Thông Điệp

 

Caritas In Veritate – Yêu Thương Trong Sự Thật

 

của

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI

 

Dẫn Nhập

 

Chương 1: Sứ Điệp của Thông Điệp về Việc Phát Triển của Các Dân Tộc

 

Chương 2: Việc Phát Triển của Con Người trong Thời Đại của Chúng Ta

 

Chương 3: Tình Huynh Đệ, Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế và Xã Hội Dân Sự

 

Chương 4: Việc Phát Triển của Con Người, Các Quyền Lợi và Nghĩa Vụ, Môi Trường

 

Chương 5: Việc Hợp Tác của Gia Đình Nhân Loại

 

Kết Luận

 

 

Chương Sáu

Việc Phát Triển của Chư Dân và Vấn Đề Kỹ Thuật

 

68.       Việc phát triển của các dân tộc là những gì sâu xa gắn liền với việc phát triển của những con người cá nhân. Tự bản tính con người là thành phần chủ động tham gia vào việc phát triển của mình. Việc phát triển được đề cập đến ở đây không phải chỉ là thành quả của những đường lối tự nhiên, vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta có thể thực hiện những quyết định tự do và hữu trách. Nó cũng không phải chỉ do chúng ta bốc đồng lên mà có, vì tất cả chúng ta đều biết rằng chúng ta là một tặng ân chứ không phải là một cái gì đó tự xuất phát. Tự do của chúng ta được sâu xa hình thành bởi hữu thể của chúng ta cùng với sự hữu hạn của nó. Không ai có thể  tùy nghi khuôn đúc lương tâm của mình, thế nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng “cái tôi” của mình trên căn bản một “con người” được ban cho chúng ta. Chẳng những các người khác ở ngoài tầm kiểm soát của chúng ta mà mỗi người chúng ta cũng ở ngoài tầm làm chủ của chính mình nữa. Việc phát triển của con người sẽ bị tổn hại nếu họ cho rằng họ tự mình phải làm nên những gì họ trở thành. Tương tự như thế, việc phát triển của các dân tộc trở thành thiên lệch nếu nhân loại nghĩ rằng mình có thể tự tái tạo nên mình bằng những “cái kỳ diệu” của kỹ thuật, như việc phát triển về kinh tế hiện lên như là một thứ giả tạo có tính cách hủy hoại nếu nó cậy dựa vào “những thứ kỳ lạ” của tiền tệ để bảo trì sự tăng trưởng gượng ép và duy hưởng thụ. Trước một thứ giả tưởng có tính cách đánh cắp này, chúng ta cần phải củng cố tình yêu thương của chúng ta cho một thứ tự do không phải chỉ là những gì tùy nghi mà là những gì được qui cho tính chất thực sự nhân bản nhờ nhận thức được sự thiện chất chứa nó.  Để đạt được mục đích này, con người cần phải nhìn vào bản thân mình để nhận thấy những qui chuẩn căn bản của luật luân lý tự nhiên mà Thiên Chúa đã in ấn nơi tâm can của chúng ta.

69.       Cái thách đố của việc phát triển ngày nay liên hệ chặt chẽ với sự tiến bộ về kỹ thuật, với những ứng dụng cả thể của nó nơi ngành sinh vật học. Kỹ thuật – đáng được nhấn mạnh – là một thực tại sâu xa của con người, gắn liền với quyền tự động và tự do của con người. Qua kỹ thuật, chúng ta thể hiện và khẳng định quyền lãnh đạo của tinh thần trên vật chất. “Tinh thần của con người, ‘càng ngày càng thoát khỏi tình trạng nô lệ của mình nơi các tạo vật, có thể dễ dàng vươn tới việc tôn thờ và chiêm ngưỡng Đấng Hóa Công’” [150]. Kỹ thuật giúp chúng ta có thể thực thi quyền thống trị trên vật chất, giảm bớt những nguy cơ, đỡ vất vả khó nhọc, cải tiến những điều kiện sống của chúng ta. Nó chạm tới cốt lõi ơn gọi lao động của con người: nơi kỹ thuật, được thấy như là sản phẩm thiên tài của mình, con người nhận ra bản thân mình và khuôn đúc nhân tính của mình. Kỹ thuật là phần khách quan của hành động con người [151], một hành động có nguồn gốc và nguyên do nơi yếu tổ chủ quan đó là chính con người làm việc. Vì thế, kỹ thuật không bao giờ chỉ là kỹ thuật. Nó tỏ hiện con người cùng với các ước vọng của con người đối với việc phát triển, nó cho thấy cái căng thẳng nội tại thôi thúc họ từ từ thắng vượt những giới hạn của vật chất. Kỹ thuật, theo chiều hướng này, là một thứ đáp ứng mệnh lệnh của Thiên Chúa trong việc canh tác và gìn giữ đất đai (cf Gen 2:15) là những gì Ngài đã trao phó cho nhân loại, và nó cần phải giúp vào việc củng cố giao ước giữa nhân loại và môi trường, một giao ước cần phải phản ảnh tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa.

