Thông Điệp

 

Caritas In Veritate – Yêu Thương Trong Sự Thật

 

của

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI

 

Dẫn Nhập

 

Chương 1: Sứ Điệp của Thông Điệp về Việc Phát Triển của Các Dân Tộc

 

Chương 2: Việc Phát Triển của Con Người trong Thời Đại của Chúng Ta

 

Chương 4: Việc Phát Triển của Con Người, Các Quyền Lợi và Nghĩa Vụ, Môi Trường

 

Chương 5: Việc Hợp Tác của Gia Đình Nhân Loại

 

Chương 6: Việc Phát Triển của Chư Dân và Vấn Đề Kỹ Thuật

 

Kết Luận

 

 

Chương Ba

Tình Huynh Đệ, Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế và Xã Hội Dân Sự

 

34.       Bác ái trong chân lý đặt con người trước cảm nghiệm lạ lùng của việc ban tặng. Tính chất nhưng không hiện hữu trong đời sống của chúng ta nơi nhiều hình thức khác nhau, những hình thức thường không nhận ra bởi một thứ chủ nghĩa thuần hưởng thụ và quan điểm thực dụng về đời sống. Con người được dựng nên để ban tặng, một thứ ban tặng bày tỏ và hiện thực chiều kích siêu việt của họ. Đôi khi con người tân tiến xác tín một cách lầm lạc rằng họ là tác giả duy nhất của chính mình, của sự sống họ và của xã hội. Đây là một giả tưởng xuất phát từ chỗ khép kín bản thân mình một cách vị kỷ, và là hậu quả – nói theo ngôn từ đức tin – của nguyên tội. Sự khôn ngoan của Giáo Hội bao giờ cũng vạch ra cho thấy sự hiện diện của nguyên tội nơi những điều kiện của xã hội cũng như nơi cấu trúc của xã hội: “Việc coi thường sự kiện là con người có một bản tính bị tổn thương hướng chiều về sự dữ đang gây ra những lầm lỗi trầm trọng ở những lãnh vực về giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội và luân lý” [85]. Trong danh sách của những lãnh vực rõ ràng cho thấy hậu quả độc hại của tội lỗi, thì, qua một thời gian, hiện nay có cả kinh tế nữa. Chúng ta có chứng cớ rõ ràng về điều ấy vào lúc này đây. Niềm xác tín là con người là thành phần tự mãn và có thể thành công trong việc loại trừ đi sự dữ đang hiện diện trong lịch sử bằng nguyên hoạt động của mình đã dẫn họ đến chỗ lẫn lộn hạnh phúc và ơn cứu độ với những hình thức thịnh vượng vật chất và hoạt động xã hội. Rồi tới niềm xác tín rằng nền kinh tế cần phải biệt lập tự động, cần phải được bao che cho khỏi “những ảnh hưởng” của một thứ tính chất luân lý, đã dẫn con người tới chỗ lạm dụng tiến trình kinh tế một cách hoàn toàn hủy hoại. Về lâu về dài, những thứ tin tưởng này đã dẫn đến những hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị chà đạp lên tự do cá nhân và xã hội, và vì thế không thể mang lại công lý như chúng hứa hẹn. Như tôi đã nói trong Thông Điệp Niềm Hy Vọng Cứu Độ, lịch sử bởi thế đã hụt hẫng niềm hy vọng Kitô giáo [86], bị hụt hẫng một nguồn mạch xã hội mãnh liệt để phục vụ việc phát triển toàn vẹn con người là việc phát triển được thực hiện trong tự do và công lý. Niềm hy vọng phấn khích lý trí và cống hiến cho nó sức mạnh để hướng dẫn ý muốn [87]. Nó đã hiện diện nơi đức tin, thực sự nó được đức tin kêu gọi. Bác ái trong chân lý dinh dưỡng bằng niềm hy vọng và đồng thời bộc lộ niềm hy vọng ấy. Là một tặng ân hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa, niềm hy vọng bừng lên trong đời sống của chúng ta như là một cái gì đó không hợp với chúng ta, một cái gì đó vượt trên hết mọi luật lệ của công lý. Tặng ân tự mình là những gì vượt lên trên công lênh sự nghiệp, qui luật của nó là qui luật của những gì dồi dào dự dật. Nó chiếm chỗ trên hết trong linh hồn chúng ta như dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta, một dấu hiệu của những gì Ngài mong đợi nơi chúng ta. Chân lý – tự mình là một tặng ân, như đức bác ái – là những gì cao cả hơn chúng ta, như Thánh Âu Quốc Tinh dạy [88]. Cũng thế, sự thật về chính bản thân chúng ta, về lương tâm riêng tư của chúng ta, trước hết được ban cho chúng ta. Trong hết mọi tiến trình hiểu biết, sự thật không phải là một cái gì đó do chúng ta sản xuất ra, nó bao giờ cũng là những gì được tìm kiếm, hay đúng hơn, được nhận lãnh. Như yêu thương, chân lý “không phải là những gì được dự tính hay ước muốn, mà là cái tự áp đặt mình một cách nào đó trên con người” [89]. 

