Thông Điệp

 

Caritas In Veritate – Yêu Thương Trong Sự Thật

 

của

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI

 

Dẫn Nhập

 

Chương 2: Việc Phát Triển của Con Người trong Thời Đại của Chúng Ta

 

Chương 3: Tình Huynh Đệ, Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế và Xã Hội Dân Sự

 

Chương 4: Việc Phát Triển của Con Người, Các Quyền Lợi và Nghĩa Vụ, Môi Trường

 

Chương 5: Việc Hợp Tác của Gia Đình Nhân Loại

 

Chương 6: Việc Phát Triển của Chư Dân và Vấn Đề Kỹ Thuật

 

Kết Luận

 

 

Chương Một

Sứ Điệp của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc

 

10.       Việc đọc lại Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, hơn 40 năm được ban hành, mời gọi chúng ta hãy trung thành với sứ điệp của nó về yêu thương và chân lý, một sứ điệp được nhận định trong bối cảnh toàn diện đối với huấn quyền đặc biệt của Đức Phaolô VI, và tổng quát hơn, trong truyền thống của giáo huấn về xã hội của Giáo Hội. Hơn nữa, cũng cần phải thực hiện một cuộc thẩm định về những khía cạnh khác liên quan tới vấn đề phát triển ngày nay, so với 40 năm trước. Bởi thế, quan điểm đúng đắn là quan điểm của Truyền Thống đức tin tông đồ [13], một gia sản vừa cũ vừa mới, bằng không Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc sẽ chỉ là một văn kiện thiếu nền tảng – và những vấn đề liên quan tới việc phát triển sẽ trở thành những dữ kiện thuần túy về xã hội.

 

11.       Việc ban hành Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc xẩy ra ngay sau khi bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, và trong những đoạn mở đầu của mình, thông điệp này đã nói rõ mối liên hệ chặt chẽ của mình với Công Đồng ấy [14]. Hai mươi năm sau, trong Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, Đức Gioan Phaolô II, về phần mình, đã nhấn mạnh đến mối liên hệ tốt đẹp của bức Thông Điệp trước đó này với Công Đồng, và nhất là với Hiến Chế Mục Vụ “Vui Mừng và Hy Vọng” [15]. Tôi cũng muốn nhắc lại nơi đây tầm quan trọng của Công Đồng Chung Vaticanô II đối với bức Thông Điệp này của Đức Phaolô VI cũng như đối với toàn thể Huấn Quyền về xã hội sau đó của các vị Giáo Hoàng. Công Đồng này đã khảo sát một cách sâu xa hơn những gì bao giờ cũng thuộc về chân lý của đức tin, tức là Giáo Hội khi phục vụ Thiên Chúa là phục vụ thế giới trong yêu thương và chân lý. Đức Phaolô đã bắt đầu từ nhãn quan này để chuyển đạt hai sự thật quan trọng. Sự thật thứ nhất là toàn thể Giáo Hội, nơi tất cả hữu thể và hoạt động của mình – khi Giáo Hội công bố, khi Giáo Hội cử hành, khi Giáo Hội thực thi những công việc bác ái – đều dấn thân cổ võ việc phát triển toàn vẹn con người. Giáo Hội đóng một vai trò công khai bên trên và ở trên những hoạt động bác ái và giáo dục: ở chỗ, tất cả mọi năng lực Giáo Hội mang lại cho việc tiến bộ của nhân loại và tình huynh đệ đại đồng một khi Giáo Hội có thể thi hành trong một bầu khí tự do. Không phải là ít xẩy ra là quyền tự do này bị trở ngại bởi những ngăn cấm và bách hại, hay bị giới hạn khi việc hiện diện công khai của Giáo Hội bị biến thành những hoạt động bác ái của Giáo Hội mà thôi. Sự thật thứ hai đó là việc phát triển nhân loại thực sự liên quan tới toàn thể con người nơi từng chiều kích một [16].