 

70.       Việc phát triển về kỹ thuật có thể làm nẩy lên ý nghĩ kỹ thuật là những gì tự mãn khi chú trọng quá nhiều tới những vấn đề “cách nào” mà không chú trọng đủ tới các vấn đề “tại sao” nơi hoạt động của con người. Vì thế, kỹ thuật có thể trở thành vừa đáng yêu lại đáng ghét. Được tạo nên nhờ óc sáng tạo của con người như là một dụng cụ của quyền tự do con người, kỹ thuật có thể được hiểu như là một thứ biểu lộ cái quyền tự do tuyệt đối, thứ quyền tự do tìm cách gạt ra ngoài những giới hạn vốn có nơi các sự vật. Tiến trình của việc toàn cầu hóa có thể thay thế những ý hệ bằng kỹ thuật [152], khi để cho kỹ thuật trở thành một thứ quyền năng của ý hệ có thể giam giữ chúng ta trong một tiền thức ghì chúng ta lại không cho đối đầu với hữu thể và chân lý. Nếu xầy ra như thế, tất cả chúng ta đều hiểu biết, thẩm định và quyết định về những hoàn cảnh sống của chúng ta từ bên trong một viễn tượng về văn hóa nặng về kỹ thuật mà chúng ta thuộc về một cách đóng khung, không thể khám phá ra một thứ ý nghĩa không từ chúng ta mà có. Thứ vũ trụ quan “về kỹ thuật” xuất phát từ nhãn quan ấy giờ đây trở nên quá chủ yếu tới độ sự thật tiến đến chỗ được thấy như trùng hợp với cái khả thể. Thế nhưng, khi mà qui chuẩn duy nhất của chân lý là tính cách hiệu năng và thực dụng thì việc phát triển tự động bị chối bỏ. Việc phát triển thực sự chính yếu không phải ở chỗ “làm”. Cái then chốt cho việc phát triển là một trí khôn có thể nghĩ bằng những kiểu cách kỹ thuật và nắm bắt được tất cả ý nghĩa nhân bản của các hoạt động con người, trong phạm vi của thứ ý nghĩa toàn diện về hữu thể của cá nhân con người. Ngay cả khi chúng ta làm việc qua những thứ vệ tinh hay qua những viễn lực điện tử, thì các hoạt động của chúng ta bao giờ cũng vẫn là hành động con người, một thứ thể hiện quyền tự do hữu trách của chúng ta. Kỹ thuật là những gì có sức thu hút cao vì nó kéo chúng ta ra khỏi những giới hạn thể lý của chúng ta và nới rộng chân trời của chúng ta. Thế nhưng, tự do của con người đích thực chỉ khi nào nó đáp ứng với tính cách lạ lùng của kỹ thuật bằng những quyết định là hoa trái của trách nhiệm luân lý. Vì thế, rất cần phải được huấn luyện về việc sử dụng kỹ thuật một cách hữu trách theo đạo lý. Chúng ta cần phải lấy lại ý nghĩa đích thực của tự do vượt ra ngoài tính chất mê hoặc gây ra bởi kỹ thuật, thứ tự do không phải là một loại quay cuồng với việc hoàn toàn tự động mà là một thứ đáp ứng tiếng gọi hiện hữu, được bắt đầu từ nơi hữu thể riêng của chúng ta.

