như lời của người phàm, mà như lời Thiên Chúa, và thực sự là thế, lời đó hoạt động trong anh em là những kẻ đã tin".


Bài Đáp Ca hôm nay vẫn tiếp tục chiều hướng của Bài Đáp Ca hôm qua về Vị Thiên Chúa thấu suốt mọi sự, thấu biết ý hướng của cả thành phần luật sĩ và biệt phái trong dân Do Thái trong việc trang trí cho đẹp mồ mả của nạn nhân bị cha ông họ sát hại, cũng như của Tông Đồ Phaolô trong ơn gọi và sứ vụ truyền giáo đầy cam go thử thách của ngài, Vị Thiên Chúa đã sử dụng ngài như phương tiện sử dụng phục vụ dân ngoại:

 

1) Con đi đâu để xa khuất được thần linh của Chúa? Con trốn đâu cho khỏi thiên nhan Ngài? Nếu con leo được lên trời, thì cũng có Ngài ngự đó; nếu con nằm dưới âm phủ, thì đấy cũng có mặt Ngài. 


2) Nếu con mượn đôi cánh của hừng đông, và bay đến cư ngụ nơi biên cương biển cả, tại nơi đấy cũng bàn tay Chúa dẫn dắt con, và tay hữu Ngài nắm giữ con. 


3) Nếu con nói: "Phải chi sự tối tăm che phủ, và sự sáng trở thành đêm bao quanh con", thì đối với Ngài sự tối sẽ không có tối, và đêm sẽ sáng sủa như ban ngày. 

 


Thứ Năm

 

sự sống tỉnh táo

 

Ngày 27: Thánh Monica

 

Thánh nữ Monica sinh năm 332 trong một gia đình đạo hạnh làng Sucara bên Phi Châu. Với bầu khí đạo đức, Monica sớm trở thành một cô bé ngoan ngoãn và sốt sắng: mỗi bữa ăn cô thường dành một phần cho người nghèo và những lúc nhàn rỗi thường tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện.

Năm 22 tuổi, Monica vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi qúy phái, nhưng tính tình ngang tàng, độc ác và tuổi lại gấp đôi. Dù rất khổ tâm nhưng Monica vẫn vui vẻ vâng lời cha mẹ với hy vọng sẽ cứu được một linh hồn. Quả vậy, nhờ lời cầu nguyện và đức kiên nhẫn, Monica đã cải hóa được người chồng và mấy năm sau sinh được ba người con mà Augustinô là con đầu lòng. Dù sống trong một gia đình ngoại đạo, nhưng Monica đã chu toàn sứ mệnh làm mẹ, luôn giáo dục con cái biết yêu mến Chúa, yêu người. Bà luôn yêu thương con cái, nhất là đối với Augustinô. Nhưng càng lớn, Augustinô càng biểu lộ các tính hư tật xấu. Ỷ vào trí thông minh, Augustinô đâm lười biếng. Bị sửa phạt, Augustinô bèn lừa dối, lường gạt cha mẹ, thầy dạy, rồi từ đó ham mê lạc thú, ăn chơi, kiêu căng và ham hố danh vọng. Nhất là từ khi chàng được gửi đi học ở tỉnh thì những làn sóng tội lỗi lại tràn ngập tâm hồn. Rồi chàng lại theo bè rối Manikê chống lại đức tin. Còn gì đau khổ hơn cho Monica khi thấy người con yêu quý của mình ngày càng bước sâu vào con đường tội lỗi. Nhưng tin vào tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa, bà lại càng kiên tâm cầu nguyện và làm các việc lành. 

Lời cầu nguyện và nước mắt của Monica đã được Chúa chấp nhận. Sau những thất bại, Augustinô đã tìm đường trở lại cùng Thiên Chúa. Monica vui mừng dâng lời tạ ơn. Ðêm Phục Sinh năm 387, Augustinô đã được lãnh bí tích Rửa Tội do thánh Giám Mục Ambrosiô. Lòng tràn ngập vui sướng, hai mẹ con cùng trở về Phi Châu nhưng bà đã chết bình an trong Chúa năm 387, trong cuộc hành trình ấy.

Xác thánh nữ được mai táng ở Otti. Năm 1430, Ðức Giáo Hoàng Martinô truyền đem về nhà thờ thánh Augustinô ở Rôma.


Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần
Bài Đọc I: (Năm I) 1
Thes. 3, 7-13
Đáp Ca: Tv 89, 3-4. 12-13. 14 và 17
Phúc Âm: Mt 24, 42-51


Bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc cho Thứ Năm Tuần XXI Thường Niên hôm nay, những ngày cuối cùng của tuần cuối cùng theo Phúc Âm Thánh Mathêu cho ngày thường trong tuần, bao gồm những câu cuối của đoạn 24, đoạn mà phần trên nói về ngày tận thế, một sự kiện cánh chung Giáo Hội chưa muốn nhắc đến ở đây và vào thời điểm phụng vụ giữa mùa thường niên này, mà là ở vào tuần lễ cuối cùng của phụng niên là tuần thứ 34, với các bài Phúc Âm của Thánh ký Luca đoạn 21, cho 3 ngày Thứ Ba, Thứ Tư và Thứ Năm trong tuần lễ cuối cùng này. 


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu không còn nói với cả dân chúng lẫn các môn đệ của Người nữa, như 4 bài Phúc Âm trước đây, về thành phần thày dạy trong dân là luật sĩ và biệt phái, mà nói riêng với các môn đệ của Người về chính phận sự phục vụ của các vị trong việc "coi sóc gia nhân để cứ giờ mà phân phát lương thực cho họ?" như là những người "đầy tớ trung tín và khôn ngoan" được chủ đã tuyển chọn. 


Thật vậy, các môn đệ của Chúa Kitô đã được Người tuyển chọn để phục vụ Giáo Hội là Nhiệm Thể của Người để "phân phát lương thực" là Lời Chúa và Bí Tích Thánh, nhất là Bí Tích Thánh Thể để đáp ứng nhu cầu sống đức tin của Kitô hữu là thành phần "gia nhân" thuộc nhiệm thể Giáo Hội.


Trong câu "coi sóc gia nhân để cứ giờ mà phân phát lương thực cho họ?" này của Chúa Giêsu ở bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy bao gồm 3 sứ vụ hay chức năng chính yếu của hàng giáo phẩm trong Giáo Hội là thành phần thừa kế các tông đồ: 1- "coi sóc": vai trò quản trị của hàng giáo phẩm nói chung và của từng vị giám mục ở địa phương nói riêng, 2- "phân phát": vai trò giảng dạy ("phân phát" Lời Chúa) và thánh hóa (ban phát Bí Tích).


Những vị nào chu toàn 3 sứ vụ chính yếu này của mình thì là những người "đầy tớ trung tín và khôn ngoan", bằng không, họ là những người đầy tớ bất trung và bất khôn. 


Nếu thành phần "đầy tớ trung tín và khôn ngoanđược chủ tưởng thưởng ở chỗ: "đặt người ấy lên coi sóc tất cả gia sản ông" thì thành phần đầy tớ bất trung (với phận sự phục vụ chính yếu của mình) và bất khôn (vì hưởng thụ hơn phục vụ theo gương chủ là Đấng đã tuyển chọn mình), họ sẽ bị trừng phạt xứng đáng, như Chúa Giêsu nói đến ở cuối bài Phúc Âm:


"Nếu đầy tớ ấy xấu, nghĩ trong lòng rằng: 'Chủ tôi về muộn', rồi nó đánh đập các bạn đầy tớ, lại còn chè chén với lũ say sưa: chủ đầy tớ ấy trở về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết, ông sẽ xé xác nó ra, và cho nó chung số phận với những kẻ giả hình: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng".


Trong câu cảnh giác về thành phần đầy tớ bất trung và bất khôn này của Chúa Giêsu, chúng ta thấy hình như vẫn còn lảng vảng đâu đây hình ảnh của thành phần thày dạy trong dân Do Thái là luật sĩ và biệt phái, khi Người bao gồm cụm từ: "chung số phận với những kẻ giả hình", thành phần mới bị Người thậm tệ quở trách trong 3 bài Phúc Âm đầu tuần này. 


Đáng lẽ đoạn nói về hạng sư phụ luật sĩ và biệt phái này ở đoạn 23 của Phúc Âm Thánh Mathêu còn được tiếp tục 6 câu nữa, từ câu 33 đến hết câu 39, nhưng Giáo Hội đã không chọn đọc, trong đó, Chúa Giêsu đã sử dụng đến những từ ngữ kinh hoàng chưa từng thấy liên quan đến hậu quả vô cùng khủng khiếp gây ra bởi cuộc đời giả hình mù quáng của họ: "Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục ch?" (Mathêu 23:33).