 

Thiếu viễn ảnh về sự sống trường sinh, việc tiến bộ của con người trên thế giới này trở thành ngột ngạt. Bị đóng khung trong lịch sử, nó có nguy cơ trở thành một thứ thuần túy tích lũy giầu sang; nhân loại vì thế mất đi lòng can đảm phục vụ những thiện ích cao cả hơn, phục vụ những khởi động cao cả và vô vị lợi của đức bác ái phổ quát. Con người không phát triển bằng những quyền lực của mình, hay việc phát triển không thể nào chỉ đơn thuần truyền lại cho họ. Theo giòng lịch sử, người ta thường chủ trương rằng việc tạo nên các cơ cấu tổ chức là những gì đủ để bảo đảm cho việc đáp ứng quyền phát triển của con người. Tiếc thay, người ta đã đặt quá nhiều tin tưởng vào các cơ cấu tổ chức ấy, như thể chúng có thể tự động đạt được mục tiêu mơ ước ấy. Thực ra tự các cơ cấu tổ chức vẫn không đủ, vì việc phát triển toàn diện con người chính yếu là một ơn gọi, và vì thế nó bao gồm việc hết mọi người tự do lãnh nhận trách nhiệm trong tình đoàn kết. Ngoài ra, việc phát triển này cần phải có một nhãn quan siêu việt về con người, nó cần Thiên Chúa, ở chỗ, thiếu Ngài, việc phát triển một là bị chối từ hay là bị hoàn toàn lọt vào tay con người là thành phần có khuynh hướng nghĩ rằng họ có thể tự cứu độ nhưng cuối cùng là cổ võ một hình thức phát triển phi nhân bản hóa. Chỉ nhờ được gặp gỡ Thiên Chúa chúng ta mới có thể thấy nơi người khác một cái gì đó không phải chỉ là một tạo vật khác [17], có thể nhận ra hình ảnh thần linh nơi người khác, nhờ đó thực sự tiến đến chỗ khám phá ra họ và trưởng thành trong một tình yêu “trở nên mối quan tâm và chăm sóc ccho người khác” [18].

 

12.       Mối liên hệ giữa Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc và Công Đồng Chung Vaticanô II không có nghĩa là huấn quyền về xã hội của Đức Phaolô VI đánh dấu một thứ phân ly với giáo huấn của các vị Giáo Hoàng trước ngài, vì Công Đồng này là cơ hội giúp khai thác sâu xa hơn giáo huấn này một cách liên tục trong đời sống của Giáo Hội [19]. Theo chiều hướng ấy thì vấn đề sáng tỏ không ở tại những thứ phân chia phụ thuộc trừu tượng nào đó, những phân chia áp dụng các thứ loại vào giáo huấn xã hội của Giáo Hoàng không liên quan gì tới nó. Đây không phải là trường hợp của hai thứ phân loại học liên quan tới giáo huấn về xã hội khác nhau, một trước công đồng và một sau công đồng, trái lại, chỉ có một giáo huấn duy nhất, liên lỉ và đồng thời cũng luôn mới [20]. Đây không phải là vấn đề chú ý tới những tính chất đặc biệt của bức Thông Điệp này hay bức thông điệp kia, của giáo huấn Giáo Hoàng này hay giáo hoàng kia, nhưng lại hoàn toàn không lưu ý tới tính chất liên kết nơi toàn thể cấu trúc của giáo huấn [21]. Tính chất liên kết này không có nghĩa là một hệ thống khép kín, trái lại, nó có nghĩa là trung thành một cách linh động với thứ ánh sáng đã lãnh nhận. Giáo huần về xã hội của Giáo Hội bằng một thứ ánh sáng bất biến đang chiếu soi những vấn đề mới liên lỉ xuất hiện [22]. Điều này là những gì bảo toàn tính chất thường hằng và lịch sử của “gia sản” giáo huấn này [23], một gia sản, bởi những đặc tính đặc biệt của mình, là yếu tố và là thành phần nơi Truyền Thống hằng tồn tại của Giáo Hội [24]. Giáo huấn về xã hội được thiết lập trên nền tảng do các Tông Đồ truyền lại cho các Giáo Phụ của Giáo Hội, sau đó được các vị đại tiến sĩ của Hội Thánh lãnh nhận và dẫn giải sâu rộng hơn. Giáo huấn này tối hậu là những gì hướng tới Con Người Mới, tới “Adong mới là Đấng trở thành một thần linh ban sự sống” (1Cor 15:45), nguyên lý của đức ái “không bao giờ cùng” (1Cor 13:8). Nó được chứng thực bởi các thánh nhân cũng như bởi những ai hiến đời mình cho Chúa Kitô Chúa Cứu Thế của chúng ta trong lãnh vực công lý và hòa bình. Nó thể hiện công việc ngôn sứ của các vị Giáo Hoàng trong việc hướng dẫn tông đồ cho Giáo Hội Chúa Kitô cũng như trong việc nhận thức các đòi hỏi mới của việc truyền bá phúc âm hóa. Vì những lý do ấy, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, theo chiều hướng cao cả của Truyền Thống, ngày nay vẫn còn đang nói với chúng ta.