 

71.       Sự lệch lạc khỏi các nguyên tắc nhân bản vững chắc này mà một quan niệm về kỹ thuật có thể sản xuất ra ngày nay được thấy ở một số những áp dụng về kỹ thuật trong các lãnh vực về phát triển và hòa bình. Việc phát triển của các dân tộc thường được coi như là một vấn đề về việc điều hành tiền tệ, việc tự do cạnh tranh thị trường, việc loại trừ đi các thứ thuế nhập khẩu, việc đầu tư vào vấn đề sản xuất, và những thứ canh tân về cơ cấu tổ chức – tắt một lời là một vấn đề thuần về kỹ thuật. Tất cả những điều ấy đều rất quan trọng, thế nhưng chúng ta phải hỏi rằng tại sao những chọn lựa về kỹ thuật đã diễn tiến như thế mà lại thu gặt được những thành quả pha trộn. Chúng ta cần nghĩ kỹ hơn về căn nguyên của nó. Vấn đề phát triển sẽ không bao giờ hoàn toàn được bảo đảm bằng các năng lực tự động hay vô ngã, dù những năng lực này xuất phát từ thị trường hay từ chính trị quốc tế. Không thể nào có vấn đề phát triển nếu thiếu những con người nam nữ chính trực ngay thẳng, thiếu những nhà tài chính và các chính trị gia có lương tâm hướng chiều theo những đòi hỏi của công ích. Cả khả năng chuyên nghiệp lẫn tính chất nhất trí về luân lý đều cần thiết. Khi kỹ thuật được dịp qua mặt thì hậu quả sẽ là tình trạng lẫn lộn giữa cùng đích và phương tiện, tới độ qui chuẩn duy nhất để tác hành nơi vấn đề thương mại được nghĩ là làm sao gia tăng tối đa lợi lộc, nơi chính trị là vấn đề củng cố quyền lực, và nơi khoa học là vấn đề thực hiện các việc tìm kiếm nghiên cứu. Bên dưới những thứ rối rít của các thứ tương liên về kinh tế, tài chính và chính trị, thường vẫn còn những thứ hiểu lầm, khó nhọc và bất công. Trào lưu về thứ kỹ thuật cách thức biết làm đang gia tăng, thế nhưng chính những ai sở hữu nó mới được lợi, trong khi đó, tình trạng của những dân tộc đang sống trong bóng tối của thứ kỹ thuật này vẫn không có gì đổi thay: vì họ ít có cơ hội giải phóng.

 

72.       Thậm chí ngay cả hòa bình cũng có thể bị coi như là một sản phẩm về kỹ thuật, chỉ là thành quả của những thỏa thuận giữa các chính quyền hay của những khởi động nhắm tới việc bảo đảm cho vấn đề viện trợ kinh tế tốt đẹp. Thật sự thì việc xây dựng hòa bình đòi phải liên lỉ tương tác về những liên hệ ngoại giao, về những trao đổi kinh tế, kỹ thuật và văn hóa, về những thỏa ước cho những dự phóng chung, cũng như về những sách lược chung trong việc kiềm chế mối đe dọa của tình trạng xung đột về quân sự và trong việc loại trừ đi những nguyên nhân sâu xa của nạn khủng bố. Tuy nhiên, để cho những nỗ lực như thế có những tác dụng lâu dài, chúng cần phải dựa trên những giá trị được bắt nguồn từ sự thật về đời sống của con người. Tức là, tiếng nói của các dân tộc bị ảnh hưởng cần phải được lắng nghe và các tình trạng của họ cần phải được quan tâm tới, nếu những niềm mong đợi của họ được hiểu một cách đúng đắn. Người ta có thể nói cần phải nương theo với những nỗ lực không ai biết tới của rất nhiều cá nhân hết sức dấn thân để kéo các dân tộc lại với nhau cũng như để làm cho dễ dàng hơn việc phát triển có nền tảng yêu thương và tương kiến. Trong số thành phần dấn thân này có các phần tử của tín hữu Kitô giáo, thành phần đã tham gia vào công việc cao cả này để bảo tồn chiều kích trọn vẹn nhân bản của vấn đề phát triển và hòa bình.

 