 

Vì là một tặng ân được mọi người lãnh nhận mà bác ái trong chân lý là một quyền lực xây dựng cộng đồng, nó mang tất cả mọi người đến với nhau mà không áp đặt những ngăn trở hay giới hạn. Cộng đồng của con người được chính chúng ta đang xây dựng đây không bao giờ có thể, hoàn toàn tự sức mình, là một cộng đồng huynh đệ trọn vẹn, hay không bao giờ có thể thắng vượt được hết mọi chia rẽ và trở nên một cộng đồng hoàn vũ thực sự. Mối hiệp nhất của nhân loại, mối hiệp thông huynh đệ vượt trên hết mọi ngãng trở, được kêu gọi hiện hữu bởi lời Thiên Chúa Đấng là Tình Yêu. Khi nói tới vấn đề then chốt này, chúng ta cần phải làm sáng tỏ, một đàng, lý lẽ của tặng ân không loại trừ công lý, cũng không phải chỉ là một thứ yếu tố phụ thuộc được thêm thắt vào từ bên ngoài; đàng khác, việc phát triển về kinh tế, xã hội và chính trị, nếu thực sự là nhân bản, cần phải giành chỗ cho nguyên tắc nhưng không như là một biểu hiện của tình yêu thương huynh đệ.

 

35.       Trong bầu khí tin tưởng lẫn nhau, thị trường là một cơ cấu kinh tế giúp cho con người có thể gặp gỡ nhau, vì họ là các chủ thể của một nền kinh tế, thành phần sử dụng những hợp đồng khế ước để điều hành các mối liên hệ của họ, khi họ trao đổi các sản vật cùng các dịch vụ có giá trị tương đương giữa chúng, để thỏa đáng những nhu cầu của họ và những gì họ mong ước. Thị trường tùy thuộc vào những nguyên tắc được gọi là công lý giao hoán, thứ công lý điều hợp những mối liên hệ trao ban và nhận lãnh giữa đôi bên kinh doanh. Thế nhưng giáo huấn về xã hội của Giáo Hội đã không ngừng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thứ công lý phân bổ và thứ công lý xã hội đối với nền kinh tế thị trường, chẳng những vì nó thuộc về một môi trường xã hội và chính trị rộng lớn, mà còn vì mối nối kết của những liên hệ chung quanh nền kinh tế thị trường này. Thật vậy, nếu thị trường được quản trị nguyên bởi nguyên tắc tương đương về giá trị của các sản vật trao đổi, thì nó không thể mang lại mối liên kết xã hội cần thiết để hành sử một cách tốt đẹp. Việc thiếu vắng những hình thức nội tại của tình đoàn kết và lòng tin tưởng lẫn nhau, thì thị trường không thể nào hoàn toàn chu trọn phận sự kinh tế thích đáng của nó. Và ngày nay chính vì niềm tin tưởng này không còn nữa, và việc mất mát niềm tin tưởng là một mất mát trầm trọng. Thật là đúng lúc thay khi Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đã nhấn mạnh rằng tự hệ thống kinh tế có thể mang lại lợi ích từ việc thực hành công lý cách bao rộng, vì kẻ đầu tiên được lợi từ việc phát triển của các xứ sở nghèo là những xứ sở giầu có [90]. Theo vị Giáo Hoàng này thì đây không phải chỉ là vấn đề sửa sai những rối loạn chức năng nhờ được trợ giúp. Không được coi người nghèo như là một “gánh nặng" [91], nhưng là một nguồn tài nguyên, thậm chí theo những quan điểm thuần túy kinh tế. Tuy nhiên vẫn là những gì sai lầm khi chủ trương rằng nền kinh tế thị trường cần đến một thứ nhu cầu sẵn có cho một số hạn ngạch của nghèo đói và kém phát triển để đạt được những hoạt động tốt nhất. Chính ở nơi các lợi ích của thị trường trong việc phát động sự giải phóng, nhưng để làm điều đó một cách hiệu quả, mà nó không thể chỉ dựa trên chính nó, vì nó không thể tự  mình sản xuất ra một cái gì đó ngoài tầm tay của nó. Nó phải rút ra những năng lượng luân lý của nó từ các chủ thể khác có khả năng tạo ra chúng.

 

36.       Hoạt động kinh tế không thể giải quyết tất cả các vấn đề xã hội bằng các ứng dụng đơn giản của lý lẽ thương mại. Hoạt động này cần phải được chỉ đạo để theo đuổi lợi ích chung là những gì đặc biệt là các cộng đồng chính trị cũng phải chịu trách nhiệm. Do đó, nó phải nhớ rằng sự mất cân bằng trầm trọng xuất hiện khi hoạt động kinh tế là hoạt động được hình thành chỉ như là một động cơ để tạo ra sự giàu có, bị tách khỏi hoạt động chính trị là hoạt động được hình thành như là một phương tiện để theo đuổi công lý bằng việc tái phân phối.