 

13.       Ngoài mối liên hệ quan trọng của mình với toàn thể giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc cũng liên hệ chặt chẽ với toàn thể huấn quyền của Đức Phaolô VI, nhất là huấn quyền về xã hội của ngài. Huấn quyền của ngài thực sự là một giáo huấn về xã hội có tầm vóc thật quan trọng, ở chỗ, ngài nhấn mạnh tới tầm quan trọng bất khả thiếu của Phúc Âm trong việc xây dựng xã hội hợp với tự do và công lý, theo một viễn ảnh lý tưởng và lịch sử của một nền văn minh được yêu thương tác động. Đức Phaolô VI đã rõ ràng hiểu được rằng vấn đề xã hội đã trở thành toàn cầu [25], và ngài đã nắm bắt được mối tương liên giữa cái động lực hướng về việc hiệp nhất nhân loại với lý tưởng Kitô giáo về một gia đình chư dân duy nhất trong đoàn kết và huynh đệ. Theo quan niệm này về việc phát triển, được hiểu theo chiều hướng nhân loại và Kitô giáo, ngài đã nhận thấy tâm điểm sứ điệp xã hội của Giáo Hội, và ngài đã lấy đức ái Kitô giáo làm năng lực chính trong việc phục vụ phát triển. Được tác động bởi ước muốn làm cho tình yêu của Chúa Kitô hoàn toàn trở thành hữu hình với con người nam nữ hiện đại, Đức Phaolô VI đã bàn giải các vấn đề về đạo lý một cách mạnh mẽ, không đầu hàng trước những yếu hèn về văn hóa trong thời đại của ngài.

 

14.       Trong Tông Thư Octogenima Adveniens năm 1971, Đức Phaolô VI đã chia sẻ về ý nghĩa của chính trị cũng như về mối nguy hiểm bởi những nhãn quan không tưởng và lý tưởng gây nguy hiểm cho những chiều kích đạo lý và nhân bản của nó. Đó là những vấn đề liên hệ chặt chẽ với việc phát triển. Tiếc thay, những ý hệ tiêu cựa này vẫn tiếp tục triển nở. Đức Phaolô VI đã cảnh giác ý hệ về kỹ thuật rất thịnh hành ngày nay [26], ngài hoàn toàn thấy được cái nguy hiểm to tát của việc trao phó tất cả tiến trình phát triển cho một mình kỹ thuật, vì như thế nó sẽ thiếu mất hướng đi. Kỹ thuật, tự mình, là một cái gì bất ổn. Một mặt, nếu một ngày nào đó xu hướng về việc trao phó tất cả tiến trình phát triển cho kỹ thuật, mặt khác chúng ta lại đang chứng kiến thấy một tình trạng đột phát của các thứ ý hệ chối bỏ in toto – hoàn toàn chính giá trị của phát triển, thấy phát triển như là những gì hoàn toàn phản nhân bản và chỉ là một nguồn gây ra tình trạng thoái hóa. Điều này dẫn tới chỗ phủ nhận, chẳng những đường lối méo mó và bất chính đôi khi tiến bộ được hướng dẫn, mà còn cả chính những khám phá khoa học, những khám phá, nếu sử dụng đàng hoàng, cũng có thể trở thành cơ hội tăng trưởng của tất cả mọi người. Ý nghĩ về một thế giới không phát triển cho thấy thiếu niềm tin tưởng nơi con người cũng như nơi Thiên Chúa. Bởi thế, nó là một sai lầm trầm trọng trong việc coi thường khả năng của con người làm chủ những lệch lạc của phát triển hay coi thường sự kiện là con người tự bản chất hướng về “cái là hơn nữa”. Việc lý tưởng hóa tiến bộ về kỹ thuật, hay chiêm ngưỡng cái không tưởng của một thứ trở về với tình trạng tự nhiên nguyên thủy của con người, hay hai cách thức đối nghịch nhau của vấn đề tách vấn đề tiến bộ khỏi giá trị luân lý của nó và bởi đó khỏi cả trách nhiệm của chúng ta. 