73.       Liên hệ tới vấn đề phát triển về kỹ thuật là sự hiện diện tràn lan mỗi ngày một gia tăng của các phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay hầu như không thể nào tưởng tượng nổi đời sống của gia đình nhân loại mà lại thiếu chúng. Dù lợi hơn hay hại hơn, chúng cũng trở thành một yếu tố của cuộc sống ngày nay đến nỗi thật là ngu xuẩn để chủ trương rằng chúng là những gì trung dung – và vì thế không bị chi phối bởi các quan tâm về luân lý liên quan tới dân chúng. Những cái nhìn nhấn mạnh tới bản chất hết sức kỹ thuật của truyền thông đại chúng như thế thường hiệu nghiệm phụ giúp cho các lợi lộc kinh tế muốn làm chủ thị trường, mà còn cho cả những nỗ lực áp đặt những kiểu mẫu văn hóa phục vụ cho những hoạt động ý hệ và chính trị.  Nếu tầm quan trọng nồng cốt của vấn đề phương tiện truyền thông đại chúng đang tìm cánh thay đổi về thái độ đối với thực tại và con người, thì chúng ta cần phải cẩn thận suy nghĩ tới ảnh hưởng của chúng, nhất là liên quan tới chiều kích văn hóa đạo lý của việc toàn cầu hóa cũng như của việc phát triển chư dân trong tình đoàn kết. Việc phản ảnh những gì cần phải có một đường lối có tính cách đạo lý cho vấn đề toàn cầu hóa và phát triển mà cả ý nghĩa lẫn mục đích của vấn đề phương tiện truyền thông đại chúng cần phải được tìm kiếm trong một viễn tượng về nhân loại học. Điều này có nghĩa là chúng có thể có một tác dụng văn minh hóa chẳng những chỉ khi nào, nhờ việc phát triển về kỹ thuật, chúng gia tăng những cơ hội truyền đạt tín liệu, nhưng trên hết khi chúng hướng tới một nhãn quan về con người và công ích phản ảnh những giá trị phổ quát thực sự. Chỉ vì những việc truyền đạt về xã hội làm gia tăng các cơ hội của việc tương liên và truyền bá các tư tưởng mà lại không có vấn đề chúng cổ võ tự do hay quốc tế hóa vấn đề phát triển và nền dân chủ cho tất cả mọi người. Để đạt được các mục đích thuộc loại này, chúng cần nhắm tới việc cổ võ phẩm giá của con người và của các dân tộc, chúng cần phải được minh nhiên tác động bởi bác ái và phục vụ chân lý, sự thiện cũng như tình huynh dệ tự nhiên cũng như siêu nhiên. Thật vậy, tự do của con người là những gì tự bản chất gắn liền với những giá trị cao cả này. Phương tiện truyền thông đại chúng có thể thực hiện việc đóng góp quan trọng cho việc gia tăng mối hiệp thông của gia đình nhân loại cũng như nét đặc trưng của xã hội khi chúng được sử dụng để cổ võ việc tham dự toàn cầu vào việc tìm kiếm chung cho những gì là chính đáng.

 

74.       Một trận chiến quyết liệt đặc biệt trong cuộc đối chọi về văn hóa ngày nay giữa vai trò chủ chốt của kỹ thuật và trách nhiệm luân lý của con người đó là lãnh vực đạo lý sinh học, một lãnh vực mà chính cơ hội của việc phát triển toàn vẹn con người đang gặp trục trặc trầm trọng. Ở lãnh vực rất tế nhị và nguy kịch này, vấn đề nồng cốt rõ ràng hiện lên cho thấy là phải chăng con người là sản phẩm bởi công khó của họ hay họ lệ thuộc vào Thiên Chúa? Những khám phá khoa học nơi lãnh vực này và những cơ hội của việc phát minh kỹ thuật dường như rất thuận lợi để bắt phải chọn lựa giữa hai loại luận lý: một là lý lẽ hướng về siêu việt thể hai là lý lẽ khép kín ở nội tại. Chúng ta được trình bày với một thứ chọn lựa rõ ràng là chẳng này cũng không nọ. Tuy nhiên, cái lý lẽ của một thứ sử dụng kỹ thuật qui ngã cho thấy là những gì phi lý vì nó bao hàm một thứ dứt khoát loại trừ đi ý nghĩa và giá trị. Không phải là trùng hợp nơi việc khép mình trước siêu việt thể khiến con người không tránh khỏi phải đối diện với một vấn đề khó khăn, đó là, vấn đề làm thế nào lại xẩy ra chuyện hiện hữu xuất phát từ vô hữu, làm thế nào lý trí lại xuất phát từ ngẫu nhiên tình cờ chứ? [153] Đối diện với những vấn đề khốc liệt này, lý trí và đức tin có thể trợ giúp lẫn nhau. Chỉ khi nào cùng nhau chúng mới có thể cứu được con người. Được dẫn nhập bằng một thứ cậy dựa hoàn toàn vào kỹ thuật, lý tri phi đức tin bị chới với trong một ảo tưởng về quyền toàn năng của mình. Đức tin phi lý trí có cơ nguy bị tách ra khỏi cuộc sống thường nhật [154].