 

Giáo Hội luôn chủ trương rằng hoạt động kinh tế không được coi như là những gì chống lại xã hội. Tự mình và bởi mình, thị trường không là và không được trở thành nơi cho kẻ mạnh đàn áp người yếu. Xã hội không cần phải bảo vệ mình khỏi thị trường, như thể vấn đề phát triển của thành phần yếu kém trên thực tế bao gồm tình trạng chết chóc nơi những mối liên hệ chân thực của con người. Phải công nhận rằng thị trường có thể trở thành một quyền lực tiêu cực, không phải tự bản chất của nó như vậy, nhưng vì một ý hệ nào đó khiến nó trở nên như thế. Cần phải nhớ rằng thị trường không hiện hữu ở một trạng thái thuần túy. Nó được làm nên bởi những cấu thể văn hóa định hình nó và cống hiến cho nó hướng đi. Kinh tế và tài chính, như những thứ dụng cụ, có thể được sử dụng một cách tai hại khi những thứ này khởi đầu được tác động bởi những mục đích thuần vị kỷ. Các thứ dụng cụ tự chúng là tốt bởi thế ccó thể biến thành những dụng cụ tai hại. Thế nhưng chính trí khôn mờ tối của con người là những gì sản xuất ra những hậu quả ấy chứ không phải tự chính dụng cụ. Thế nên không phải là vấn đề dụng cụ là những gì cần phải quan tâm mà là cá nhân con người, lương tâm luân lý của họ và trách nhiệm bản thân cùng xã hội của họ.

 

Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội chủ trương rằng các mối liên hệ thân hữu chân thực của con người, tình đoàn kết và sự hỗ tương cũng có thể được hành sử trong hoạt động kinh tế, chứ không phải chỉ ở ngoài nó hay “theo” nó. Lãnh vực kinh tế không phải là lãnh vực trung dung về đạo lý, cũng không phải tự mình là những gì phi nhân bản và chông lại xã hội. Nó thuộc về và là một phần của hoạt động con người, và chính vì nó là những gì nhân bản, nó cần phải được cấu tạo và quản trị một cách đạo đức.

 

Thách đố cả thể trước mắt chúng ta, một thách đố nổi bật bởi những vấn đề về phát triển trong kỷ nguyên toàn cầu này và càng trở thành khẩn trương bởi cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính, đó là chứng tỏ cho thấy, trong ý nghĩ cũng như tác hành, chẳng những các nguyên tắc truyền thống về đạo lý xã hội như tính chất thanh liêm, chân thực và trách nhiêm là những gì không thể coi thường hay bị suy yếu đi, mà còn trong cả những liên hệ về thương mại, nguyên tắc nhưng không và lý lẽ ban tặng như là một thể hiện của tình huynh đệ cũng có thể và cần phải có chỗ đứng của mình trong hoạt động bình thường của kinh tế nữa. Đây là một đòi hỏi nhân bản vào lúc này đây, thế nhưng nó cũng là những gì lý lẽ của kinh tế đòi hỏi nữa. Nó là một đòi hỏi cả của bác ái và sự thật.

 

37.       Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội bao giờ cũng chủ trương rằng cần phải áp dụng công lý cho hết mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, vì điều này bao giờ cũng liên quan tới con người và các nhu cầu của họ. Việc định vị các thứ nguồn lợi, vấn đề tài chính, việc sản xuất, việc tiêu thụ cùng với tất cả mọi giai đoạn khác nơi chu kỳ của kinh tế đều chắc chắn bao hàm những gì về luân lý. Thế nên hết mọi quyết định về kinh tế đều có hậu quả về luân lý. Các khoa học về xã hội và chiều hướng của nền kinh tế hiện đại cũng nhắm đến cùng một kết luận ấy. Có thể vào một lúc nào đó người ta cho rằng trước hết việc kiến tạo nên sự giầu có có thể được trao phó cho nền kinh tế, và rồi công việc phân phối cái giầu có này có thể được ủy thác cho chính trị. Ngày nay vấn đề trở nên khó khăn hơn, ở chỗ hoạt động kinh tế không còn quanh quẩn trong những hạn hẹp về địa dư nữa, trong khi đó thẩm quyền của các chính phủ tiếp tục vẫn chính yếu có tính cách địa phương. Vì những qui tắc về công lý cần phải được tôn trọng từ đầu, trong khi tiến trình kinh tế triển khai, chứ không phải sau đó hay ngẫu nhiên tình cờ xẩy ra. Cũng cần phải tạo chỗ nơi thị trường cho hoạt động kinh tế được thi hành bởi những chủ thể muốn tự do tác hành theo các nguyên tắc không phải là những nguyên tắc thuần lợi lộc, mà không tác hại tới tiến trình sản xuất có giá trị về kinh tế. Nhiều thực thể về kinh tế đang rút tỉa được nguồn gốc của mình từ những khởi động tôn giáo và thế tục cho thấy rằng đây là những gì cụ thể khả dĩ.