 

15.       Có hai văn kiện của Đức Phaolô VI không trực tiếp liên quan tới giáo huấn về xã hội, đó là Thông Điệp Sự Sống Con Người - Humanae Vitae (25/7/1968) và Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm - Evangelii Nuntiandi (8/12/1975), có một tầm vóc rất quan trọng trong việc phác tả trọn vẹn ý nghĩa nhân bản của việc phát triển được Giáo Hội chủ trương. Bởi thế, cần phải lưu ý tới hai bản văn này theo chiều hướng của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các dân Tộc.

 

Thông Điệp Sự Sống Con Người nhấn mạnh đến ý nghĩa của tính dục về cả tính chất duy nhất và truyền sinh của nó, bởi thế, nó đặt vào ngay nền tảng của xã hội đôi phối ngẫu là con người nam nữ chấp nhận nhau một cách khác biệt và tương khuyết: một đôi phối ngẫu, do đó, hướng về sự sống [27]. Đây không phải là vấn đề thuần luân lý cá nhân: Thông Điệp Sự Sống Con Người cho thấy những liên hệ chặt chẽ giữa đạo lý sự sống với đạo lý xã hội, mở ra một lãnh vực mới trong giáo huấn của huấn quyền là những gì dần dần đã được bày tỏ ở hàng loạt những văn kiện, mới nhất là Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống – Evangelium Vitae [28] của Đức Gioan Phaolô II. Giáo Hội mãnh liệt chủ trương nắm giữ mối liên hệ giữa đạo lý về sự sống và đạo lý về xã hội, hoàn toàn nhận thức rằng “một xã hội thiếu những nền tảng vững chắc, khi mà, một mặt nó xác nhận những giá trị như phẩm giá của con người, công lý và hòa bình, mặt khác, lại hết sức tác hành phản lại bằng việc cho phép hay dung túng một số đường lối hạ giá và  phạm tới sự sống, nhất là khi nó yếu kém hay bị cho ra rìa” [29].

 

Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm, về phần mình, rất gắn liền với việc phát triển, ở chỗ, theo Đức Phaolô VI nói, “việc truyền bá phúc âm hóa sẽ không hoàn trọn nếu nó không lưu ý tới sự tương tác giữa Phúc Âm với đời sống cụ thể của con người, cả lãnh vực tư riêng lẫn xã hội” [30]. “Giữa việc truyền bá phúc âm hóa và việc tiến bộ nhân bản – phát triển và tự do – thật sự là có một mối liên hệ sâu xa” [31]: trên căn bản của cái minh thức này, Đức Phaolô VI tỏ tường trình bày cho thấy mối liên hệ giữa việc loan báo Chúa Kitô và việc tiến bộ của cá nhân trong xã hội. Chứng từ cho đức ái của Chúa Kitô, qua các hoạt động về công lý, hòa bình và phát triển, thuộc về và là phân tố của việc truyền bá phúc âm hóa, vì Chúa Giêsu Kitô, Đấng yêu thương chúng ta, quan tâm tới toàn thể con người. Những giáo huấn quan trọng này làm nên nền tảng cho khía cạnh truyền giáo [32] nơi giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, một giáo huấn là yếu tố thiết yếu của việc truyền bá phúc âm hóa [33]. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội loan truyền và làm chứng cho đức tin. Nó là một dụng cụ và là một cơ cấu bất khả thiếu cho viện đào luyện đức tin.