 


Bởi vậy, ngay ở đầu bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã khuyên nhủ các môn đệ của Người, cũng như những ai được Thiên Chúa tuyển chọn đóng vai trò thừa kế các tông đồ là các vị giám mục (kể cả các vị linh mục được giám mục truyền chức để thi hành thừa tác vụ thay giám mục và với giám mục) như một đầy tớ phục vụ cộng đồng Giáo Hội mà không sống trọn thánh chức của mình rằng: 


"Các con hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến".


"Tỉnh thức" ở đây là ở chỗ sống đức tin hơn là sống theo tự nhiên, hứng thì làm không hứng thì bỏ, lúc sốt sắng thì làm cẩn thận, làm một cách có hồn còn lúc khô khan thì làm như cái máy, buông bỏ được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu, chưa kể gây ra những gương mù gương xấu khác, như đã và đang giết chiên  ăn thịt (lạm dụng tình dục trẻ em), hay trường hợp cưỡi lên chiên bằng đời sống xa xỉ sang trọng, và trường hợp các vị giành đấtchiếm lấy chiên của nhau, hoặc trường hợp nấp bóng chiên để chống đối hay bất tuân giáo quyền của mình v.v


Thay vì họ phải là thành phần "đi trước chiên và chiên theo họ" (Gioan 10:4), trong việc làm gương sáng và biết trước nhu cầu của chiên và đáp ứng, sẵn sàng hy sinh cho chiên, thì lại rụt rè đi sau chiên, sẵn sàng bỏ chiên mà chạy lấy thân khi vừa thấy sói xuất hiện, khi vừa thấy những gì bất lợi cho bản thân mình, nên họ chẳng bao giờ có thể nói như Chúa Kitô rằng: "Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi" (Gioan 10:27).


Một trong những người đầy tớ được tuyển chọn phục vụ cộng đồng dân Chúa, có thể nói là đắc lực nhất ngay từ ban đầu của Giáo Hội đó là chàng Saulê, một tên biệt phái rất nhiệt thành đến độ đã tự động tình nguyện trở thành kẻ bắt hại Giáo Hội Chúa thời bấy giờ, một người "đầy tớ trung tín và khôn ngoanđược Chúa "đặt coi sóc gia nhân để cứ giờ mà phân phát lương thực cho họ?", đến độ, ngài chấp nhận mọi gian nan khốn khó cho lợi ích thiêng liêng của đàn chiên, sống chết với đàn chiên và trở nên một với chiên, như ngài tâm sự ở Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay: "Anh em thân mến, vì đức tin anh em, chúng tôi được an ủi nơi anh em trong mọi nỗi quẫn bách và gian truân, hiện giờ chúng tôi cảm thấy được sống, vì thấy anh em đứng vững trong Chúa". 


Theo chiều hướng "tỉnh thức" của bài Phúc Âm, vị tông đồ "đầy tớ trung tín và khôn ngoan" này còn khuyên đàn chiên của mình một phương pháp "tỉnh thức" như chính ngài đã thực hiện đó là sống đức bác ái như sau: 


"Về phần anh em, xin Chúa ban cho anh em được gia tăng và dồi dào lòng yêu thương nhau và yêu thương mọi người, như chính chúng tôi yêu thương anh em: để làm cho lòng anh em nên vững vàng trong sự thánh thiện, không còn điều gì đáng trách trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta đến làm một cùng tất cả các thánh của Người".


Bài Đáp Ca hôm nay cũng hướng về mầu nhiệm cánh chung, ở chỗ chất chứa những nhận thức về thời gian theo dự án thần linh của Thiên Chúa (câu 1), bày tỏ nguyện ước biết lợi dụng thời gian để sống khôn ngoan mong chờ Thiên Chúa (câu 2), để nhờ đó có thể đạt được cùng đích viên mãn của mình trong Thiên Chúa (câu 3):


1) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến con người trở về bụi đất, Người phán: "Hãy trở về gốc, hỡi con người". 


2) Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ? Xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài. 


3) Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin cho chúng con được hưởng ân sủng Chúa là Thiên Chúa chúng con. Sự nghiệp tay chúng con làm ra, xin Ngài củng cố; xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng con làm ra. 

 


Thứ Sáu

sự sống tin tưởng

 

Ngày 28: Thánh Augustinô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh

 

Augustinô sinh năm 354 tại Thagaste, một làng nhỏ thuộc Bắc Phi. Cha ngài là người ngoại giáo, mẹ ngài là thánh nữ Monica. Nhận thấy Augustinô sáng trí và có nhiều triển vọng nên hai ông bà quyết định cho ngài theo đuổi việc học tới cùng. Nhưng tại kinh thành Carthage, Augustinô bị tiêm nhiễm bởi nếp sống trụy lạc sa đọa và chạy theo những tư tưởng lạc giáo Manikê trái nghịch với đức tin Công Giáo. Mẹ ngài hết sức đau buồn và bà hằng cầu nguyện cho ngài.