 

Trong một kỷ nguyên toàn cầu này, nền kinh tế bị chi phối bởi những kiểu mẫu cạnh tranh dính liền với các nền văn hóa rất khác nhau. Những hình thức khác nhau của tổ chức kinh doanh kinh tế xuất hiện những kiểu mẫu cạnh tranh này tìm thấy điểm gặp gỡ chính yếu của mình nơi thứ công lý giao hoán. Sinh hoạt kinh tế thật sự đòi hỏi những thứ hợp đồng khế ước, để điều hành những mối liên hệ trao đổi giữa những sản vật có giá trị tương đương. Thế nhưng, nó cũng cần đến những luật lệ chính đáng và các hình thức tái phân phối bởi chính trị, mà hơn thế nữa, nó cần hoạt động tỏa ra một tinh thần ban tặng nữa. Nền kinh tế trong kỷ nguyên toàn cầu này dường như ưa thích cái lý lẽ trước, cái lý lẽ của sự trao đổi theo hợp đồng, thế nhưng, trực tiếp hay gián tiếp, nó cũng cho thấy nó cần đến hai lý lẽ khác nữa, đó là lý lẽ chính trị và lý lẽ của việc ban tặng nhưng không.

 

38.       Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II đã chú ý tới vấn đề này trong Thông Điệp Bách Niên của ngài, khi ngài nói về nhu cầu cần có một hệ thống có 3 chủ thể, đó là thị trường, Chính Quyền và xã hội dân sự [92]. Ngài đã thấy xã hội dân sự như là một môi trường tự nhiên nhất cho một nền kinh tế của sự nhưng không và tình huynh đệ, thế nhưng ngài không muốn xã hội dân sự này không có được một chỗ đứng ở hai môi trường kia. Ngày nay chúng ta có thể nói rằng sinh hoạt kinh tế cần phải được hiểu như là một hiện tượng có nhiều tầng lớp: ở hết mọi tầng lớp này, tùy theo các mức độ khác nhau và các đường lối xứng với từng tầng lớp một, khía cạnh về tính hỗ tương huynh đệ cần phải hiện hữu. Trong kỷ nguyên toàn cầu này, hoạt động kinh tế không thể không quan tâm tới tính chất nhưng không là tình chất nuôi dưỡng và làm truyền lan tình đoàn kết và trách nhiệm đối với công lý và công ích nơi những thành phần đóng các vai trò kinh tế khác nhau. Nó rõ ràng là một hình thức chuyên biệt và sâu xa của nền dân chủ về kinh tế. Tình đoàn kết trước hết và trên hết là cảm thức trách nhiệm về phía của mọi người liên quan tới mọi người [93], và vì thế nó không thể chỉ hoàn toàn ủy thác cho Chính Quyền. Trong quá khứ cho dù có thể lập luận rằng công lý phải có trước và sau đó mới tới tính chất nhưng không, như là một thứ bổ khuyết, ngày nay hiển nhiên cho thấy rằng nếu thiếu tính chất nhưng không thì trước hết không có công lý. Bởi vậy, điều cần thiết ở đây là một thứ công trường cho phép tự do hoạt động, với điều kiện có những cơ hội tương đương, có những thứ kinh doanh theo đuổi những mục đích khác nhau về tổ chức. Cùng với việc kinh doanh tư riêng tìm kiếm lợi lộc và những kiểu mẫu khác nhau của việc kinh doanh công cộng, cần phải có chỗ cho những thực thể về thương mại đặt nền tảng trên những nguyên tắc có tính cách hỗ tương và theo đuổi những mục đích về xã hội để hình thành và thể hiện chính mình. Chính từ cuộc gặp gỡ nhau này của chúng nơi công trường như thế mà người ta có thể mong đợi những hình thức pha trộn xẩy ra nơi tác hành thương mại và vì thế chú trọng tới những đường lối văn minh hóa kinh tế. Trong trường hợp này, bác ái trong chân lý đòi hỏi là cần phải cung cấp hình thể và cấu trúc cho những loại khởi động về kinh tế, những khởi động mà, không loại trừ lợi lộc, nhắm tới một mục tiêu cao cả hơn là thứ thuần lý lẽ của việc trao đổi những gì tương đương với nhau, trao đổi lợi lộc như nó chính là cùng đích vậy. 