 

16.       Trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, Đức Phaolô VI dạy rằng tiến bộ, theo nguồn gốc và yếu tính của nó, trước hết và trên hết, là một ơn gọi: “theo ý định của Thiên Chúa, hết mọi người được kêu gọi phát triển và hoàn trọn bản thân mình, vì hết mọi đời sống là một ơn gọi” [34]. Đó là những gì cống hiến tính cách hợp lý cho việc Giáo Hội tham gia vào tất cả vấn đề phát triển. Nếu phát triển chỉ được quan tâm về các khía cạnh về kỹ thuật của đời sống con người, chứ không phải ở ý nghĩa của cuộc con người hành trình qua giòng lịch sử cùng với đồng loại của mình, hay không nhận ra mục tiêu của cuộc hành trình ấy, thì Giáo Hội sẽ không có quyền nói về nó. Đức Phaolô VI, như Đức Lêô XIII trước ngài trong Thông Điệp Tân Sự – Rerum Novarum [35], đã biết rằng ngài thi hành một nhiệm vụ thích đáng với vai trò chiếu giãi ánh sáng Phúc Âm về các vấn đề xã hội thuộc thời đại của ngài [36].

 

Khi coi phát triển là một ơn gọi tức nhìn nhận, một mặt, phát triển xuất phát từ một ơn gọi siêu việt, mặt khác, tự mình nó không thể nào có được ý nghĩa tối hậu của nó. Không phải là vô tình mà chữ “ơn gọi” cũng được xuất hiện ở mộït đoạn khác của Thông Điệp này, đó là đoạn: “Không có nhân bản thực sự nếu không hướng tới Đấng Tuyệt Đối và ý thức  về một ơn gọi mang lại cho đời sống con người ý nghĩa đích thực của nó” [37]. Nhãn quan về việc phát triển này là tâm điểm của Thông Điệp về Việc Phát Triển của Các Dân Tộc và nó chi phối tất cả những suy tư của Đức Phaolô VI về tự do, về sự thật và về bác ái trong vấn đề phát triển. Nó cũng là lý do chính cho thấy tại sao bức Thông Điệp này vẫn còn hợp thời ở thời đại của chúng ta đây.

 

17.       Ơn gọi là một mời gọi cần được tự do và sáng suốt đáp ứng. Việc phát triển toàn diện con người bao hàm quyền tự do hữu trách của cá nhân cũng như của các dân tộc: không có một cấu trúc nào có thể bảo đảm việc phát triển vượt lên trên và ở trên trách nhiệm của con người. “Những kiểu chủ trương cứu thế hứa hẹn nhưng tạo nên những ảo ảnh” [38] bao giờ cũng xuất hiện ở chỗ chối bỏ chiều kích siêu việt của việc phát triển, cho rằng việc phát triển hoàn toàn nằm trong tay của chúng. Thứ bảo đảm sai lầm này trở thành một thứ yếu hèn, vì nó liên quan tới việc biến con người thành những gì lụy thuộc, thành phương tiện thuần túy cho việc phát triển, trong khi đó lòng khiêm nhượng của ai chấp nhận ơn gọi lại giúp họ thực sự tự lập, vì nó làm cho họ được tự do. Đức Phaolô VI đã dám chắc là các trở ngại và những hình thức điều kiện hóa là những gì kềm giữ vấn đề phát triển, thế nhưng ngài cũng tin tưởng rằng “mỗi một người, cho dù những ảnh hưởng ấy có tác dụng nơi họ ra sao, vẫn là tác nhân chính trong việc thành bại của họ” [39]. Cái tự do này liên quan tới một kiểu mẫu phát triển chúng ta đang bàn đến, thế nhưng nó cũng ảnh hưởng đến các tình trạng của vấn đề chậm phát triển đang xẩy ra không do tình cờ hay nhu cầu lịch sử, mà là do trách nhiệm của con người. Đó là lý do tại sao “các dân tộc đang đói khổ tham thiết kêu gọi các dân tộc được phúc sung túc” [40]. Điều này nữa cũng là một ơn gọi, một lời mời gọi được những chủ thể tự do ngỏ cùng các chủ thể tự do khác liên quan tới vấn đề đảm nhận trách nhiệm chung. Đức Phaolô VI đã có một cảm quan sắc bén về tầm quan trọng của những cấu trúc và tổ chức kinh tế, thế nhưng ngài cũng có cùng một cảm quan rõ ràng về bản chất của chúng như là những dụng cụ của tự do con người. Chỉ khi nào có tự do phát triển mới có tính cách nhân bản toàn vẹn; chỉ khi nào có một bầu khí của tự do sáng suốt phát triển mới gia tăng một cách thỏa đáng.