 

Sau những năm đắm mình trong tà thuyết và lạc thú, Augustinô chán ngán và rơi vào một tình trạng cô đơn, sầu muộn tột độ. Chính trong lúc ấy, Chúa đã đến gõ cửa lòng ngài: Chỉ một câu kinh thánh: "Ðừng sống theo dục tình và lạc thú dâm ô nữa, nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô" đã khiến đời ngài chuyển hướng hoàn toàn. Ngài bắt đầu nghiên cứu giáo lý Công Giáo, theo sự chỉ dẫn của Ðức Cha Ambrosiô và ngài được Rửa Tội năm 387, lúc đó ngài đã 33 tuổi.

 

Ngài trở lại Carthage (Phi Châu), sống một cuộc đời khổ hạnh và sám hối trong một dòng tu. Sau đó ngài được đề cử làm Giám Mục thành Hyppone. Sự khôn ngoan và thánh thiện của ngài đã giúp cho Giáo Hội Phi Châu tiến triển rất nhiều. Ngài còn để lại những bộ sách quý giá về thần học, minh giáo và chú giải thánh kinh. Trong suốt quãng thời gian làm Giám Mục, ngài còn thể hiện một tinh thần khiêm tốn và tình huynh đệ bác ái tuyệt hảo đối với các linh mục dưới quyền ngài.
Thánh nhân qua đời năm 430, hưởng thọ 76 tuổi.

 

Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần
Bài Đọc I: (Năm I) 1Thes. 4, 1-8
Đáp Ca: Tv 96, 1-2b. 5-6. 10. 11-12
Phúc Âm: Mt 25, 1-13

 

 

Bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc cho Thứ Sáu Tuần XXI Thường Niên hôm nay, cũng như cho ngày mai, ở đoạn 25 của Thánh ký Mathêu, nhưng không bao gồm phần cuối của đoạn này về sự kiện chung thẩm, mà chỉ liên quan đến 2 dụ ngôn cuối cùng liên quan đến thời cánh chung của Phúc Âm theo Thánh ký Mathêu


Sở dĩ 2 dụ ngôn cuối cùng trong bài Phúc Âm hôm nay và ngày mai có thể nói và dám nói là liên quan đến mầu nhiệm cánh chung là vì, theo cấu trúc và diễn tiến của Phúc Âm Thánh ký Mathêu, thì chẳng những đoạn 24 ngay trước đó là đoạn Phúc Âm về ngày tận thế, mà phần cuối của đoạn 25 ngay sau 2 dụ ngôn này là cảnh chung thẩm. 

 


Thật thế, một trong 2 dụ ngôn cánh chung ấy là dụ ngôn về "10 trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rểở trong bài Phúc Âm cho Th Sáu Tuần XXI Thường Niên hôm nay, nhưng "trong số đó, có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan. Năm cô khờ dại mang đèn mà không đem dầu theo. Còn những cô khôn ngoan đã mang đèn, lại đem dầu đầy bình. Vì chàng rể đến chậm, nên các cô đều thiếp đi và ngủ cả. Nửa đêm có tiếng hô to: Kìa, chàng rể đến, hãy ra đón người. Bấy giờ các trinh nữ đều chỗi dậy, sửa soạn đèn của mình. Những cô khờ dại nói với các cô khôn ngoan rằng: 'Các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em đã tắt cả'. Các cô khôn ngoan đáp lại rằng: 'E không đủ cho chúng em và các chị, các chị ra (nhà) hàng mà mua thì hơn'".


Trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, muốn hiểu được phần nào ý nghĩa của dụ ngôn này, cần phải tìm hiểu ý nghĩa của ít là 4 hình ảnh ẩn dụ sau đây: trinh nữ đón (1), chàng rể đến (2), tiếng hô to (3), và dầu đốt đèn (4)


1- Trinh nữ đón"Trinh nữ" đây ám chỉ ai, nếu không phải là Kitô hữu, vì họ là thành phần nhờ phép rửa đã được nên tinh tuyền và thánh hiến cho Chúa Kitô (xem Epheso 5:26-27). Có bản dịch là "phù dâu", cũng không sai, ở chỗ, ám chỉ thành phần tu sĩ và giáo sĩ, thành phần nhờ đời sống thánh hiến càng làm đẹp thêm cho cô dâu. Trong 10 cô này có 5 cô khôn và 5 cô dại, và khôn hay dại nơi các cô là ở chỗ có mang theo đèn và cả dầu nữa hay chăng. Chúng ta sẽ suy diễn về đèn và dầu sau, ở chi tiết thứ 4 cuối cùng.