 

39.       Đức Phaolô VI trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc đã kêu gọi việc kiến tạo nên một mẫu kinh tế thị trường có khả năng bao gồm trong phạm vi của mình tất cả mọi dân tộc chứ không nguyên các dân khá giả. Ngài đã kêu gọi hãy thực hiện các nỗ lực trong việc xây dựng một thế giới nhân bản hơn cho tất cả mọi người, một thế giới là nơi “tất cả mọi người đều có thể trao ban và nhận lãnh, chứ không phải là một nhóm nào đạt được tiến bộ bằng giá phải trả của nhóm kia” [94]. Theo đó, ngài đã áp dụng ở tầm cấp toàn cầu những minh thức và các ước vọng trong Thông Điệp Tân Sự – Rerum Novarum, một văn kiện được viết vào thời điểm cái ý nghĩ sau đây mới được dự phóng – dường như trước thời điểm của mình - như thành quả của một cuộc Cách Mạng về Kỹ Nghệ, đó là lãnh vực dân sự, đối với việc tự điều hành của mình, cũng cần đến việc can thiệp của Chính Quyền về vấn đề tái phân phối. Ngày nay quan niệm này chẳng những đã bị đe dọa bởi đường lối cởi mở của các thị trường và các xã hội, mà còn hiển nhiên cho thấy nó không đủ thỏa đáng những đòi hỏi của một nền kinh tế hoàn toàn nhân bản. Theo nhãn quan của mình về con người và xã hội, những gì giáo huấn về xã hội của Giáo Hội bao giờ cũng duy trì ngày nay đang được chứng thực bởi các động lực của việc toàn cầu hóa.

 

Khi cả lý lẽ về thị trường và lý lẽ về Chính Quyền theo cùng một chiều hướng là mỗi một bên vẫn cứ tiếp tục hành sử một thứ độc quyền nơi lãnh vực ảnh hưởng riêng biệt của mình, thì về lâu về dài sẽ bị mất mát đi rất nhiều, ở chỗ, tình đoàn kết trong các mối liên hệ giữa thành phần công dân, việc tham dự và gắn bó, những hành động nhưng không, tất cả đều tương phản với việc trao ban để chiếm đạt (thứ lý lẽ của trao đổi) và việc trao ban theo phận vụ (lý lẽ của trách nhiệm chung theo luật lệ của Chính Quyền). Để đánh bại tình trạng kém phát triển, cần phải thực hiện việc chẳng những cải tiến những giao dịch trao đổi và vun trồng những cấu trúc an sinh chung, nhưng nhất là vấn đề từ từ gia tăng việc cởi mở, trong một bối cảnh thế giới, đối với các hình thức của hoạt động kinh tế được đánh dấu bằng những gì là nhưng không và hiệp thông. Thứ kiểu mẫu chuyên nhất Nhà Nước kiêm thị trường có tính cách song phương là những gì làm soi mòn xã hội, vì các hình thức kinh tế đặt trên tình đoàn kết là những gì xây đắp xã hội, một tình đoàn kết cảm thấy tự nhiên như ở nhà nơi xã hội dân sự mà không bị hạn chế vào xã hội dân sự này. Cái thị trường có tính cách nhưng không này không hiện hữu, và những thái độ nhưng không không thể được luật lệ thiết lập. Tuy nhiên, cả thị trường và chính trị đều cần đến những cá nhân cởi mở trước việc trao tặng hỗ tương.

 