 

18.       Ngoài việc đòi hỏi quyền tự do, việc phát triển toàn vẹn con người như là một ơn gọi cũng đòi phải tôn trọng sự thật nữa. Ơn gọi tiến bộ thúc đẩy chúng ta “làm hơn, biết hơn và có hơn để là hơn” [41]. Thế nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là: cái “là hơn” nghĩa là gì? Đức Phaolô VI đã trả lời câu hỏi này bằng việc nói đến phẩm chất thiết yếu của việc phát triển “chân thực”, ở chỗ nó cần phải “toàn vẹn, tức là nó phải cổ võ sự thiện của hết mọi người và của con người trọn vẹn” [42]. Giữa những quan niệm về nhân loại học đối chọi nhau đã xẩy ra trong xã hội ngày nay, thậm chí còn hơn cả thời của Đức Phaolô VI, quan niệm của Kitô giáo có một đặc tính đặc biệt trong việc chủ trương và biện hộ cho giá trị nhưng không của con người cũng như ý nghĩa cho vấn đề phát triển của họ. Ơn gọi Kitô giáo về vấn đề phát triển đó là giúp vào việc cổ võ tình trạng tiến bộ của tất cả mọi người và con người trọn vẹn. Như Đức Phaolô VI đã viết: “Những gì chúng ta cho rằng quan trọng đó là con người, từng người và từng nhóm người, và thậm chí chúng ta bao gồm toàn thể nhân loại nữa” [43]. Trong việc cổ võ phát triển, đức tin Kitô giáo không cậy dựa vào đặc quyền hay những thế lực, thậm chí cũng không cậy dựa vào những công nghiệp của thành phần Kitô hữu (cho dù những thứ công nghiệp này đã hiện hữu và tiếp tục hiện hữu theo những hạn hữu tự nhiên của chúng) [44], thế nhưng vào một mình Chúa Kitô là Đấng hết mọi ơn gọi chân thực đối với việc phát triển toàn vẹn con người cần phải hướng về. Phúc Âm là nền tảng cho việc phát triển, vì trong Phúc Âm, Chúa Kitô, “trong chính việc mạc khải về mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Cha, hoàn toàn tỏ cho nhân loại biết về họ” [45]. Được truyền dạy bởi Chúa của mình, Giáo Hội xem xét các dấu chỉ thời đại và giải thích chúng, cống hiến cho thế giới “những gì Giáo Hội có như là thuộc tình đặc biệt của mình, đó là một thứ nhãn quan toàn cầu về con người và về nhân loại” [46]. Chính vì Thiên Chúa âm vang tiếng “được” với con người [47] mà con người không thể không cởi mở trước ơn gọi thần linh trong việc theo đuổi việc phát triển của mình. Sự thật về sự phát triển bao gồm tính chất toàn vẹn của nó, ở chỗ, nếu nó không bao gồm trọn vẹn con người và hết mọi người, nó không phải là việc phát triển thực sự. Đó là sứ điệp chính yếu của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, hiệu lực cho ngày nay và mọi thời đại. Việc phát triển toàn vẹn con người về phương diện tự nhiên, như một đáp ứng ơn gọi từ Thiên Chúa Hóa Công [48], đòi hỏi sự viên trọn bản thân “theo chiều hướng nhân bản siêu việt cống hiến cho con người tầm mức trọn hảo khả hữu nhất của họ: đó là mục tiêu cao cả nhất của việc phát triển bản thân con người” [49]. Thế nên, ơn gọi của Kitô giáo đối với việc phát triển này áp dụng cho cả lãnh vực tự nhiên lẫn lãnh vực siêu nhiên; và đó là lý do tại sao “một khi Thiên Chúa bị khuất lấp đi thì khả năng của chúng ta trong việc nhận thức về trật tự, mục đích và ‘sự thiện’ tự nhiên bị suy yếu tàn tạ” [50].