2- Chàng r đến: Thời điểm chàng rể tới chính vào lúc "nửa đêm", chứ không phải giữa thanh thiên bạch nhật ban ngày. Nghĩa là chàng rể đến vào lúc người ta buồn ngủ nhất về tâm linh và đen tối nhất về môi sinhĐến độ, không phải chỉ có các cô khờ dại mới gục ngủ mà cả những cô trinh nữ khôn ngoan cũng thiếp ngủ nữa: "Thật vậy, nếu giai đoạn ấy không được rút ngắn lại thì không một con người nào được cứu độ" (Mathêu 24:22).

 

 

Tức là vào lúc Chúa đến lần thứ hai "không biết có còn đức tin trên thế gian này nữa hay chăng?" (Luca 18:8), một thời điểm "vì sự dữ gia tăng mà lòng người hầu hết trở nên nguội lạnh" (Mathêu 24:12), một thời điểm đầy như tối tăm gian dối nơi hiện tượng tiên tri giả và kitô giả đánh lừa được nhiều người (xem Mathêu 24:24).


3- Tiếng hô to: Thời điểm chàng rể đến chẳng những vào "nửa đêm" mà còn được kèm theo bằng một "tiếng hô to" nữa. Vậy thì "tiếng hô to" này xuất phát từ đâu, hay ai là người đã phát ra "tiếng hô toấy? Nếu Giáo Hội là cô dâu, chàng rể là Chúa Kitô, và thành phần trinh nữ là Kitô hữu, hay thành phần phù dâu là tu sĩ giáo sĩ, thì ai là người đã vang lên "tiếng hô to" ấy, nếu không phải là chính Đức Mẹ Maria.

 

 

Thật vậy, "tiếng hô to" ấy đã xuất phát từ Mẹ Maria qua những lần Mẹ hiện ra đây đó, đặc biệt nhất và "to" nhất là vào lần Mẹ hiện ra ở Linh Địa Fatima năm 1917, trong giai đoạn thế giới của thành phần "trinh nữ" Kitô giáo bị khủng hoảng đức tin hơn bao giờ hết, đến độ đã đi đến chỗ mất hết đức ái, và dữ dội sát hại nhau bằng các trận thế chiến ở tiền bán thế kỷ 20, cũng như bằng nạn diệt chủng phá thai và nạn ly dị ở hậu bán thế kỷ 20, những hiện tượng quái gở chưa từng có trong lịch sử loài người nơi một thế giới Tây phương càng văn minh con người càng bạo loạn và càng trở thành trung tâm của nền văn hóa chết chóc ti tăm.


4- Dầu đốt đèn: Nếu đèn ám chỉ đức tin, và ngọn lửa cháy sáng nơi cây đèn ám chỉ đức mến, thì dầu đèn đây có thể hiểu là đức cậy. Bởi vì, giai đoạn Chúa Kitô chàng rể tới "bị trì hoãn hay chậm trễ - delayed", như trong bài Phúc Âm hôm nay cho biết, mà thành phần trinh nữ hay phù dâu đợi chờ chàng cần phải nhẫn nại và hy vọng hơn bao giờ hết, bằng không, một khi tắt mất đức mến mà lại không còn đức cậy, mà lại mất hết hy vọng thì ngọn lửa đức mến sẽ không bao giờ có thể thắp lại được bởi thiếu dầu đức cậy. Thực tế cũng chứng thực như vậy, một khi con người thất vọng đến chỗ tuyệt vọng (như ngọn đèn hết dầu) thì chẳng còn muốn sống nữa, nên đã có những cuộc tử tử là như vậy. Hy vọng chính là sức sống của con người, trong con người và cho con người.

 

 

Đó là lý do Thánh Phaolô, trong Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái đã viết về đức cậy liên quan tới biến cố Chúa Kitô đến như sau: "Người sẽ xuất hiện lần thứ hai không phải để xóa tội mà là để mang ơn cứu độ cho những ai thiết tha trông đợi Người" (Do Thái 9:28). Phải chăng đó là lý do đã xuất hiện Bức Ảnh Lòng Thương Xót Chúa qua Thánh Faustina từ năm 1931, một tấm ảnh có hàng chữ ở cuối gói ghém tất cả sứ điệp của Lòng Thương Xót Chúa liên quan đến dầu đức cậy:"Giêsu ơi, con tin nơi Chúa!"


Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, Thánh Phaolô đã dạy Giáo đoàn Thessalonica phải sống như thành phần "trinh nữ", một thành phần "trinh nữ" khôn ngoan chứ không phải dại khờ, tức là thành phần "trinh nữ" xứng danh (khôn ngoan) chứ không phải giả tạo (khờ dại):


"Anh em hãy giữ mình khỏi tội gian dâm, để mọi người trong anh em biết giữ thân xác mình trong sự thánh thiện và danh dự: anh em chớ nên buông theo dục tình đam mê, như Dân Ngoại không biết Thiên Chúa: và đừng ai xâm phạm hay lường gạt quyền lợi anh em mình trong việc ấy, vì Chúa sẽ báo oán các điều đó, như chúng tôi đã bảo trước và đã minh chứng cho anh em. Vì chưng, Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta để sống ô uế, nhưng để sống thánh thiện". 


Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa một cảm nhận thần linh về Vị Thiên Chúa hiển trị (câu 1), một Thiên Chúa uy nghi cao cả (câu 2), một Thiên Chúa quyền năng cứu độ (câu 3), nhất là những người hiền đức (câu 4), tiêu biểu nơi thành phần trinh nữ khôn ngoan trong bài Phúc Âm hôm nay: 


1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan; hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Mây khói và sương mù bao toả chung quanh; công minh chính trực là nền kê ngai báu. 


2) Núi non vỡ lở như mẩu sáp ong trước thiên nhan; trước thiên nhan Chúa tể toàn cõi đất. Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. 


3) Chúa yêu thương những ai ghét xa điều dữ; Người gìn giữ tâm hồn những tôi ngoan, và giải thoát họ khỏi bàn tay đứa ác. 


4) Sáng sủa bừng lên cho người hiền đức, và niềm hoan hỉ cho kẻ lòng ngay. Người hiền đức hãy mừng vui trong Chúa, và hãy ca tụng thánh danh Người. 


Thứ Bảy

 

sự sống làm tôi

 

Ngày 29/8 Lễ Nhớ Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bị cắt đầu


Chỉ có Thánh Gioan Tẩy Giả mới được Giáo Hội mừng lễ sinh nhật trần gian (24/6) và sinh nhật Nước Trời (29/8). Lễ sinh nhật trần gian của ngài thuộc bậc lễ trọng, như bậc lễ của Các Thánh (1/11) hay của Hai Thánh Tông Đồ Phêrô-Phaolô (29/6) hoặc của Thánh Giuse (19/3). Lễ sinh nhật trần gian của ngài trước lễ Giáng Sinh (25/12) sáu tháng, dựa vào lời Sứ Thần báo tin cho Mẹ Maria về người chị họ Isave được thụ thai cách lạ được 6 tháng (xem Luca 1:36). 


Như Phúc Âm cho biết (xem Mathêu 14:1-11), Thánh Nhân bị quận vương Hêrôđê cắt thủ cấp theo lời yêu cầu của người vợ bất chính của ông sau khi ông lỡ hứa với đứa con gái riêng của người vợ này khi nó nhảy múa mừng sinh nhật của ông khiến ông quá lời khen tặng nó, đến độ đã dám sát hại một nhân vật mà ông dầu sao cũng tỏ ra kính nể. 


Sự kiện Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bị sát hại ở chỗ bị mất thủ cấp theo ý của một người đàn bà lăng loàn và theo lệnh của một quận vương tàn tệ dầu sao cũng mang một ý nghĩa sâu xa huyền nhiệm, đó là sự kiện ngài mất đầu trở nên như một tiên báo về cuộc tử nạn của Chúa Kitô là Đấng đến sau ngài nhưng có trước ngài và cao trọng hơn ngài, nghĩa là ngài coi Chúa Kitô là đầu của ngài (xem Gioan 1:27,30), Đấng cần phải lớn lên, còn ngài cần phải nhỏ đi (xem Gioan 3:30), một xác tín đã được ứng nghiệm và nên trọn như lời tiên tri nơi biến cố bị mất thủ cấp của ngài.