40.       Cảnh tượng của nền kinh tế quốc tế ngày nay, một nền kinh tế được đánh dấu bằng những sai lệch và thất bại trầm trọng, đòi phải có một đường lối hết sức mới mẻ của việc hiểu biết vấn đề kinh doanh thương mại. Những kiểu mẫu cũ đang biến đi, nhưng những kiểu mẫu mới hứa hẹn đang xuất hiện ở chân trời. Chắc chắn một điều đó là một trong những nguy cơ lớn nhất đối với các thứ thương mại là chúng hầu như hoàn toàn có thể đáp ứng cho thành phần đầu tư của mình, bởi thế hạn chế giá trị về xã hội của chúng. Vì vấn đề phát triển của chúng về tầm cấp cũng như vì nhu cầu cần phải thêm vốn liếng hơn nữa, mà càng ngày càng trở nên hiếm hoi đối với các ngành kinh doanh thương mại nằm ở trong tay của một vị giám đốc vững chắc, người cảm thấy hữu trách dài hạn, chứ không chỉ ngắn hạn, đối với việc sinh hoạt cùng với các thành quả của tổ chức kinh doanh mình, và càng ngày càng trở nên hiếm hoi đối với các thứ ngành thương mại lệ thuộc vào một khu vực duy nhất. Ngoài ra, cái gọi là phụ hợp đồng của tiến trình sản xuất có thể làm yếu kém cảm quan trách nhiệm của tổ chức kinh doanh này đối với thành phần chịu ảnh hưởng – tức là thành phần nhân viên, các cung cấp viên, các tiêu thụ viên, môi trường tự nhiên và xã hội bao rộng – mà thiên về thành phần được chia phần, thành phần không thắt buộc với một vùng địa dư đặc biệt này và vì thế là thành phần được đặc biệt hoan hưởng việc di động. Thị trường vốn liếng quốc tế ngày nay đang cống hiến nhiều tự do hoạt động. Tuy nhiên, cũng đang gia tăng ý thức về nhu cầu cần phải có trách nhiệm xã hội hơn nữa về phía việc thương mại. Ngay cả những quan tâm về đạo lý là những gì đang có vấn đề tranh cải liên quan tới trách nhiệm xã hội của thế giới tổ hợp cũng không phải tất cả đều khả chấp theo quan điểm giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, tuy nhiên, đang gia tăng một niềm xác tín là việc quản trị thương mại không thể chỉ tỏ ra quan tâm tới những lợi ích của thành phần sở hữu chủ, mà còn phải lãnh trách nhiệm đối với tất cả mọi thành phần chịu ảnh hưởng khác nữa, thành phần góp phần vào việc sinh hoạt của thương mại: như các nhân viên, các thân chủ, các cung cấp viên cho những yếu tố sản xuất khác nhau, cộng đồng tham vấn. Trong những năm gần đây, một loại quản trị viên toàn cầu mới xuất hiện, thành phần thường chỉ đáp ứng đối với những ai chia phần ở chỗ nói chung có những quĩ ẩn danh là những gì thực tế quyết định thù lao của họ. Thế nhưng, ngược lại, nhiều quản trị viên nhìn xa trông rộng ngày nay đang càng ngày càng ý thức về những thứ liên hệ sâu xa giữa việc kinh doanh của họ với địa hạt hay những địa hạt hoạt động của mình. Đức Phaolô VI đã kêu mời dân chúng hãy nghiêm chỉnh chú ý tới sự tàn hại có thể xẩy đến cho xứ sở nhà của người ta nơi việc chuyển ra nước ngoài vốn liếng hoàn toàn vì lợi ích riêng tư [95]. Đức Gioan Phaolô II dạy rằng việc đầu tư bao giờ cũng có tính cách luân lý cũng như kinh tế [96]. Tất cả những điều này – cần phải nhấn mạnh là – ngày nay vẫn còn hiệu nghiệm, mặc dù sự kiện thị trường vốn liếng đã được tự do rất nhiều, và ý nghĩ tân tiến về kỹ thuật có thể cho thấy rằng việc đầu tư chỉ thuần túy là một tác động về kỹ thuật, chứ không phải là một tác động về nhân bản và đạo lý. Có lý do để phủ nhận rằng một số lượng vốn liếng nào đó có thể mang lại lợi ích, nếu được đầu tư ở nước ngoài hơn là ở quốc nội. Tuy nhiên, cần phải bảo toàn những đòi hỏi về công lý, khi tỏ ra quan tâm thích đáng tới đường lối sinh lợi cái vốn liếng ấy cùng với tại hại gây ra cho những cá nhân phải gánh chịu nếu cái vốn liếng này không được sử dụng ở nơi nó gặt hại [97]. Những gì cần phải tránh né đó là việc sử dụng đầu cơ tích trữ các nguồn tài chính theo chiều hướng chỉ tìm kiếm lợi lộc ngắn hạn, không lưu ý gì tới khả năng duy trì dài hạn của việc kinh doanh, lợi ích của nó cho nền kinh tế thực sự cùng chú ý tới vấn đề thăng tiến, bằng những đường lối thích hợp và thích đáng, của những khởi động về kinh tế khác trong những xứ sở cần phát triển. Sự thực thì việc xuất cảng những thứ đầu tư và khả năng có thể mang lại lợi ích cho thành phần dân chúng của xứ sở nhận được những thứ đầu tư và khả năng này. Lao cộng và kiến thức về kỹ thuật là một sản vật phổ quát. Tuy nhiên, vấn đề không đúng khi xuất cảng những thứ này hoàn toàn vì muốn đạt được những điều kiện thiện lợi, hay tệ hơn nữa, vì để khai thác, không góp phần vào xã hội địa phương bằng việc giúp mang lại một hệ thống sản xuất và xã hội kiên cường, một yếu tố thiết yếu cho vấn đề phát triển vững chắc.

 

41.       Trong bối cảnh của việc bàn luận này, cần nhận định rằng việc kinh doanh thương mại bao gồm một chuỗi bao rộng các thứ giá trị, trở nên rộng lớn hơn ở mọi lúc. Quyền bá chủ liên tục của kiểu song phương Nhà Nước kiêm thương mại đã khiến chúng ta chỉ quen nghĩ đến một mặt là thành phần lãnh đạo ngành thương mại riêng tư theo chiều hướng tư bản và một mặt là thành phần giám đốc của Nhà Nước. Trên thực tế, vấn đề thương mại cần phải được hiểu một cách liên kết với nhau. Có một số lý do, một thứ siêu kinh tế, nói được là như thế. Hoạt động thương mại có một ý nghĩa nhân bản, trước cả ý nghĩa chuyên môn của nó [98]. Nó hiện diện nơi tất cả mọi công việc, được hiểu như là một hành động riêng tư, một “actus personae” [99], một hành động là lý do tại sao hết mọi công nhân cần phải có cơ hội để thực hiện việc góp phần của mình, với ý thức là một cách nào đó “họ đang làm việc cho ‘chính họ’” [100]. Đức Phaolô đã có lý để dạy rằng “hết mọi người làm việc đều là một hóa công” [101]. Chính vì để đáp ứng cho các nhu cầu và phẩm vị của công nhân, cũng như các nhu cầu của xã hội, mới có những loại kinh doanh thương mại khác nhau, không phải chỉ đơn thuần phân biệt giữa “riêng tư” và “công cộng”. Mỗi loại kinh doanh thương mại này đòi hỏi và thể hiện một khả năng thương mại đặc biệt. Để kiến tạo một nền kinh tế sớm đóng vai trò phục vụ công ích của quốc gia và thế giới, cần phải chú ý tới ý nghĩa bao rộng hơn này của hoạt động thương mại. Nó thiên về việc làm phong phú giữa những loại khác nhau của hoạt động thương mại, bằng việc xoay chuyển các thứ khả năng từ thế giới “vô vị lợi” sang thế giới “vụ lợi” hay ngược lại, từ thế giới công sang xã hội dân sự, từ các nền kinh tế tân tiến sang các quốc gia đang phát triển.