 

75.       Đức Phaolô VI đã nhận thấy và kéo chú ý tới chiều kích toàn cầu của vấn đề xã hội này [155]. Theo bước đường của ngài, ngày nay chúng ta cần khẳng định rằng vấn đề xã hội này đã trở thành một vấn đề hoàn toàn về nhân loại học, ở chỗ là nó quan tâm chẳng những sự sống được thụ thai ra sao mà còn nó bị mạo dụng thế nào, khi kỹ thuật sinh học càng ngày càng đặt nó ở dưới quyền kiểm soát của con người. Việc thụ thai trong ống nghiệm, việc nghiên cứu phôi thai bào, tiềm năng chế tạo các thứ tạo sinh sao bản và lai giống con người: tất cả những điều này giờ đây đang vươn lên và đang được cổ võ nơi thứ văn hóa hết sức vỡ mộng ngày nay, thứ văn hóa tin rằng nó từng làm chủ hết mọi nhiệm mầu, vì nguồn gốc của sự sống hiện nay ở trong tay chúng ta. Ở đây chúng ta thấy cái bộc lộ tỏ tường nhất về tính chất chủ chốt của kỹ thuật. Trong thứ văn hóa này, lương tâm chỉ được mời gọi để ghi nhận những khả năng của kỹ thuật. Tuy nhiên, chúng ta không được coi thường đặt nhẹ những viễn tượng đáng ngại đang đe dọa tương lai của chúng ta, hay những dụng cụ mãnh liệt mới mẻ đang ở trong tay của “nền văn hóa sự chết”. Chúng ta trong tương lai rất có thể phải thêm vào nạn phá thai thê thảm và tràn lan hiện nay chương trình cải giống có phương pháp của việc sinh sản – mà thật sự nó đang hiện diện một cách rụt rè lén lút. Thêm vào đó, một tâm thức ủng hộ vấn đề triệt sinh an tử đang tìm cách xâm nhập như một thứ chủ trương tàn phá không kém của việc kiểm soát sự sống ở trong một số trường hợp dường như không đáng sống nữa. Nằm ở bên dưới những viễn cảnh này là các quan điểm về văn hóa chối bỏ phẩm giá của con người. Những việc thực hành này lại nuôi dưỡng một thứ kiến thức duy vật và máy móc về sự sống con người. Ai có thể đo lường được những tác dụng tiêu cực của loại tâm thức về phát triển này? Làm sao chúng ta lại ngỡ ngàng trước cái lãnh đạm dửng dưng tỏ ra đối với những tình trạng hạ giá con người, khi việc dửng dưng lạnh lùng này bao gồm thậm chí cả thái độ của chúng ta đối với những gì con người là hay không là? Kinh hoàng biết bao cho cái chuyên chế và quyết định chọn lựa về những gì ngày nay cổ võ như đáng tôn trọng?  Những vấn đề tầm thường được coi là ghê tởm, thế mà những thứ bất công chưa từng có dường như được nhân nhượng một cách rộng rãi. Trong khi người nghèo trên thế giới tiếp tục gõ cửa người giầu, thì thế giới thịnh vượng lại có nguy cơ không còn nghe thấy những tiếng gõ cửa ấy, vị một lương tâm không còn phân biệt được những gì là con người nữa. Thiên Chúa tỏ cho con người biết bản thân họ, lý trí và đức tin sát cánh hoạt động để tỏ cho chúng ta thấy những gì là thiện hảo, nếu chúng ta muốn thấy nó; lề luật tự nhiên, trong đó Lý Trí sáng tạo chiếu giãi, tỏ cho thấy cái cao cả của chúng ta, mà còn cả cái yếu hèn của chúng ta nữa, vì chúng ta không nhận ra tiếng gọi sống sự thật luân lý.

 