(một chút suy tư nhân lễ nhớ Thánh Gioan Tẩy Giả mất đầu hôm nay - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL)


Phụng Vụ Lời Chúa theo ngày trong tuần
Bài Đọc I: (Năm I) 1Thes. 4:9-11
Đáp Ca: Tv 98, 1,7-8,9
Phúc Âm: Mt 25, 14-30

 

Bài Phúc Âm cho Thứ Bảy Tuần XXI Thường Niên hôm nay tiếp theo bài Phúc Âm về 10 trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể hôm qua


Thật vậy, nếu bài Phúc Âm hôm qua về 10 trinh nữ, ám chỉ chung Kitô hữu trong thời cánh chung, như đã suy diễn, thì bài Phúc Âm hôm nay về thành phần "đầy tớ" được chủ "sắp đi xa... giao phó của cải mình cho", ám chỉ những vị lãnh đạo trong Giáo Hội. 


Sở dĩ cả 2 bài Phúc Âm hôm nay và hôm qua ở đoạn 25 liên quan đến thời cánh chung là vì, như đã nhận định, theo diễn tiến và cấu trúc của Phúc Âm Thánh Mathêu, thì đoạn 24 đã được Chúa Giêsu nói về ngày tận thế và cuối đoạn 25 ngay sau 2 bài Phúc Âm này là cảnh chung thẩm.


Đúng vậy, nếu bài Phúc Âm hôm qua về các cô trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể liên quan đến thời cánh chung vì trong bài Phúc Âm này bao gồm sự kiện chàng rể đến, đến lần thứ hai: "Kìa chàng rể đến, ra ra nghênh đón chàng", thì cũng thế, cũng liên quan đến thời cánh chung, bài Phúc Âm hôm nay về thành phần đầy tớ được chủ trao phó của cải cho để sinh lợi trong thời gian ông đi vắng, ám chỉ Chúa Kitô thăng thiên về cùng Cha, nhưng Người sẽ lại đến lần thứ hai, như trong bài Phúc Âm cho thấy: "Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ", có nghĩa là các vị lãnh đạo cộng đồng dân Chúa sẽ phải trả lẽ trước mặt Người

 


Nếu đoạn 25 của Phúc Âm Thánh Ký Mathêu bao gồm 3 dụ ngôn: dụ ngôn thứ nhất về 10 trinh nữ cần đèn đi nghênh đón chàng rể, ám chỉ chung Kitô hữu, ở bài Phúc Âm hôm qua, và dụ ngôn thứ hai về thành phần đầy tớ được trao tài sản để sinh lợiám chỉ các vị lãnh đạo cộng đồng dân Chúa, ở bài Phúc Âm hôm nay, thì dụ ngôn thứ 3 về cuộc chung thẩm giữa chiên và dê ám chỉ toàn thể nhân loại, và dụ ngôn chung thẩm này được Giáo Hội chọn đọc cho Chúa Nhật 34 Thường Niên Năm A, Lễ Chúa Kitô Vua. Như thế, đoạn Phúc Âm 25 của Thánh ký Mathêu về thời điểm cánh chung bao gồm đủ mọi thành phần: từ riêng Kitô hữu và các vị lãnh đạo Giáo Hội đến chung toàn thể nhân loại


Nếu thành phần Kitô hữu trinh nữ được cứu rỗi hay chăng là ở lòng tin tưởng cậy trông của họ, được ám chỉ nơi dầu đèn họ cần có, như đã chia sẻ hôm qua, và nếu chung toàn thể nhân loại được xét xử và cứu rỗi là nhờ "đức tin thể hiện qua đức ái" của họ (xem Galata 5:6; xem Mathêu 25:37-40,42-46), thì thành phần lãnh đạo cộng đồng dân Chúa sẽ bị xét xử và cứu độ nhờ các vị có biết trung tín sinh lợi cho chủ hay chăng. 


Thật vậy, trong bài Phúc Âm hôm nay, thành phần lãnh đạo cộng đồng dân Chúa được gọi là "đầy tớ", tức là những người phục vụ, những người được gọi là "thừa tác viên - minister", thay Chúa Kitô là Đấng đã đến để phục vụ (xem Mathêu 20:28), mà đã là "đầy tớ" phục vụ thì phải làm theo ý chủ và đúng ý chủ mới thật sự chu toàn nhiệm vụ đầy tớ của mình, bằng không, sẽ lỗi trách nhiệm và sẽ bị trừng phạt. 


Đúng thế, "tùy khả năng riêng mỗi người", ông chủ đã khôn ngoan và công bằng trao cho "người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến"Trong khi "người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác. Còn người đã lãnh một yến thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ". 