 

“Thẩm quyền chính trị” cũng bao gồm một loạt bao rộng các thứ giá trị, những thứ giá trị không được coi thường trong tiến trình kiến tạo nên một lãnh vực mới của vấn đề sản xuất về kinh tế, một vấn đề sản xuất hữu trách và nhân bản về xã hội theo cấp độ. Và trong việc vun trồng các hình thức khác nhau của hoạt động thương mại ở tầm câá toàn cầu, chúng ta cũng cần phải cổ võ một thứ thẩm quyền chính trị phân tán, có công hiệu ở những mức độ khác nhau. Nền kinh tế hội nhập ngày nay không làm cho vai trò của Nhà Nước trở thành dư thừa, trái lại, nó ủy thác cho các chính quyền việc hợp tác với nhau nhiều hơn nữa. Cả sự khôn ngoan lẫn thận trọng đều cho thấy rằng đừng quá cứng ngắc trong vấn đề tuyên bố về việc chuyển nhượng của Nhà Nước. Về vấn đề giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay, vai trò của Nhà Nước dường như gia tăng hơn, khi nó lấy lại nhiều quyền năng của mình. Ngoài ra, ở một số quốc gia, việc kiến trúc và tái kiến trúc của Nhà Nước vẫn là một yếu tố chính yếu trong việc phát triển của những quốc gia ấy. Việc tập trung vào vấn đề trợ giúp quốc tế, theo dự án của tình đoàn kết để giải quyết các vấn đề kinh tế ngày nay, cần phải củng cố các hệ thống cơ cấu, pháp lý và quản trị ở những xứ sở chưa hoàn toàn hoan hưởng những thứ sản vật ấy. Song song với việc trợ giúp về kinh tế, cần phải có những trợ giúp hướng tới việc củng cố những bảo đảm thích đáng với State of law, tức là với một hệ thống của lãnh vực công cộng cùng với hình phạt hiệu lực tỏ ra tôn trọng các thứ nhân quyền, tôn trọng những tổ chức thực sự dân chủ. Nhà Nước không cần có những đặc tính đồng nhất ở mọi nơi: việc nâng đỡ nhắm đến chỗ củng cố các hệ thống tổ chức yếu kém có thể dễ dàng được kèm theo bởi việc phát triển của những vai trò chính trị khác, có một bản chất văn hóa, xã hội, lãnh thổ và tôn giáo, song song với Nhà Nước. Việc ăn khớp với nhau của thẩm quyền chính trị ở những tầm cấp địa phương, quốc gia và quốc tế là một trong những đường lối hay nhất trong việc cống hiến hướng đi của tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế. Nó cũng là đường lối để bảo đảm rằng nó không thực sự làm tiêu hao đi các nền tảng của nền dân chủ.

 

42.       Đôi khi vấn đề toàn cầu hóa được thấy một cách định mệnh tính, như thể các động lực liên quan tới nó là sản phẩm của những lực lượng bâng quơ vô danh hay là những cấu trúc không lệ thuộc vào ý muốn của con người [102]. Về vấn đề này nên nhớ rằng nếu việc toàn cầu hóa thực sự cần được hiểu như là một tiến trình kinh tế xã hội, thì đây không phải là chiều kích duy nhất của nó. Ở bên dưới cái tiến trình hiển hiện hơn ấy thí chính nhân loại lại đang càng ngày càng trở nên tương liên hơn nữa; nó được làm nên bởi các cá nhân con người và chư dân là những thành phần nhận được những thiện ích và phát triển được cống hiến bởi tiến trình ấy [103], khi họ nhận lãnh trách nhiệm của mình một cách cá thể cũng như tổng thể. Việc phân chia ranh giới không phải chỉ là một sự kiện về vật chất: nó cũng là một biến cố về văn hóa ở cả căn nguyên của nó lẫn tác dụng của nó. Nếu vấn đề toàn cầu hóa được nhìn theo một quan điểm định thuyết thì qui chuẩn được dùng để thẩm lượng và hướng dẫn nó không còn nữa. Như là một thực tại nhân bản, nó là sản phẩm của các khuynh hướng khác nhau về văn hóa, những khuynh hướng cần phải được tùy thuộc vào một tiến trình của sự nhận thức. Sự thật về vấn đề toàn cầu hóa như là một tiến trình và tiêu chuẩn về đạo lý căn bản của nó là những gì được cống hiến cho từ mối hiệp nhất của gia đình nhân loại cùng với việc phát triển của gia đình này hướng tới những gì thiện hảo. Bởi thế cần phải bền bỉ dấn thân trong việc cổ võ một tiến trình hội nhập toàn cầu hướng về siêu việt thể lấy căn bản là con người và hướng về cộng đồng.