76.       Một khía cạnh của tâm thức về kỹ thuật hiện đại đó là khuynh hướng coi những vấn đề và những cảm xúc của đời sống nội tâm từ quan điểm thuần tâm lý, thậm chí cho tới quan điểm suy yếu về thần kinh. Như thế thì nội tâm của con người bị mất đi hết ý nghĩa của nó và từ từ chúng ta không còn nhận thức được chiều sâu bản thể của linh hồn con người bị mất đi như được các thánh nhân cảm nghiệm. Vấn đề phát triển được liên kết chặt chẽ với việc chúng ta hiểu biết về linh hồn con người, vì chúng ta thường giảm thiểu bản thân thành tâm thần và lẫn lộn sinh lực của linh hồn với tình trạng lành mạnh về cảm xúc. Những thứ đơn giản hóa thái quá này xuất phát từ một tình trạng hoàn toàn không hiểu gì về đời sống tâm linh, và chúng làm lu mờ đi sự kiện là việc phát triển của các cá nhân con người và các dân tộc một phần lệ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề có tính chất thiêng liêng. Việc phát triển cần phải bao gồm chẳng những tình trạng tăng trưởng về vật chất mà còn về tinh thần nữa, vì con người là một “hiệp nhất của thân thể và linh hồn” [156], xuất phát từ tình yêu thương sáng tạo của Thiên Chúa và để cho sự sống đời đời. Nhân loại phát triển khi họ tăng trưởng về tinh thần, khi linh hồn họ tiến đến chỗ biết mình cùng với các sự thật được Thiên Chúa vun trồng sâu xa bên trong, khi họ đối thoại với chính mình và với Đấng Hóa Công của họ. Khi ở xa cách Thiên Chúa, con người sống bất ổn và dễ trở nên bệnh hoạn. Bệnh tâm thần về xã hội và tâm lý cùng nhiều chứng loạn chức năng thần kinh đang gây khốn đốn cho các xã hội thịnh vượng được qui một phần cho các yếu tố tâm linh. Một xã hội giầu thịnh, phát triển cao về những thứ vật chất nhưng lại đè nặng trên linh hồn, tự nó không dẫn tới việc phát triển đích thực. Những hình thức nô lệ mới cho thuốc phiện và thiếu thốn niềm hy vọng nơi nhiều người có thể được hiểu chẳng những theo những khía cạnh về xã hội học và tâm lý học mà còn thiết yếu theo những khía cạnh về tâm linh nữa. Tình trạng trống rỗng khiến linh hồn cảm thấy mình bị bỏ rơi, bất chấp việc sẵn có vô khối những thứ trị liệu cho thân xác và tâm thần, dẫn đến tình trạng khổ đau. Không thể nào có vấn đề hoàn toàn phát triển và công ích phổ quát trừ phi tình trạng phúc hạnh về tâm linh và luân lý được chú trọng, toàn thể con người gồm thân xác và linh hồn họ được lưu tâm.

 

77.       Cái thế thượng phong của kỹ thuật có khuynh hướng làm con người bị trở ngại trong việc nhìn thấy bất cứ những gì không thể giải thích được theo nguyên chất thể. Tuy nhiên, hết mọi người đều cảm nghiệm thấy nhiều chiều kích phi chất thể và linh thiêng trong đời sống. Biết không phải chỉ là một tác động về thể chất, vì đối tượng được biết đến bao giờ cũng che giấu một cái gì đó ở ngoài tầm vóc của kinh nghiệm. Tất cả kiến thức của chúng ta, thậm chí là thứ kiến thức đơn giản nhất, bao giờ cũng là một phép lạ nho nhỏ, vì nó không bao giờ hoàn toàn giải thích được nơi những dụng cụ về thể chất được chúng ta áp dụng vào nó. Ở nơi hết mọi sự thật có một cái gì đó còn hơn là những gì chúng ta trông đợi, trong yêu thương chúng ta lãnh nhận bao giờ cũng có một yếu tố làm cho chúng ta ngỡ ngàng. Chúng ta không bao giờ thôi cảm thấy lạ lùng trước những điều ấy. Nơi tất cả mọi kiến thức cũng như nơi hết mọi tác động yêu thương, linh hồn con người đều cảm nghiệm thấy một cái gì đó “vượt trên và ở trên”, một cái thật là giống như một tặng ân chúng ta lãnh nhận, hay một cao điểm chúng ta được nâng lên. Việc phát triển của các cá nhân và của các dân tộc cũng thế được đặt ở một cao độ, nếu chúng ta coi chiều kích thiêng liêng là những gì cần phải hiện diện cho việc phát triển trở thành chân thực. Nó đòi phải có những cặp mắt mới và một con tim mới, có khả năng vượt lên trên một thứ nhãn quan duy vật về các biến cố của con người, có khả năng thoáng thấy nơi việc phát triển “cái ngoại biên” không thể cống hiến bởi kỹ thuật. Nhờ theo đuổi đường lối này mới có thể thực hiện việc phát triển toàn vẹn con người theo chiều hướng thúc đẩy của bác ái trong chân lý.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/encyclicals/documents/hf_ben-xvi_enc_20090629_caritas-in-veritate_en.html

(nhöõng choã ñöôïc in ñaäm leân laø do töï yù cuûa ngöôøi dòch trong vieäc laøm noåi baät nhöõng ñieåm chính yeáu quan troïng)