 

19.       Sau hết, nhãn quan về việc phát triển như là một ơn gọi bao gồm cả tâm điểm của yêu thương trong việc phát triển này. Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đã vạch ra rằng các nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển không phải chính yếu ở tại lãnh vực vật chất. Ngài đã mời gọi chúng ta tìm kiếm những nguyên nhân này ở những chiều kích khác của con người: trước hết, ở ý muốn là những gì thường lơ là các nhiệm vụ của tình đoàn kết; tiếp theo là trong ý nghĩ là những gì không luôn luôn cống hiến hướng đi đúng đắn cho ý muốn. Bởi thế, trong việc theo đuổi việc phát triển, cần phải có “những ý nghĩ sâu xa và suy tư của một con người khôn ngoan trong việc tìm kiếm một chiều hướng nhân bản mới có thể giúp con người tân tiến tìm gặp bản thân mình một lần nũa” [51]. Thế nhưng, đó vẫn chưa phải là tất cả. Tình trạng chậm phát triển thậm chí còn một nguyên nhân quan trọng hơn là thiếu hụt những ý nghĩ sâu xa, đó là “sự thiếu tình huynh đệ giữa các cá nhân và các dân tộc” [52]. Có thể nào chiếm được tình huynh đệ này bằng nguyên nỗ lực của con người hay chăng? Trong khi xã hội càng ngày càng trở nên toàn cầu hóa hơn bao giờ hết, nó làm cho chúng ta thành cận nhân nhưng không làm cho chúng ta thành huynh đệ. Lý trí, tự mình, có thể hiểu được sự bình đẳng giữa con người và cống hiến sự ổn định cho việc chung sống dân sự của họ, thế nhưng nó không thể thiết lập tình huynh đệ. Điều này bắt nguồn từ một ơn gọi siêu việt từ Thiên Chúa là Cha, Đấng đã yêu thương chúng ta trước, dạy chúng ta qua Người Con tình yêu thương huynh đệ là gì. Đức Phaolô VI, khi trình bày cho thấy những mức độ khác nhau trong tiến trình phát triển của con người, sau khi đã đề cập tới đức tin, đã đặt làm tột đỉnh “mối hiệp nhất trong đức ái của Chúa Kitô là Đấng kêu gọi tất cả chúng ta hãy chia sẻ như là những người con trong sự sống của Vị Thiên Chúa hằng sống là Cha của tất cả mọi người” [53].

 

20.       Những quan điểm này, những quan điểm được Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc mở ra, vẫn là những gì nồng cốt cho việc cống hiến bầu khí và hướng đi cho việc dấn thân phát triển chư dân của chúng ta. Ngoài ra, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại nhu cầu khẩn trương cho vấn đề canh tân cải cách [54], và đương đầu với những vấn đề trầm trọng của tình trạng bất công nơi việc phát triển của chư dân, bức thông điệp này kêu gọi đừng trì hoãn thực hiện hành động can đảm. Nhu cầu khẩn trương này cũng là thành quả của yêu thương trong chân lý. Chính tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta: “caritas Christi urget nos” (2Cor 5:14). Nhu cầu khẩn trương này được in ấn không phải chỉ ở nơi các sự vật, nhu cầu khẩn trương ấy không được xuất phát nguyên từ tình trạng nối tiếp nhanh chóng xẩy ra của các biến cố và những vấn đề, mà còn từ chính vấn đề của nhu cầu khẩn trương này là việc thiết lập tình huynh đệ chân thực đang gặp nguy hiểm.

 

Tầm quan trọng của mục tiêu này đòi chúng ta cởi mở để hiểu biết nó một cách sâu xa và để vận động chính mình ơ ûtầm mức của “cõi lòng”, nhờ đó bảo đảm rằng những tiến trình về kinh tế và xã hội hiện đại xoay chung quanh những thành quả hoàn toàn về nhân bản.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/encyclicals/documents/hf_ben-xvi_enc_20090629_caritas-in-veritate_en.html

(nhöõng choã ñöôïc in ñaäm leân laø do töï yù cuûa ngöôøi dòch trong vieäc laøm noåi baät nhöõng ñieåm chính yeáu quan troïng)