 

Bất chấp một số những yếu tổ cấu trúc của mình, những yếu tố không được chối bỏ cũng như không được phóng đại, “vấn đề toàn cầu hóa, trước hết, không tốt cũng chẳng xấu. Nó sẽ là những gì con người sử dụng nó” [104]. Chúng ta không được là thành phần nạn nhân của nó, trái lại, là những chủ đạo viên của nó, tác hành theo ánh sáng của lý trí trong bác ái và chân lý. Việc mù quáng chống đối sẽ là một thái độ lầm lẫn và theo thành kiến, không thể nhận thấy các khía cạnh tích cực của tiến trình này, mà hậu quả nguy hiểm đó là mất đi cơ hội trong việc lợi dụng nhiều cơ hội của nó đối với việc phát triển. Những tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và hướng dẫn cách thích đáng, là những gì hướng tới một tiềm năng chưa hề thấy của việc tái phân phối một cách sâu rộng sự phong phú ở tầm cấp toàn cầu; tuy nhiên, nếu được hướng dẫn một cách tai hại thì chúng có thể dẫn đến tình trạng gia tăng nghèo khổ và chênh lệch, và thậm chí có thể gây ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu. Cần phải điều chỉnh những thứ trục trặc, mà một số những trục trặc này có tính cách trầm trọng, đang gây ra những thứ chia rẽ mới giữa các dân tộc và trong các dân tộc, cũng như cần phải bảo đảm là việc tái phân phối sự phong phú không xẩy ra bằng việc tái phân phối hay gia tăng tình trạng nghèo khổ: một thứ nguy hiểm thực sự nếu tình hình hiện nay bị quản trị một cách tệ hại. Qua một thời gian dài người ta nghĩ rằng các dân tộc nghèo khổ cần phải ở nguyên một chỗ giai đoạn phát triển và bằng lòng lãnh nhận trợ giúp nhân đạo từ các dân tộc phát triển. Đức Phaolô đã mãnh liệt chống lại tâm thức này trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc. Ngày nay, những nguồn lợi về vật chất sẵn có cho việc phục hồi các dân tộc này khỏi cảnh nghèo khổ đang có khả năng nhiều hơn trước đây, thế nhưng họ phần lớn lại rơi vào tay của dân chúng thuộc các xứ sở phát triển, thành phần được hưởng lợi hơn từ việc giải phóng hóa đã xẩy ra nơi việc di động về vốn liếng và lao công. Việc lan truyền khắp thế giới những hình thức thịnh đạt, bởi thế, không được cố thủ bằng những dự án qui kỷ, bảo vệ hay phục vụ những lợi lộc riêng tư. Thật vậy, việc tham gia của các xứ sở đang lên hay đang phát triển là những gì giúp chúng ta có thể giải quyết khá hơn cuộc khủng hoảng ngày nay. Việc chuyển giao được chất chứa nơi tiến trình toàn cầu hóa cho thấy những khó khăn và nguy hiểm lớn lao là những gì chỉ có thể thắng vượt nếu chúng ta có được cái tinh thần nhân loại học và đạo lý học cốt yếu điều hướng vấn đề toàn cầu hóa tới mục tiêu nhân bản hóa của tình đoàn kết. Tiếc thay, tinh thần này thường bị áp đảo hay đè nén bởi những quan tâm về đạo lý và văn hóa có tính chất vị kỷ và thực dụng. Việc toàn cầu hóa là một hiện tượng đa diện và phức tạp cần phải nắm bắt về tính chất đa diện và hiệp nhất của tất cả mọi khía cạnh khác nhau, bao gồm cả chiều kích thần học. Nhờ đó mới có thể cảm nghiệm và lèo lái việc toàn cầu hóa của nhân loại một cách hữu lý, một cách hiệp thông và chia sẻ các thứ sản vật.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/encyclicals/documents/hf_ben-xvi_enc_20090629_caritas-in-veritate_en.html

(nhöõng choã ñöôïc in ñaäm leân laø do töï yù cuûa ngöôøi dòch trong vieäc laøm noåi baät nhöõng ñieåm chính yeáu quan troïng)