Thế rồi những gì đã xẩy ra cho 2 đầy tớ 5 yến và 2 yến, Phúc Âm hôm nay kể tiếp: 


"Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ. Người đã lãnh năm yến tiến lại gần, đưa năm yến khác, và nói : 'Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây'. Ông chủ nói với người ấy: 'Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!' Người đã lãnh hai yến cũng tiến lại gần và nói: 'Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai yến, tôi đã gây lời được hai yến khác đây'. Ông chủ nói với người ấy: 'Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!'"


Còn người đầy tớ được trao cho một yến thì sao, Phúc Âm cũng cho biết số phận bất hạnh không may của người đầy tớ cuối cùng này như sau: 

"Rồi người đã lãnh một yến cũng tiến lại gần và nói: 'Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy!' Ông chủ đáp: 'Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng".


Vấn đề được đặt ra ở đây về trường hợp người đầy tớ được trao cho một yến bị trừng phạt này đó là tại sao người đầy tớ này trả lại cho chủ nguyên những gì được chủ trao cho, không hề bị mất mát đi một chút nào, mà vẫn bị trừng phạt dữ dội và khủng khiếp như thế?

Xin thưa, người đầy tớ được giao cho một yến này không bị trừng phạt xứng với tội mình không phải bởi không sinh lợi cân xứng với những gì được chủ trao phó cho bằng tinh thần và thái độ của người đầy tớ này. Vấn đề then chốt là ở chỗ tại sao người đầy tớ này không chịu sinh lợi cho chủ? Nếu không phải tại vì con người này không muốn làm "đầy tớ" cho chủ: "tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi", nghĩa là cho rằng chủ lợi dụng sức lực của mình để hưởng thụ, nên không muốn phục tùng, không muốn đáp ứng, không làm theo ý chủ, nghĩa là ngấm ngầm chống đối chủ, truất phế chủ, và gián tiếp tự cho mình là chủ, ở chỗ làm theo ý mình hơn là ý chủ. 

Tất cả vấn đề là ở chỗ đó, và người đầy tớ được trao cho một yến này bị trừng phạt cũng là vì vậy, chẳng khác gì như trường hợp của Luxiphe, con khủng long, ngay từ ban đầu đã dám cả gan chống lại ý định nhập thể Thiên Chúa, không chịu phục tùng ý định tối thượng của Ngài, coi ý mình hơn ý Chúa, như thể truất phế Thiên Chúa, cho mình mới là Thiên Chúa, nên hắn cùng 1/3 ngụy thần theo hắn đã bị trừng phạt vậy (xem Khải Huyền 12:4,9).

Cốt lõi của vấn đề ở đây là có nhận biết Thiên Chúa và kính mến Thiên Chúa mới gắn bó với Ngài và làm theo ý của Ngài, như hai người đầy tớ 5 yến và 2 yến. Mà tình yêu Thiên Chúa bất khả phân ly với tình yêu tha nhân, ở chỗ có kính mến Thiên Chúa thì mới phục vụ tha nhân, hay ngược lại việc phục vụ tha nhân được thúc đẩy và chi phối bởi tình yêu Thiên Chúa. Người đầy tớ được trao cho một yến trong bài Phúc Âm hôm nay không muốn sinh lợi cho chủ cũng có nghĩa là không muốn làm tôi phục vụ anh chị em của mình, trái lại, muốn người khác phải phục vụ mình

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay Thánh Phaolô đã nhấn mạnh đến bác ái yêu thương phục vụ nhau như sau:


"Còn về tình huynh đệ, anh em không cần ai viết cho anh em, vì chính anh em đã được Thiên Chúa dạy phải thương yêu nhau, và anh em cũng đang làm như vậy cho tất cả các anh em trong toàn miền Macedonia. Nhưng thưa anh em, tôi khuyên nhủ anh em hãy tiến tới nhiều hơn nữa. Hãy gắng giữ hòa khí, ai lo việc nấy và lao động bằng chính bàn tay của mình, như chính tôi đã truyền cho anh em".

Bài Đáp Ca hôm nay kêu gọi nhau ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa vì Ngài "đã thực hiện bao kỳ công" (câu 1), mà còn hợp với muôn loài tôn vinh Ngài (câu 2), vì Ngài còn "ngự đến xét xử trần gian.... theo đường công chính... theo lẽ công bình" (câu 3):

1- Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người.


2- Gầm vang lên, hỡi biển cả cùng muôn hải vật, địa cầu với toàn thể dân cư! Sông lạch ơi, vỗ tay đi nào, đồi núi hỡi, reo mừng trước tôn nhan Chúa.


3- Vì Người ngự đến xét xử trần gian, Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo lẽ công bình.